Nghiên cứu bệnh quanh răng ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 tại bệnh viện nội tiết trung ương và đánh giá hiệu quả can thiệp - Pdf 19

Bộ giáo dục v đo tạo bộ y tế
Trờng đại học y h nội

[\

Nguyễn Xuân Thực
Nghiên cứu bệnh quanh răng
ở bệnh nhân đái tháo đờng týp 2
tại bệnh viện nội tiết trung ơng
v đánh giá hiệu quả can thiệp Luận án tiến sỹ y học

H Nội - 2011

1
đặt vấn đề
Bệnh quanh răng (QR) đã đợc ghi nhận và mô tả từ thời Hypocrat.
Bệnh có nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh rất phức tạp, bao gồm hai loại
tổn thơng chính: tổn thơng khu trú ở lợi và tổn thơng toàn bộ tổ chức
quanh răng. Quá trình bệnh lý biểu hiện bằng tổn thơng viêm và tổn
thơng thoái hóa. Cuối cùng, dẫn đến hậu quả mất răng, gây ảnh hởng rất
lớn đến thẩm mỹ và chức năng ăn nhai của ngời bệnh. Bệnh QR tiến triển
âm thầm, nặng lên bởi các đợt cấp và cho tới nay vẫn cha có biện pháp dự
phòng và điều trị đặc hiệu [
15].
Đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX, khi nghiên cứu dịch tễ học trên
quy mô lớn về bệnh đái tháo đờng (ĐTĐ) ở bang Arizona - Mỹ, nơi có tỷ lệ
mắc ĐTĐ týp 2 cao nhất thế giới, sau khi đã điều chỉnh các yếu tố nhiễu nh
tuổi, giới, tình trạng vệ sinh răng miệng, trình độ học vấn và điều kiện kinh tế
xã hội các nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận ĐTĐ týp 2 là một yếu tố nguy
cơ của bệnh QR [
46], [50], [57].
Việc phát hiện ĐTĐ týp 2 và bệnh QR có mối tơng quan với nhau, đã
làm thay đổi quan niệm cũ về bệnh sinh của bệnh QR. Các hớng nghiên cứu
mới tập trung vào việc xác định các yếu tố nguy cơ của bệnh QR, đồng thời
công tác dự phòng và điều trị cũng có những thay đổi khi đã chú ý hơn tới việc
làm thay đổi các yếu tố nguy cơ có thể ảnh hởng tới sự nhậy cảm của cơ thể
trớc sự tấn công của các mầm bệnh QR.
Trong thực tế, ĐTĐ là căn bệnh không lây có tốc độ phát triển nhanh
nhất trong những năm đầu của thế kỷ XXI. Bệnh cũng đợc xem là "đại dịch"
ở các nớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Theo thông báo của Hiệp
hội đái tháo đờng quốc tế thì năm 2000, toàn thế giới có 151 triệu ngời mắc

2. Xác định một số yếu tố (tuổi, giới, vệ sinh răng miệng, thời gian
phát hiện mắc đái tháo đờng, HbA1c và lipid máu) ảnh hởng
đến bệnh quanh răng ở bệnh nhân đái tháo đờng týp 2.
3. Đánh giá hiệu quả can thiệp bệnh quanh răng ở đối tợng
nghiên cứu. 3
Chơng 1
Tổng quan ti liệu

