BÀI THU HOẠCH TỐT NGHIỆP Phòng chống bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5
tuổi
TRANG 1
MỤC LỤC
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 3
2.1. Tình hình dịch tễ học. 5
2.1.1.Tình hình bệnh tiêu chảy trên Thế giới: 5
2.1.2.Tình hình bệnh tiêu chảy tại khu vực: 5
2.1.3.Tình hình bệnh tiêu chảy ở Việt Nam: 5
2.1.4.Tình hình bệnh tiêu chảy tại Quảng Nam: 6
2.2. Đặc điểm dịch tễ học 6
2.2.1. Đường lây truyền 6
2.2.2. Các yếu tố nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy 7
2.2.2.1. Yếu tố vật chủ làm tăng tính cảm thụ đối với bệnh tiêu chảy 7
2.2.2.2. Tính chất mùa: có sự khác biệt theo mùa và địa dư 7
2.2.2.3. Những tập quán làm tăng nguy cơ tiêu chảy 7
2.3. Tác nhân gây bệnh 8
2.3.1. Virus. 8
2.3.2. Vi khuẩn. 8
2.3.3. Kí sinh trùng: 9
2.3.4. Nấm 9
2.4. Định nghĩa và phân loại tiêu chảy 9
2.4.1. Định nghĩa tiêu chảy : 9
2.4.2. Phân loại tiêu chảy 10
2.5. Thăm khám trẻ bị tiêu chảy 11
2.5.1. Phân loại tiêu chảy 11
2.5.2. Đánh giá mất nước 11
2.5.2.1. Theo trọng lượng: 11
2.5.2.2. Theo dấu hiệu 12
BÀI THU HOẠCH TỐT NGHIỆP Phòng chống bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5
tuổi
TRANG 3
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ lúc trẻ lọt lòng mẹ tách rời khỏi cơ thể ấm áp của mẹ để sống hoàn toàn với môi
trường bên ngoài. Trẻ luôn bị đe dọa về sức khỏe nếu như không được bảo vệ về mọi
mặt. Thời gian gần đây do thời tiết khí hậu thay đổi bất thường mưa nắng, bão
lũ…thường xuyên xảy ra nên tạo điều kiện thuận lợi cho các loại vi khuẩn, virus, vi
sinh vật phát triển và gây bệnh. Nhất là các bệnh lây qua đường tiêu hóa, trong đó
bệnh tiêu chảy cấp là dễ bùng phát và dễ dàng xâm nhập qua đường thức ăn, phân của
trẻ nhất nên dễ gây bệnh cho trẻ. Độ tuổi mắc bệnh tiêu chảy cấp chủ yếu là trẻ em
dưới 12 tháng tuổi, nhất là những trẻ suy giảm miễn dịch, suy dinh dưỡng. Tiêu chảy
cấp là bệnh nguy hiểm gây tình trạng mất nước, sụt cân và nếu để tình trạng này kéo
dài sẽ dẫn đến suy dinh dưỡng bội nhiễm, trụy tim mạch, suy kiệt và có thể dẫn đến tử
vong. Nếu không điều trị kịp thời bệnh sẽ dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm đến
sức khỏe, sự phát triển và cả tính mạng của trẻ.
Tiêu chảy là bệnh thường gặp đứng thứ 2 mà trẻ em mắc phải sau nhiễm khuẩn hô hấp
cấp tính. Tỉ lệ tử vong đứng hàng thứ 2 sau trẻ suy dinh dưỡng.
