BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA Y DƯỢC
TỶ LỆ SUY DINH DƯỠNG Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI VÀ
MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI HAI XÃ THUỘC
HUYỆN KRÔNG PẮC -TỈNH ĐẮK LẮK NĂM 2010
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y KHOA
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA Y DƯỢC
TỶ LỆ SUY DINH DƯỠNG Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI VÀ
MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI HAI XÃ THUỘC
HUYỆN KRÔNG PẮC -TỈNH ĐẮK LẮK NĂM 2010
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y KHOA
Người hướng dẫn đề tài: Thạc sĩ–Bác sĩ .Trần Thị Thanh
2.3.2.5.Các biến số chính.....................................................................23
2.4. Phương pháp thu thập số liệu........................................................................23
2.4.1. Thu thập số liệu về tình trạng dinh dưỡng của trẻ.................................23
2.4.1.1. Phương pháp tính tuổi.............................................................23
2.4.1.2. Xác định chỉ số cân nặng........................................................23
2.4.2. Thu thập số liệu về các yếu tố liên quan tới tình hình SDD..................24
2.5. Kỹ thuật chẩn đoán SDD..............................................................................24
2.6. Xử lý và phân tích số liệu.............................................................................25
2.6.1.Công cụ và lựa chọn thống kê xử lý số liệu...........................................25
2.6.2. Khống chế các sai số thường gặp..........................................................25
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..............................................................26
3.1. Tỉ lệ SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi ở 2 xã Hòa Đông và EaKnuêc.....................26.
3.1.1. Tình hình dinh dưỡng chung tại 2 xã khảo sát......................................26
3.1.2. Tỉ lệ SDD chung ở 2 xã........................................................................27
3.1.3. Tỉ lệ SDD theo dân tộc.........................................................................28
3.1.4. Tỉ lệ SDD theo mức độ.........................................................................29
3.1.5. Tỉ lệ SDD theo nhóm tuổi.....................................................................30
3.1.6. Tỉ lệ SDD theo nhóm tuổi giữa dân tộc kinh và dân tộc thiểu số..........30
3.1.7. Tỉ lệ SDD theo giới tính.......................................................................31
3.2. Một số yếu tố ảnh hưởng tới tỉ lệ SDD.........................................................32
3.2.1. Độ tuổi của mẹ lúc sinh với tỉ lệ SDD..................................................32
3.2.2. Cân nặng của trẻ lúc sinh với tỉ lệ SDD................................................33
3.2.3. Yếu tố sinh thiếu tháng với tỉ lệ SDD...................................................34
3.2.4. Tình hình nuôi con 6 tháng đầu với tỉ lệ SDD......................................35
3.2.5. Thời điểm bắt đầu ăn bổ sung với tỉ lệ SDD.........................................36
3.2.6. Loại thực phẩm ăn bổ sung với tỉ lệ SDD.............................................37
3.2.7. Kiêng ăn khi bị bệnh với tỉ lệ SDD.......................................................38
3.2.8. Tiêm chủng với tỉ lệ SDD.....................................................................39
3.2.9. Trình độ học vấn của mẹ với tỉ lệ SDD.................................................40
tự.
Bảng 3.1
Tỉ lệ SDD chung ở 2 xã.
27
Bảng 3.2
Tỉ lệ SDD theo dân tộc.
28
Bảng 3.3
Tỉ lệ SDD theo mức độ.
29
Bảng 3.4
Tỉ lệ SDD theo nhóm tuổi.
30
Bảng 3.5
Tỉ lệ SDD theo nhóm tuổi giữa dân tộc Kinh và dân tộc
35
Thời điểm ăn bổ sung với tỉ lệ SDD.
36
Loại thực phẩm ăn bổ sung với tỉ lệ SDD.
37
Kiêng ăn khi bị bệnh với tỉ lệ SDD.
38
Mối quan hệ giữa tiêm chủng với tỉ lệ SDD.