1.1. Những hiểu biết hiện nay về bệnh quanh răng.
Loài ngời đã phát hiện ra bệnh QR từ trớc công nguyên. Hypocrat đã
coi bệnh này là bệnh chảy máu lợi. Năm 1850 Pare đã lần đầu tiên mô tả bệnh
QR. Năm 1746 Fauchard đã xác định về mặt lâm sàng của bệnh QR. Năm
1920, Fones là ngời xác nhận bệnh QR một cách đầy đủ. Kể từ đó tới nay
bệnh QR luôn đợc các tác giả trên khắp thế giới chú ý nghiên cứu [
15].
1.1.1. Sinh bệnh học bệnh quanh răng.
Từ lâu các nhà khoa học đã nhận thấy có sự phản ứng qua lại phức tạp
của các yếu tố toàn thân, tại chỗ, cũng nh ngoại cảnh đối với sự hình thành
và phát triển của bệnh QR [
6], [15].
Những năm 1960 trở lại đây ngời ta thấy nổi lên vai trò của vi khuẩn với
các men và độc tố là mắt xích đầu tiên trong quá trình phá huỷ tổ chức QR.
Năm 1965, Loở đã chứng minh ảnh hởng của mảng bám răng (MBR) tới
viêm lợi. Năm 1975, Liondhe đã chứng minh sự liên quan từ viêm lợi dẫn tới
viêm quanh răng ở chó.
Rosling (1976) và Soaerholm (1979) cũng kết luận: nếu kiểm soát đợc
MBR và vệ sinh răng miệng (VSRM) tốt sẽ làm cho bệnh QR ổn định, xơng

miệng có tác dụng sát khuẩn, làm tiêu vi khuẩn bằng các enzym, đại thực
bào và globulin.
; Miễn dịch đặc hiệu bao gồm:
o Miễn dịch dịch thể: là điều kiện để tạo thành những kháng thể của các
globulin miễn dịch đóng vai trò quan trọng trong bệnh QR. Những

5
kháng thể này sẽ kết hợp với kháng nguyên để tạo thành phức hợp
kháng nguyên - kháng thể, do đó kháng nguyên đợc trung hoà.
o Miễn dịch tế bào: là đáp ứng miễn dịch chậm thông qua vai trò của
các lymphocyte.
Trong những năm gần đây qua các nghiên cứu dịch tễ học lâm sàng
hiện đại, các nhà khoa học đã chứng minh đợc bệnh QR còn chịu nhiều ảnh
hởng của các yếu tố nguy cơ. Các yếu tố nguy cơ này ảnh hởng đến quá
trình phát sinh, phát triển và mức độ trầm trọng của bệnh QR. Mặt khác, cũng
có những bằng chứng thuyết phục cho thấy bệnh QR làm gia tăng nguy cơ đối
với các bệnh toàn thân khác, chẳng hạn nh: bệnh tim mạch, bệnh phổi, đẻ
thiếu cân và đặc biệt là ĐTĐ týp 2 [
111].
Sức khoẻ răng miệng (SKRM) có liên quan tới sức khoẻ toàn thân.
Không có SKRM tốt sức khoẻ toàn thân cũng bị tổn hại. Do đó, việc phòng
ngừa và điều trị bệnh QR là hết sức cần thiết để duy trì SKRM nói chung và
sức khoẻ QR nói riêng.
Quan điểm ngày nay về xử trí bệnh QR bao gồm cả việc dự phòng cấp
một và dự phòng cấp hai. Đặc biệt nhấn mạnh việc điều trị bệnh hiện tại, để
giải quyết nhiễm khuẩn QR và thay đổi hoặc loại bỏ các yếu tố nguy cơ đợc
cho là có thể làm tăng tính nhậy cảm của cơ thể đối với sự nhiễm khuẩn tiên
phát hoặc thứ phát các mầm bệnh QR.
1.1.2. Các chỉ số thờng dùng trong nghiên cứu bệnh QR.
- Chỉ số vệ sinh miệng đơn giản OHI-S (Simplified Oral Hygiene Index)

với nữ giới. Tuy nhiên, cũng trong một phân tích dựa trên cơ sở dữ liệu trên,
khi đã điều chỉnh về tình trạng VSRM, điều kiện kinh tế xã hội, tuổi tác và số
lần khám nha sỹ, ngời ta thấy rằng nam giới vẫn có tình trạng QR nặng hơn
nữ giới [
57].
Cuối cùng các nhà nghiên cứu cho rằng có thể do sự tác động của hoóc-
môn nữ estrogen. Hoóc-môn này đóng vai trò bảo vệ chống lại sự phá huỷ tổ