Để giảm tỉ lệ mắc bệnh và tử vong của tiêu chảy, từ năm 1978 Tổ chức Y tế Thế giới
đã thành lập trung tâm nghiên cứu bệnh tiêu chảy ở trẻ em ở Bangladesh. Từ đó đến
nay trung tâm này đã công bố nhiều kết quả quan trọng áp dụng vào thực tế và được
phổ biến rộng rãi trong Chương trình “ Phòng chống bệnh tiêu chảy” ở các nước đang
phát triển.[5]
Từ lâu Tổ Chức Y tế Thế Giới và chương trình lồng ghép và xử trí trẻ bệnh (IMCI)
của Việt Nam đã phổ biến phác đồ điều trị và chăm sóc bệnh nhi tiêu chảy tại nhà
cũng như tại cơ sở y tế. Hiện nay tỉ lệ bệnh tiêu chảy dẫn đến tử vong ở nước ta là rất
thấp điều này phần quan trọng là nhờ vào các chương trình y tế quốc gia như chương
trình phòng chống bệnh tiêu chảy, chương trình phòng chống suy dinh dưỡng, phòng
nhà y học, bởi đó là nguyên nhân gây nên bệnh tật và tử vong cho trẻ em dưới 5 tuổi ở
các nước đang phát triển và nhất là các nước nghèo.
2.1.1.Tình hình bệnh tiêu chảy trên Thế giới:
Trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, người ta ước tính hàng năm có
1300 triệu lượt trẻ em <5 tuổi mắc bệnh tiêu chảy và 4 - 5 triệu trẻ em chết vì bệnh
này. Trên toàn thế giới, trung bình 1 trẻ mắc 3,3 đợt tiêu chảy trong 1 năm. Riêng các
nước Đông - Nam Á: mỗi đứa trẻ hàng năm mắc 6 - 16 lần tiêu chảy, ở Việt Nam
trung bình 2,2 đợt/năm.[5]
2.1.2.Tình hình bệnh tiêu chảy tại khu vực:
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và nhiều công trình nghiên cứu điều tra ở Châu Á,
Châu Phi và châu Mỹ La Tinh cho thấy ở các nước đang phát triển hàng năm có trên
750 triệu trường hợp tiêu chảy, trong đó 500 triệu là trẻ em dưới 5 tuổi. Tử vong do
tiêu chảy hàng năm từ 4-5 triệu trẻ em, có 80% trong số này là trẻ em dưới 2 tuổi.[5]
2.1.3.Tình hình bệnh tiêu chảy ở Việt Nam:
Ở nước ta có khí hậu nóng ẩm nên bệnh tiêu chảy cũng chiếm vị trí quan trọng trong
các tác nhân ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ em. Theo thống kê của Viện Nhi Việt Nam -
Thụy Điển: các bệnh nhi bị bệnh về tiêu hóa chiếm 18,08% tổng số bệnh nhi vào viện,
trong số đó tiêu chảy chiếm 72,39%.[6]
Ở Việt Nam, nhiều năm trở lại đây tình hình bệnh tiêu chảy đã có nhiều cải thiện, tuy
nhiên tiêu chảy vẫn là vấn đề sức khỏe cộng đồng cần được quan tâm. Theo thông báo
dịch năm 2008, tiêu chảy vẫn là một trong 5 bệnh truyền nhiễm có số người mắc cao
nhất.[6] Ngoài vấn đề tỉ lệ mắc và tử vong cao, bệnh tiêu chảy còn là nguyên nhân
hàng đầu gây suy dinh dưỡng, chậm phát triển về cả thể chất và tinh thần, tạo điều
kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của các bệnh nhiễm trùng khác ở cơ thể trẻ. Các chi
phí thuốc, trang thiết bị và nhân lực cho vấn đề sức khỏe này là rất lớn, chưa tính đến
thời gian và sức lực mà mỗi gia đình phải mất. Như vậy tiêu chảy vẫn còn là gánh
nặng cho nền kinh tế quốc gia, gia đình và xã hội phải chi một khoản kinh phí
không nhỏ để chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ khi bị tiêu chảy. Hiện nay với các phương
pháp điều trị tiêu chảy đơn giản và hiệu quả có thể làm giảm rõ rệt số lượng tử vong
do tiêu chảy đồng thời làm giảm sự nhập viện không cần thiết của hầu hết các trường
Đứng trước thực tế đó, để tìm hiểu tình hình tiêu chảy và các yếu tố liên quan đến
bệnh tiêu chảy là vấn đề luôn được tất cả chúng ta quan tâm hàng đầu. Hơn ai hết
chúng ta là những cán bộ y tế bằng mọi cách làm sao chuyển tải những kiến thức chính
xác nhất và thật sự đầy đủ để cải thiện tình hình tiêu chảy ở trẻ em như hiện nay.