39
Trình độ học vấn của mẹ với tỉ lệ SDD.
40
Được nghe về bệnh SDD với tỉ lệ mắc ở trẻ.
41
3.10
Bảng
3.11
Tỉ lệ các bà mẹ hiểu về tác hại của SDD.
44
Hiểu biết của các bà mẹ về phòng ngừa SDD cho con.
44
Bảng
Tỉ lệ các cách tiếp cận GDSK của những bà mẹ được nghe
44
3.23
về SDD.
3.17
Bảng
3.18
Bảng
3.19
Bảng
3.20
Bảng
3.21
Bảng
3.22
29
Biểu đồ 3.5
Tỉ lệ SDD theo nhóm tuổi giữa dân tộc Kinh và dân tộc
31
thiểu số.
Biểu đồ 3.6
Độ tuổi của mẹ với tỉ lệ SDD.
32
Biểu đồ 3.7
Cân nặng lúc sinh với tỉ lệ SDD.
33
Biểu đồ 3.8
Yếu tố sinh thiếu tháng với tỉ lệ SDD.
34
Biểu đồ 3.9
Trình độ học vấn của mẹ với tỉ lệ SDD.
40
Biểu đồ 3.15
Số con trong gia đình với tỉ lệ SDD.
42
Biểu đồ 3.16
Số thứ tự của con trong gia đình với tỉ lệ SDD.
43
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số thứ
Tên hình
Trang
tự
Hình 1.1
Diễn biến SDD qua các năm 1999-2009.
24
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1
ABS
: Ăn bổ sung.
2
Cs
: Cộng sự
3
GDP
: Gross Domestic -Tổng sản phẩm quốc nội.
4
GDSK
: Giáo dục sức khỏe
5
của Hoa Kỳ
10 NXB
: Nhà xuất bản
11 PEM
: Protein Energy Malnutrition-Thiếu Protein năng lượng
12 SD
: Standard devitation-Độ lệch chuẩn.
13 SDD
: Suy dinh dưỡng
14 TC
: Tiêm chủng
15 Tr
: Trang
16 UNICEFF
: United Nations Children’s Fund- Quỹ bảo trợ nhi đồng
của Liên Hợp Quốc.
D
inh dưỡng là một yếu tố có vai trò quan trọng hàng đầu đối với sức khỏe
con người nói chung và trẻ em nói riêng, đặc biệt là giai đoạn từ 0 đến 60
tháng tuổi, giai đoạn trẻ phát triển mạnh mẽ nhất. Thiếu dinh dưỡng sẽ ảnh
hưởng tới quá trình phát triển thể chất, tinh thần, vận động của trẻ làm cho trẻ dễ
mắc các bệnh nhiễm khuẩn nặng và có nguy cơ dẫn tới tử vong. Suy dinh dưỡng
(SDD) là một tình trạng bệnh lý thường gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi do thiếu các
chất dinh dưỡng đặc biệt là protein, và chất béo. SDD đang là một trong số các
vấn đề sức khỏe được ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt
là các nước kém và đang phát triển. Ở Việt Nam, Đảng và nhà nước ta luôn coi
trọng nhân tố con người là nhân tố hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế
xã hội do đó, vấn đề cải thiện tình trạng SDD và giảm tỉ lệ SDD ở trẻ em là một
mục tiêu được ghi nhận trong Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ X. Chính vì thế
mà trong suốt những năm qua, ngành Y tế đã và đang chú trọng triển khai các
hoạt động phòng chống, làm giảm tỉ lệ SDD ở đối tượng trẻ em dưới 5 tuổi.
Theo ước tính của Tổ Chức Y Tế thế giới (WHO), qua phân tích các
trường hợp tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển thì có đến 54
% có liên quan tới SDD (1995), và thậm chí đến 60% (2004). Cũng theo WHO
(2007) có khoảng 500 triệu trẻ em bị SDD ở các nước đang phát triển gây tử
vong đến 10 triệu ca mỗi năm [1], [10], [28].