7
chức xơng QR, đây có thể là lý do khiến bệnh QR ở nữ giới lại nhẹ hơn ở
nam giới [
123].
1.2.1.3. Chủng tộc.
Nhiều nghiên cứu phân tích số liệu, sau khi đã điều chỉnh các yếu tố
nhiễu nh điều kiện kinh tế xã hội, hút thuốc lá, VSRM thì không tìm thấy
có mối liên quan về bệnh QR với yếu tố chủng tộc.
Các nhà nghiên cứu thấy rằng tuy ngời Mỹ da đen và ngời Mỹ da
trắng có khác nhau về một số yếu tố nguy cơ nhng nếu ở cùng một nhóm
kinh tế xã hội thì sự khác biệt về bệnh QR cũng không còn. Mặt khác, khi
ngời da trắng và ngời da đen có tình trạng VSRM nh nhau thì bệnh QR
cũng giống nhau [
57], [123].
1.2.2. Các yếu tố về xã hội.
1.2.2.1. Điều kiện kinh tế.
Theo các báo cáo tổng kết thì bệnh QR có tỉ lệ toàn bộ ở châu á, châu
Phi cao hơn hẳn ở châu Âu, châu úc và nớc Mỹ. Ngời ta cũng cho rằng ở
những nơi có đời sống vật chất đầy đủ và văn hoá cao thì ý thức chăm sóc răng
miệng tốt hơn, bệnh QR cũng vì thế mà giảm đi.
1.2.2.2. Stress và các rối loạn tâm thần.
Từ đầu những năm 50 của thế kỷ XX, các nhà khoa học đã chứng minh

hiện diện và mức độ tập trung của xoắn khuẩn Spirochetes cũng làm gia tăng
nguy cơ cho bệnh QR. Tuy nhiên, ngời ta nhận thấy rằng Spirochetes chỉ
tăng cao ở các bệnh nhân có VSRM kém. Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng
A. actinomicetemcomitans có liên quan mật thiết với bệnh QR ở ngời trẻ tuổi
[
136]. Một số nghiên cứu khác thấy rằng sự vắng mặt của A.
actinomicetemcomitans, P. intermedia, P. gingivalis đợc coi là một dấu hiệu
tốt cho sức khoẻ QR [
86]. 9
1.2.3.1.2. Mảng bám răng và cao răng.
* Mảng bám răng.
MBR còn đợc gọi là mảng bám vi khuẩn. Sự hình thành mảng bám vi
khuẩn thờng trải qua 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu là hình thành màng vô khuẩn
có nguồn gốc nớc bọt, do men carbohydrase hay men neuraminidase tác
động lên acide sialic của mucin nớc bọt, làm cho nó kết tủa lắng đọng trên
bề mặt răng. Trên đó vi khuẩn sẽ xâm nhập và giai đoạn hình thành mảng bám
vi khuẩn thực sự bắt đầu. Hai ngày đầu tiên, mảng bám chủ yếu là các cầu
khuẩn và trực khuẩn Gram (+), ngày thứ t có thoi xoắn khuẩn, ngày thứ bảy
có vi khuẩn hình sợi Gram (-), ngày thứ chín xuất hiện xoắn trùng, đến ngày
thứ hai mơi mốt mảng bám vi khuẩn hoàn thiện với tỉ lệ 45 -75% vi khuẩn
Gram (-) (theo Lisgarten - 1976).
Theo vị trí, ngời ta chia ra MBR trên lợi và MBR dới lợi. MBR đợc
coi là tác nhân ngoại lai quan trọng nhất trong bệnh sinh bệnh QR. MBR có
khả năng gây hại cho vùng QR bởi hai cơ chế tác động:
Tác động trực tiếp: thông qua các men và nội độc tố. Men làm mềm yếu
sợi keo, phân huỷ tế bào, làm bong tách nhiều mô dính dẫn tới viêm. Nội độc
tố gây ra sự tiết prostaglandine làm tiêu xơng ổ răng.