2.2. Đặc điểm dịch tễ học
2.2.1. Đường lây truyền
- Bệnh lây qua đường tiêu hóa thông qua thức ăn hoặc nước uống bị ô nhiễm, nhiễm
bẩn hoặc các vật dụng chế biến thức ăn cho trẻ bị nhiễm bẩn.
- Tiếp xúc trực tiếp với thức ăn đã bị nhiễm khuẩn hoặc tiếp xúc trực tiếp với nguồn
lây gây bệnh.
BÀI THU HOẠCH TỐT NGHIỆP Phòng chống bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5
tuổi
TRANG 7
- Một số tập quán tạo thuận lợi cho sự lan truyền các tác nhân gây bệnh như: không
rửa tay sau khi đi ngoài, trước khi chế biến thức ăn, cho trẻ bú bình, để trẻ bò chơi ở
vùng đất bấn có dính phân người hoặc phân súc vật
Trẻ chơi ở những nơi đất cát, bụi bẩn
2.2.2. Các yếu tố nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy
2.2.2.1. Yếu tố vật chủ làm tăng tính cảm thụ đối với bệnh tiêu chảy
- Tuổi: Bệnh tiêu chảy hay xảy ra trong 2 năm đầu đời của trẻ, tỉ lệ cao gặp ở nhóm
trẻ từ 4-18 tháng tuổi khi cho trẻ tập ăn sam hay ăn dặm quá sớm và giảm kháng thể
thụ động. [1]
- Thể trạng suy dinh dưỡng, ức chế hoặc suy giảm miễn dịch: sau bị sởi, HIV/AIDS
hoặc mắc các bệnh nhiễm trùng khác.
2.2.2.2. Tính chất mùa: có sự khác biệt theo mùa và địa dư
- Vùng ôn đới: Tiêu chảy do vi khuẩn chiếm tỉ lệ cao vào mùa nóng và tiêu chảy do
virus Rotavirus chiếm tỉ lệ cao vào mùa đông.
+ E.Coli sinh ra độc tố ruột : (ETEC) Enterotoxigenic Escherichia Coli
+ E.Coli bám dính đường ruột : (EAEC) Enteroaggregative Escherichia Coli
+ E.Coli gây bệnh lý đường ruột: (EPEC) Enteropathogenic Escherichia Coli
+ E.Coli xâm lấn niêm mạc ruột : (EIEC) Enteroinvasive Escherichia Coli
+ E.Coli gây chảy máu đường ruột : (EHEC) Enterohemorhagia Eschenchia Coli
* ETEC là tác nhân quan trọng trong 5 loại E.coli trên gây Tiêu chảy cấp phân tóe
nước.
BÀI THU HOẠCH TỐT NGHIỆP Phòng chống bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5
tuổi
TRANG 9
- Trực trùng Shigella là tác nhân gây lỵ trong 60% các đợt lỵ
- Salmonella: đây là chủng Salmonella không gây thương hàn và là nguyên nhân
phổ biến gây tiêu chảy ở các nước sử dụng rộng rãi các thực phẩm chế biến kinh
doanh. (Samonella murimun)
- Phẩy khuẩn tả: Vibrio choleraae 01
- Ngoài ra còn do một số vi khuẩn gây ngộ độc thức ăn như tụ cầu, Clostridium
perfringen
2.3.3. Kí sinh trùng:
- Cryptosporidium thường gây tiêu chảy nặng và kéo dài ở bệnh nhi suy giảm miễn
dịch(AIDS).[1] Ngoài ra còn gây bệnh cho nhiều loại gia súc.