Tại nước ta trong những năm qua nhờ sự nỗ lực của chương trình phòng
chống SDD chúng ta đã làm thấp tỉ lệ này đến mức đáng kể. Thực vậy, nếu vào
năm 1999 là 36.7% và năm 2000 là 33,8%, tới năm 2005 là 25.2% và hai năm
gần đây là 19.9% (2008) và 18.9% (2009) [32].
Tuy nhiên, chuyên gia hàng đầu thế giới và Việt Nam về dinh dưỡng đã
cảnh báo rằng “Tỉ lệ SDD và thiếu vi chất ở trẻ em Việt Nam vẫn được xếp vào
loại cao nhất thế giới”. Đối với khu vực Tây Nguyên tỉ lệ SDD năm 2009 là
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Sơ lược về lịch sử bệnh suy dinh dưỡng protein-năng lượng [5], [12], [35].
Suy dinh dưỡng Protein –Năng lượng là một bệnh lý xảy ra khi chế độ ăn
nghèo protein và năng lượng kèm theo tác động của bệnh nhiễm trùng. Bệnh rất hay
gặp ở trẻ em các nước đang phát triển.
Bệnh đã xuất hiện và đã được tìm hiểu, mô tả rất lâu trong lịch sử bệnh của Y
khoa.
Từ năm 1908 Correa gọi SDD là “bệnh rắn nhỏ” vì những đứa trẻ mắc bệnh
có cơ thể nhỏ bé và da lằn màu sậm lẫn màu nhạt như da rắn.
Vào năm 1926 Normet đã mô tả rất sớm căn bệnh này với tên Bouffisure
(mắt trẻ bị phù trông bạnh ra) ở An Nam, bệnh gặp rất nhiều ở Trung bộ Việt Nam
trước những công trình nghiên cứu của người Anh ở Biển Vàng (Ghana 1930-1933).
Năm 1931, một bác sĩ người Anh Cicely Williams đã dùng thuật ngữ
Kwashior (từ một bộ lạc ở Ghana, có nghĩa là bệnh của đứa trẻ khi mẹ có em bé) để
mô tả hội chứng mà trước đó nhầm với Pellagra.
Nhưng mãi sau các khảo sát của Brock và Autret ở nhiều nước Châu Phi
(1951) và Trowell, Davies, Dean ở Uganda (1954) thuật ngữ Kwashior mới được sử
dụng rộng rãi .
Đến năm 1959, Jelife D.B đã dùng thuật ngữ “Thiếu dinh dưỡng proteinnăng lượng” (PEM: protein-Energy-Malnutrition) vì thấy mối liên quan chặt chẽ với
các thể bệnh trên lâm sàng là phù và teo dét.
Tuy nhiên ngày nay, người ta cho rằng tình trạng bệnh lý do thiếu nhiều chất
dinh dưỡng hơn là chỉ đơn thuần là protein và năng lượng. Do đó có thể định nghĩa
một cách đầy đủ rõ ràng như sau:
Suy dinh dưỡng (SDD) là tình trạng bệnh lý thường gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi
(nhất là trẻ em dưới 3 tuổi) do thiếu nhiều các chất dinh dưỡng đặc biệt là chất đạm
và chất béo làm ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất-tầm thần-trí tuệ của trẻ [6],[28].