89]. Trong một
nghiên cứu khác, Van Schie và đồng nghiệp đã chứng minh kết hợp kiểu gien
FcRIIA-H/H131 và FcRIIIB-NA2/NA2 tăng lên ở nhóm có bệnh QR so với
nhóm chứng (18,8% so với 3,8%), trong khi đó kết hợp kiểu gien FcRIIA-
R/H131 và FcRIIIB-NA2/NA2 lại giảm ở nhóm có bệnh QR (6,3%) so với nhóm
chứng (22,9%). Nghiên cứu cũng kết luận do có sự giảm ốp-sô-nin hoá, qua kết
hợp kiểu gien, cuối cùng làm suy yếu khả năng thực bào những vi khuẩn gây bệnh
QR ở những cá thể mang những thụ thể vừa nêu [
131].

11
1.2.4. Các thói quen có hại.
1.2.4.1. Chế độ ăn uống mất cân đối.
Chế độ ăn uống hợp lí, đầy đủ dỡng chất đóng vai trò quan trọng trong
việc duy trì sức khoẻ toàn thân nói chung và sức khoẻ răng miệng nói riêng.
Trong khẩu phần ăn hàng ngày, nếu thiếu hụt các vitamin và chất khoáng, đặc
biệt là can-xi và vitamin C sẽ là một yếu tố nguy cơ cho bệnh QR.
1.2.4.1.1. Thiếu hụt can-xi.
Một phân tích gần đây dựa trên số liệu của NHANES III (1988 - 1992)
(National Health and Nutrition Examination Survey - USA) chỉ ra rằng những
ngời có khẩu phần ăn với hàm lợng can-xi thấp có bệnh QR nhiều hơn so
với nhóm ngời có khẩu phần ăn với hàm lợng can-xi đầy đủ [
97].
1.2.4.1.2. Thiếu hụt vitamin C.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh vitamin C đóng một vai trò quan
trọng trong việc duy trì sức khoẻ của lợi. Trên thực tế, sự thiếu hụt vitamin C
một cách nghiêm trọng có thể gây nên căn bệnh viêm lợi đợc gọi là viêm lợi
- scorbut.
Cũng từ các số liệu của NHANES III (1988 - 1992), một nghiên cứu
nhằm đánh giá mối liên quan giữa thiếu hụt vitamin C và bệnh QR đã đợc

Hút thuốc lá làm giảm sản sinh IgG
2
- một globulin miễn dịch có tác
dụng bảo vệ tổ chức QR [
60], [130].
Ngoài ra, hút thuốc lá có thể ảnh hởng trực tiếp tới tổ chức QR, các sản
phẩm độc có trong thuốc lá có tính độc với tế bào biểu mô lợi, ảnh
hởng đến tế bào tạo sợi, dẫn đến hiện tợng chậm lành thơng [
105].
1.2.5. Các bệnh toàn thân khác.
Hiện nay, các nhà khoa học cũng chứng minh một số bệnh toàn thân có
ảnh hởng tới sự phát sinh và phát triển bệnh QR chẳng hạn nh: bệnh ĐTĐ,
hội chứng Down, hội chứng HIV/AIDS
Mối liên quan giữa bệnh QR và ĐTĐ đã đợc nhiều tác giả trên thế giới
tiến hành nghiên cứu với các qui mô và phơng pháp khác nhau. Thật khó để

13
có thể đa ra một kết luận cuối cùng từ các nghiên cứu này bởi có sự khác biệt
ở cách thiết kế nghiên cứu, đối tợng nghiên cứu, sự thay đổi cách phân loại
bệnh QR và ĐTĐ theo thời gian, sự thay đổi về các phơng pháp chẩn đoán
ĐTĐ và kiểm soát glucose máu, sự khác nhau trong các tiêu chuẩn đánh giá
và tác động của các sai khác trong khi đánh giá bệnh QR.
Một số nghiên cứu trên quần thể nhỏ đã cho rằng ĐTĐ có ảnh hởng ít
tới sự phổ biến, mức độ nặng của bệnh QR. Tuy nhiên, khi sử dụng các phơng
pháp nghiên cứu dịch tễ học lâm sàng hiện đại trên những quần thể lớn, các nhà
khoa học đã chứng minh ĐTĐ là một yếu tố nguy cơ cho bệnh QR.
1.3. một số biện pháp dự phòng bệnh quanh răng.
Dự phòng bệnh QR tập trung vào việc giảm thiểu và loại trừ những yếu tố
bệnh căn tham gia vào quá trình sinh bệnh. Những biện pháp này đợc xếp
vào hai nhóm chính:

răng, chống viêm lợi, chống nhậy cảm răng, làm trắng răng [
24].
Có rất nhiều phơng pháp chải răng khác nhau. Chẳng hạn nh: phơng
pháp Stillman, phơng pháp Charter, phơng pháp Leonard, phơng pháp
Smith Tuy nhiên, đa số các chuyên gia đều cho rằng phơng pháp chải răng
của Bass là phù hợp và có hiệu quả nhất [
29], [104]. Phơng pháp này có u
điểm là: (1) dễ dàng làm sạch những mảng bám trên bề mặt răng và lợi, (2)
động tác đơn giản, dễ thao tác và hớng dẫn cho cộng đồng, (3) có tác dụng
xoa nắn lợi một cách nhẹ nhàng.
Các loại bàn chải điện cũng đợc khuyến cáo cho các bệnh nhân ít có
sự khéo léo đối với tay thuận cầm bàn chải và những ngời bị đột quị. Nhiều
nghiên cứu chỉ ra rằng tác dụng làm sạch của bàn chải điện và bàn chải tay là
ngang nhau, đồng thời cũng chỉ ra rằng bàn chải điện cũng không gây mài
mòn răng theo cách nghĩ thông thờng.

15
Tóm lại, việc chải răng phải trở thành thói quen tốt, phải đợc thực hiện
thờng xuyên, đúng phơng pháp để có thể loại bỏ đợc các cặn thức ăn và
mảng bám, giúp cho môi trờng miệng luôn đợc sạch sẽ.
1.3.1.2. Hớng dẫn sử dụng chỉ tơ nha khoa và các dụng cụ hỗ trợ khác.
Chỉ tơ nha khoa và các dụng cụ hỗ trợ khác là cần thiết để lấy bỏ MBR
ở những vị trí mà bàn chải khó vơn tới nh mặt tiếp giáp răng và vùng kẽ lợi.
Trên thị trờng hiện nay có rất nhiều loại chỉ: loại có mùi hoặc không
mùi, loại có sáp hoặc không sáp, dạng băng mỏng hoặc dạng sợi đan. Hầu hết
chỉ tơ nha khoa đợc làm bằng sợi nilon, vài loại mới đợc làm bằng teflon,
polytetra fluoroethylene. Cách sử dụng: cắt một đoạn chỉ dài 45 - 60 cm, quấn
hai đầu sợi chỉ quanh hai ngón tay giữa đủ dài sao cho khi căng ra thì hai đầu
ngón cái chạm nhau (ở t thế xoè ra). Các ngón cái đợc sử dụng để kiểm soát
sợi chỉ khi nó di chuyển qua các điểm tiếp giáp của các răng ở hàm trên. Các

định xem có sự bất thờng nào trong chế độ ăn có khả năng ảnh hởng tới sức
đề kháng của cơ thể hay không [
84].
Hiện nay, các nghiên cứu về bệnh sinh của bệnh QR vẫn tiếp tục đợc
tiến hành theo hớng chuyên sâu về khả năng miễn dịch tự nhiên và cơ chế
phòng vệ của cơ thể. Các mức độ stress trong cuộc sống, các thói quen xấu có
hại cho sức khoẻ nh nghiện rợu, hút thuốc lá, lời vận động cơ thể cũng
đợc coi là những yếu tố có tác động bất lợi tới hệ thống phòng vệ của cơ thể
chống lại các mầm bệnh QR [
42], [124].
Mặt khác, có những bệnh toàn thân đã đợc chứng minh là có liên quan
đến bệnh QR nh: bệnh ĐTĐ, hội chứng Down, hội chứng HIV/AIDS
Những đối tợng này đòi hỏi phải có một chế độ kiểm soát MBR nghiêm ngặt
hơn những ngời bình thờng để phòng bệnh QR.
Tóm lại, để dự phòng bệnh QR cần phải có một cơ thể khoẻ mạnh cả về
thể chất lẫn tinh thần. 17
1.4. Một số biện pháp điều trị bệnh QR.
Bệnh QR là một bệnh có nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh phức tạp. Do
hiểu biết về bệnh còn hạn chế nên cho đến nay bệnh QR vẫn cha có phơng
pháp điều trị đặc hiệu. Tuy vậy, nhiều tác giả đã thống nhất chia việc điều trị
bệnh QR thành các bớc cơ bản nh: điều trị khởi đầu, điều trị túi QR, điều trị
phẫu thuật, điều trị duy trì.
1.4.1. Điều trị khởi đầu.
1.4.1.1. Lấy cao răng và làm nhẵn mặt chân răng.
Từ lâu, ngời ta đã nhận thấy vai trò kích thích tại chỗ của cao răng
trong bệnh QR. Cao răng thờng gây ra viêm lợi, chảy máu lợi, đây cũng là
những triệu chứng ban đầu của của bệnh QR. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy

Piezoelectric với nguyên lý hoạt động chung là áp xung điện lên những lá kim
loại mỏng hoặc những tinh thể thạch anh hay sứ để tạo ra các những rung
động ở đầu mũi lấy cao có tần số 25 - 40 KHz. Các máy lấy cao răng đều có
các đầu lấy cao đợc thiết kế đặc biệt, phần đầu mũi lấy cao theo nhiều hình
dạng khác nhau, nhằm đáp ứng yêu cầu lấy cao răng trên lợi, dới lợi, cho
từng mặt răng và từng nhóm răng.
Cũng nh kỹ thuật lấy cao răng bằng dụng cụ cầm tay, kỹ thuật lấy cao
răng bằng máy siêu âm cũng đòi hỏi các động tác chính xác, tỉ mỉ, dụng cụ
cần đợc cầm chắc và luôn phải có điểm tựa chắc chắn để tránh gây trợt
dụng cụ làm sang chấn tổ chức QR. Cần lấy cao răng tỷ mỷ cho từng răng,
từng nhóm răng. Trong mỗi vùng cũng theo một thứ tự: mặt ngoài, kẽ răng,
mặt trong, mặt nhai. Vùng này xong mới làm tiếp vùng kế cận [
113].
Sau khi lấy cao răng xong, cần thực hiện thủ thuật làm nhẵn mặt chân
răng bằng đài cao su hoặc chổi đánh bóng kết hợp với bột đánh bóng Nupro.
Các nghiên cứu cũng chứng minh rằng thủ thuật này cần phải đợc song hành
cùng với việc lấy cao răng mới đem lại hiệu quả điều trị.
1.4.1.2. Loại bỏ các yếu tố gián tiếp gây bệnh.
- Chỉnh sửa các sai sót trong điều trị nh: răng hàn kênh, hàn thừa, chụp
răng làm sai kỹ thuật.

19
- Chữa các răng sâu và các biến chứng của nó nếu có.
- Nhổ răng có chỉ định: những răng có áp xe QR và tiêu xơng ổ răng
nhiều, răng lung lay độ 3, 4.
- Cố định tạm thời các răng lung lay. Có nhiều cách cố định răng tạm
thời, nhng luôn phải đảm bảo các yêu cầu: dễ làm VSRM, không vớng khi
ăn nhai, phát âm, đồng thời không gây viêm lợi và dễ chấp nhận về thẩm mỹ.
- Mài chỉnh sang chấn khớp cắn: dùng đá mài kim cơng để mài chỉnh
các điểm chạm sớm trong khớp cắn trung tâm và khớp cắn thói quen.