- Giardia lamblia là đơn bào bám dính lên liên bào ruột non gây teo nhung mao ruột
làm giảm hấp thu, gây tiêu chảy.
- Entamoeba histolytica xâm nhập liên bào hồi tràng hay đại tràng tạo các ổ apxe
nhỏ rồi loét, tăng tiết chất nhày lẫn máu dẫn đến lỵ Amip và cuối cùng gây apxe gan
do Amip
2.3.4. Nấm
Candida Albican: Sau khi bệnh nhi dùng kháng sinh kéo dài hoặc suy giảm miễn
cao. Tuy nhiên, tiêu chảy cấp có thể chuyển sang tiêu chảy kéo dài, gây ảnh hưởng xấu
tới tình trạng sức khỏe và tình trạng dinh dưỡng của trẻ sau này.
Bị nhiễm vi sinh vật gây bệnh theo cơ chế xâm nhập, chế độ điều trị và dinh dưỡng
không hợp lý là những yếu tố nguy cơ chuyển từ tiêu chảy cấp sang tiêu chảy kéo dài.
(2) Tiêu chảy kéo dài:
Đợt tiêu chảy kéo dài từ 14 ngày trở lên. Thời gian tiêu chảy được tính liên tục, nếu
trong đó có 2 ngày tiêu phân bình thường thì đợt tiêu chảy tiếp theo được tính như một
đợt tiêu chảy cấp khác.[1]
Cơ chế gây tiêu chảy kéo dài là do tiêu chảy dài ngày, khả năng hồi phục của niêm
mạc thành ruột kém dẫn đến giảm khả năng hấp thụ dinh dưỡng của ruột. Gần đây qua
nghiên cứu những mảnh sinh thiết ruột người ta thấy tình trạng teo nhung mao ruột,
niêm mạc ruột mỏng, phẳng lì hay còn gọi là hội chứng nhung mao cùn, dẹt.
(3) Hội chứng lỵ:
Đi cầu nhiều lần trong phân có nhầy máu. Nguyên nhân chính là do vi khuẩn Shigella.
Cơ chế gây hội chứng lỵ là do vi trùng xâm nhập sâu vào thành ruột tạo nên những vết
lở loét. Nếu tổn thương cao, tại ruột non trong phân ngoài đàm máu còn rất nhiều
nước. Nếu tổn thương thấp, tại đại tràng ngoài đàm máu ra phân có ít nước kèm theo
mót rặn.
BÀI THU HOẠCH TỐT NGHIỆP Phòng chống bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5
tuổi
TRANG 11
2.5. Thăm khám trẻ bị tiêu chảy
2.5.1. Phân loại tiêu chảy
Bằng những câu hỏi đơn giản, dễ hiểu để phân loại tiêu chảy.
Trẻ có bị tiêu chảy không? Trẻ đả tiêu chảy thời gian bao lâu? Trẻ tiêu chảy có
máu trong phân không? Trẻ có sốt không?