1.2. Tình hình về SDD trên thế giới, ở khu vực Châu Á và Việt Nam.
4
5
xuống còn rất chậm 1990 (38%) tới 2008 (34%). [18]
Vào ngày 3/5/2006 tại Hà Nội, báo cáo của UNICEFF với tên gọi “Tiến bộ
cho trẻ em” đã nhận định hai khu vực đó là: Đông Nam Á, Thái Bình Dương (khu
vực1), Châu Mỹ La Tinh, CariBe (khu vực 2) đã đạt được mục tiêu Thiên Niên Kỷ
(MDG) về giảm tỉ lệ SDD. Cụ thể tỉ lệ SDD ở khu vực 1 giảm là 15% và khu vực 2
giảm là 7%. Báo cáo trên cũng khẳng định Việt Nam giảm tỉ lệ SDD/ năm đứng thứ
3 trong khu vực Châu Á sau Trung Quốc và Malayxia. Tuy nhiên tỉ lệ SDD của Việt
Nam còn rất cao trong khu vực: 23.4% (2006), trong khi đó là 8% ở Trung Quốc,
11% ở Malayxia, và 13% ở Mông Cổ [4].
1.2.3. Tình hình SDD tại Việt Nam.
Năm 2006, theo đánh giá của UNICEFF trong khu vực Châu Á-Thái Bình
Dương, Việt Nam là quốc gia duy nhất có tỷ SDD giảm nhanh nhất mỗi năm trung
bình khoảng 2%, tỉ lệ SDD ở Việt Nam đã giảm một cách đáng kể trong 2 thập kỷ
từ 51.2% năm 1985 xuống 25.2% năm 2005. [4],[32]
Tuy vậy, vào ngày 17/1/2008 tại Hà Nội các chuyên gia hàng đầu về dinh
dưỡng quốc tế và Việt Nam đã đưa ra những cảnh báo về tình trạng SDD bà mẹ và
trẻ em Việt Nam hiện nay. Theo TS Jennifer Bryce-Trường ĐH Johns Hopkin
Blooberg: “Tỷ lệ suy dinh dưỡng và thiếu vi chất ở trẻ em VN xếp vào loại cao nhất
thế giới, 90% trẻ SDD thấp còi trên thế giới tập trung ở các nước nghèo, trong đó
có VN” [13].
Theo thống kê của Viện Dinh Dưỡng quốc gia tình hình SDD trẻ em dưới 5
thể nhẹ cân ở các khu vực trong cả nước theo các mức độ năm 2009 và 2010 như
sau [32].
Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi theo các mức độ - 2009
Prevelence of undernutrition by severity, 2009, by 7 ecological region.
2.1
0.1
13128
16.7
15.7
1.0
0
19684
22.3
19.9
2.3
0.1
9053
22.9
21.2
1.6
0.1
18418
18.7
16.8
1.9
0
Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi theo các mức độ - 2010
Prevelence of undernutrition by severity, 2010, by 6 ecological region.
Tỉnh, thành phố
Toàn quốc
N
SDD cân/tuổi (%)-Underweight
Độ III
Chung
Độ I
Độ II
Very
Total Moderate Severe
0.3
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung
Tây Nguyên
20920
19.8
17.6
2.0
0.2
7207
24.7
20.6
3.6
0.5
Đông Nam Bộ
8929
10.7
làm hạ SDD trước 2 năm. Qua 10 năm nhờ thực hiện tốt chương trình phòng chống
SDD (2000-2009), mỗi năm gần 2% trẻ em thoát khỏi tình trạng SDD.
Hình 1.1. Diễn biến SDD qua các năm 1999-2009
(Nguồn )
Tuy nhiên, tỉ lệ SDD ở trẻ em vẫn còn có sự khác biệt rất lớn giữa các vùng.
Cụ thể, tỉ lệ SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi thể nhẹ cân ở khu vực Tây Nguyên là cao
nhất nước trong cả 2 năm 28.5% (2009) và 24.7% (2010), trong khi đó tỉ lệ này ở
khu vực Đông Nam Bộ là 16.4% (2009) và 10.7% (2010) là khu vực có tỉ lệ SDD
thấp nhất nước. Ngay ở các tỉnh khác nhau, nhất là giữa khu vực nông thôn và thành
thị cũng có sự chênh lệch khá lớn về tỉ lệ SDD.