họ Tetracycline còn có tác dụng kháng tổng hợp men tiêu collagen nên chúng
có tác dụng ngăn ngừa sự khởi phát và tiến triển của bệnh QR, viêm khớp,
loãng xơng [
45], [53], [55], [59], [87], [112].
- Metronidazole là loại kháng sinh có tính nhạy cảm cao đối với các vi
khuẩn yếm khí trong miệng, chính vì thế nó cũng đợc sử dụng để điều trị
kết hợp với điều trị cơ học và cho kết quả tốt. Metronidazole 250 mg x 3
lần/ngày x 7 - 10 ngày có hiệu quả tốt trong điều trị bệnh QR tiến triển có túi
lợi > 6 mm [
36], [49].
- Spiramycine cũng là loại kháng sinh thờng đợc kết hợp trong điều trị
cơ học bệnh QR, cho phép làm giảm túi lợi sâu trong bệnh QR nặng.
- Ciprofloxacine: với liều 500 mg x 2 lần/ngày x 7 ngày có hiệu quả tốt
trong điều trị bệnh QR có bội nhiễm vi khuẩn đờng ruột Pseudomonas hay tụ
cầu khuẩn.
- Rodogyl là tên biệt dợc của thuốc kháng sinh tổng hợp do hãng dợc
phẩm Sanofi Aventis sản xuất. Trong thành phần viên thuốc có 750.000 UI
Spiramycine và 125 mg Metronidazole. Hiện nay nó đang đợc coi là thứ thuốc
"đầu tay" của các nha sỹ để điều trị các loại viêm nhiễm vùng răng miệng.
21
1.4.2. Điều trị túi quanh răng.
Trong bệnh QR, do quá trình phá huỷ dây chằng QR và tiêu xơng ổ
răng làm cho biểu mô bám dính ở đáy rãnh lợi dịch chuyển chỗ bám về phía
cuống răng và hình thành nên túi QR. Trong túi QR chứa đựng các chất hoại
tử của tổ chức QR, vi khuẩn và xác của chúng. Việc điều trị túi QR nhằm mục
đích làm sạch các thành phần trên để tạo điều kiện phục hồi xơng ổ răng và
chỗ bám của biểu mô bám dính. Điều trị túi QR thờng đợc tiến hành bằng các

răng phía trớc đơn lẻ, răng cửa và răng nanh trên, dới.
Loại phẫu thuật hớng mục đích dự phòng nh: cắt phanh môi, phanh
niêm mạc.
Theo quan điểm tổ chức học gồm:
Phẫu thuật lợi: thờng đợc áp dụng khi có hiện tợng tiêu xơng
ngang, đáy của túi lợi bệnh lý cao hơn mào xơng ổ răng. Bao gồm các
loại phẫu thuật: nạo túi lợi, cắt lợi, tạo hình lợi.
Phẫu thuật lợi - niêm mạc: bao gồm các phẫu thuật sửa chữa những liên
quan bệnh lý giữa lợi dính và niêm mạc vùng ổ răng nh phẫu thuật cắt
phanh môi, phanh niêm mạc, phẫu thuật làm sâu ngách lợi, ghép lợi tự do.
Phẫu thuật lợi - xơng: đợc áp dụng khi xơng ổ răng tiêu không đều,
ngoài tiêu xơng ngang còn có tiêu xơng vát chéo hình thành túi lợi bệnh
lí trong xơng. Loại này gồm có hai phơng pháp:
- Phẫu thuật lật vạt.
- Phẫu thuật xử trí các tổn thơng xơng: bao gồm các phẫu thuật
loại bỏ tổ chức xơng bệnh lí và các phẫu thuật ghép xơng.
Trong những năm gần đây, một phơng pháp phẫu thuật QR mới đã
xuất hiện, đó là phơng pháp phẫu thuật tái sinh mô có h
ớng dẫn. Nhờ có
phơng pháp này, ngời ta đã dần đạt đến mục tiêu lý tởng của điều trị bệnh
QR là tái tạo toàn bộ những tổn thơng mô QR gồm sự hình thành xơng ổ
răng mới, xơng răng mới và bám dính dây chằng mới.

23
1.4.4. Điều trị duy trì.
Đây là bớc quyết định thành công của điều trị bệnh QR, nếu làm
không tốt bệnh sẽ tái phát nhanh chóng và thờng nặng thêm [
22], [62], [75].
Điều trị duy trì gồm:
- Tiếp tục làm VSRM tốt và thờng xuyên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status