Năm 2009, tỉ lệ SDD thấp nhất nước tập chung ở các thành phố lớn như Hà
Nội: 12.6%, Đà Nẵng: 9.9%, Tp.HCM: 12.6%, vẫn còn rất cao ở KonTum: 29.5%,
Đắk Nông: 29.4%, Lào Cai: 27.5% [32].
Năm 2010, sự chênh lệch này vẫn không thay đổi cụ thể Hà Nội: 10.8%, Đà
Nẵng: 7.8%, Tp.HCM: 6.8%, và KonTum vẫn là 28.3%, Đắk Nông: 26.9%, Lào
Cai: 26% [32].
Mặc dù tỉ lệ SDD ở khu vực Tây Nguyên hiện nay vẫn là cao nhất nước
28.5% (2009) và 24.7% (2010) song để đạt được con số như trên đã là sự nỗ lực rất
lớn của các ban ngành đặc biệt là là ngành Y tế. Nhờ triển khai các chương trình
phòng chống SDD, chúng ta đã làm hạ thấp tỉ lệ này từ các con số rất cao 49.1% (1999),
40.2% (2002), 34.5% (2005), 28.5% (2009), 24.7% (2010). Riêng đối với tỉnh Đắk Lắk
tỉ lệ SDD cũng còn khá cao: 28.4% (2009), 27% (2010) đứng sau Kon Tom: 29.5%
(2009), 28.3% (2010) [32].
8
Vào ngày 28/02/2009 tại xã EaYông, Trung tâm Y tế Dự phòng huyện Krông
Pắc tổ chức hội nghị tổng kết hoạt động triển khai “Dự án Dinh dưỡng Việt Nam –
rối loạn tiêu hóa, đồng thời không tận dụng được nguồn sữa mẹ.
o Ăn bổ sung quá muộn (sau 6 tháng), trẻ sẽ dễ bị xanh xao, còi cọc vì
lúc này dinh dưỡng từ mẹ đưa vào bắt đầu giảm và không đủ nhu cầu
dinh dưỡng của trẻ.
-
Trẻ bị ốm không ép cho trẻ ăn, mà kiêng ăn quá mức.
1.3.1.2.Các nguyên nhân do nhiễm khuẩn.
9
-
SDD thường gặp ở những trẻ sau khi bị các bệnh nhiễm khuẩn như: Viêm
Phổi, tiêu chảy, Lao, nhiễm giun…
-
Trẻ không được chủng ngừa theo lịch, nhất là đối với các bệnh bắt buộc.
Hiện nay đã thấy rõ SDD và nhiễm khuẩn có mối liên hệ trong cộng đồng.
SDD làm tăng tính cảm thụ đối với nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn làm nặng hơn
mức độ SDD.
Hình 1.2. Mối quan hệ giữa SDD và nhiễm khuẩn
(Nguồn )
1.3.2. Các yếu tố thuận lợi.
Nguyên nhân:
-
Mẹ tăng cân ít trong thời gian mang thai do chế độ dinh dưỡng kém.
-
Mẹ mắc các bệnh mãn tính trong thời gian mang thai (tim mạch, phổi, thiếu
máu, suy dinh dưỡng …)
Lâm sàng: Suy dinh dưỡng bào thai có 3 mức độ
-
Nhẹ: Cận nặng giảm
chân mông… với đặc điểm.
Có thể là chấm hoặc nốt hoặc tập chung thành từng mảng to, nhỏ
không đồng đều.
Thay đổi từ màu: Đỏ nâu nâu đen.
11
Đây là những vùng da có nhiều sắc tố melanin, do da thiếu dinh
dưỡng bị khô, bong vẩy dễ bị hăm đỏ, lở loét.
-
Tóc thưa dễ rụng có màu hung đỏ, móng tay mền, dễ gẫy.
-
Trẻ ăn kém, nôn trớ, ỉa phân sống, lỏng và có nhầy mỡ.
-
Gan to thoái hóa mỡ, loãng xương do thiếu Vitamin D và Calci và có thể tổn
thương nhiều cơ quan khác…
12
-
Cân nặng còn dưới 60 % (-4SD).
-
Trẻ gầy đét, da bọc xương, vẻ mặt như cụ già do mất toàn bộ lớp mỡ dưới da
bụng, mông, chi má.
-
Cơ nhẽo làm ảnh hưởng tới sự phát triển vận động của trẻ.
-
Tinh thần mệt mỏi, ít phản ứng với ngoại cảnh, hay quấy khóc không chịu
chơi.
-
Trẻ kém ăn, rối loạn tiêu hóa, ỉa phân sống.
-
Gan to hoặc bình thường.
Hình 1.4. SDD thể teo dét MARASMUS.
lệch chuẩn SD (Standard Dervation).
Sau đó để nhận định các kết quả này, ta chọn một quần thể tham chiếu để so
sánh. Thực tế đã có nhiều bằng chứng cho rằng trẻ em dưới 5 tuổi nếu được nuôi
dưỡng tốt thì có thể đạt được các kích thước gần như nhau mà không phụ thuộc vào
giống nòi, chính vì vậy mà WHO khuyến nghị dùng quần thể tham khảo NCHS
(National Center of Health Statiscics) của Hoa Kỳ để nhận định tình trạng SDD của
trẻ em. Điều này không có nghĩa đây là một quần thể đạt chuẩn mà chỉ là công cụ
đối chiếu để lượng giá tình hình và so sánh trên phạm vi quốc tế. Cụ thể trong cộng
đồng chúng ta, đánh giá tình trạng SDD như sau:
1.4.2.1. Cân nặng theo tuổi (W/A): Là chỉ số được dùng sớm và phổ biến nhất. Trẻ
có W/A thấp là trẻ bị SDD chung, không phân được SDD mãn tính hay cấp tính,
trường hợp này còn được gọi trẻ nhẹ cân (Underweight) thể nhẹ cân. Ta có các
đánh giá
- Theo tác giả GOMEZ (1956).
W/A
80 % chuẩn
71- 80 % chuẩn
61- 70 % chuẩn
60 % chuẩn
- Dựa vào phân bố thống kê:
Đánh giá
Trẻ bình thường
Trẻ SDD nhẹ.
Trẻ SDD vừa.
Trẻ SDD nặng.
Thường lấy âm 2 lần độ lệch chuẩn -2SD chỉ số trung bình của quần thể tham chiếu
làm giới hạn ngưỡng (Cut off point). Khi số liệu điều tra thấp hơn -2SD so với giá
trị của trẻ cùng tuổi, cùng giới thì gọi là SDD. Từ đó ta có thang phân độ SDD như
Đánh giá
Trẻ bình thường
Trẻ SDD nhẹ.
Trẻ SDD vừa.
Trẻ SDD nặng.
- Dựa vào phân bố thống kê.
Chỉ số
Mức độ
Từ dưới -2SD đến -3SD SDD độ I
(Thể vừa )
Từ dưới -3SD
SDD độ II
(Thể
nặng)
1.4.2.3. Cân nặng theo chiều cao (W/H): Cân nặng theo chiều cao phản ánh trọng
lượng với cơ thể, chỉ số này thấp là hậu quả của một quá trình cấp tính và nặng dẫn
tới mất cân bằng đáng kể, thường là đói cấp tính hoặc bệnh nặng. Trẻ có W/H thấp
gọi trẻ SDD cấp (Current Protein Energy Malnutrition) hay gầy mòn (Wasting). Thể
gầy mòm.
-Theo tác giả GOMEZ (1956)
W/H
-Tính theo SD
Đánh giá
71-80 % chuẩn Trẻ SDD nhẹ.
Thấp
< 20
Trung bình
20-29
Cao
30-39
Rất cao
40
Thấp còi
< 10
10-19
20-29
30
Gầy còi
kéo dài nhiều ngày, gây sụt cân và giảm chiều cao: W/H