2.5.2. Đánh giá mất nước
2.5.2.1. Theo trọng lượng:
TRANG 12
2.5.2.2. Theo dấu hiệu
Bảng phân loại mất nước (theo Tổ chức Y tế thế giới) [5]
Dấu hiệu
Không mất nước
(Mất nước mức độ A)
Có mất nước
(Mất nước mức độ
B)
Mất nước nặng
(Mất nước mức
độ C)
Toàn trạng *
Tốt, tỉnh táo
Vật vã, kích thích *
Li bì, hôn mê, mệt
lã *
Mắt *
Bình thường
Trũng
Rất trũng và khô
Nước mắt
Có
Không có nước
Không
Miệng lưỡi
Ướt
Khô
Rất khô
điều trị
Điều trị và chăm sóc
theo phác đồ A
Điều trị và chăm
sóc theo phác đồ B
Điều trị và chăm
sóc theo phác đồ
C
Dấu * là những dấu hiệu quan trọng
Hình ảnh nếp véo da bụng ở trẻ tiêu chảy
BÀI THU HOẠCH TỐT NGHIỆP Phòng chống bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5
tuổi
TRANG 13
+ Lưu ý:
- Bình thường hố mắt ở 1 số trẻ có thể hơi trũng (cần hỏi người mẹ để biết)
- Khát nước: cho trẻ uống nước bằng cốc hoặc bằng thìa rồi quan sát trẻ. Nếu dùng
thìa cho trẻ uống đến đâu trẻ nuốt đến đó là trẻ khát, nếu cho trẻ uống sau đó để cốc
nước hoặc thìa nước trước mặt, trẻ khóc và đòi uống là trẻ khát và uống háo hức. Khi
trẻ không thể nuốt nước là không uống được.
- Nếp véo da bụng: Để trẻ nằm ngửa, chân duỗi thẳng, người thầy thuốc dùng ngón
tay cái và tay trỏ véo da ở vị trí giữa rốn và thành bụng theo chiều dọc cơ thể. Nhấc
tất cả lớp da và tổ chức dưới da lên trong vòng 1 - 2 giây sau đó buông tay ra và quan
sát thật kỹ. Nếp véo da mất nhanh là không còn thấy nếp véo da sau khi buông tay ra.
Nếp véo da mất chậm là thấy nếp véo da còn sau thời gian ngắn <2 giây. Nếp véo da
mất rất chậm là nếp véo da còn tồn tại sau 2 giây.
2.6. Biến chứng
Tiêu chảy và các biến chứng liên quan của tiêu chảy có thể gây nên tình trạng diễn
biến nặng của bệnh. Một trong những biến chứng quan trọng nhất của bệnh tiêu chảy
là mất nước và điện giải .
Tiêu chảy làm cho nước và các chất điện giải đi ra khỏi cơ thể trước khi nó có thể
được hấp thụ bởi ruột. Khi trẻ mắc bệnh sẽ giảm khả năng uống nước để bù đắp cho sự
mất nước do tiêu chảy, gây nên tình trạng mất nước. Hầu hết các ca tử vong do tiêu
chảy xảy ra ở trẻ em và người già có sức khỏe yếu là do tình trạng mất nước nghiêm
trọng. Mất nước và các chất khoáng (chất điện giải) xảy ra khi tiêu chảy quá nhiều có
kèm theo nôn hoặc không có nôn.
- Mất nước là biến chứng phổ biến ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ khi tiêu chảy do viêm dạ
dày ruột bởi virus hoặc nhiễm khuẩn, do lượng nước chiếm một phần lớn khối lượng
của trẻ (> 80%) do vậy trẻ rất nhạy cảm với sự mất nước.
- Bệnh nhân mất nước nhẹ có thể gặp triệu chứng khát và khô miệng. Điện giải cũng
bị mất cùng với nước khi tiêu chảy kéo dài hoặc tiêu chảy nặng và tình trạng thiếu hụt
điện giải có thể xảy ra. Thiếu hụt điện giải xảy ra thường là do thiếu natri và kali.
Cũng có thể tình trạng này xảy ra với clorua và bicarbonate.
Biến chứng chính hay gặp ở trẻ bị tiêu chảy :
+ Mất nước nhiều: gây rối loạn điện giải
+ Chuyển từ tiêu chảy cấp qua tiêu chảy kéo dài
+ Suy thận cấp
+ Trụy tim mạch
+ Có thể dẫn đến tử vong nếu không được điều trị kịp thời.
2.7 Phác đồ điều trị tiêu chảy
2.7.1. Phác đồ A:
Hay còn gọi là phác đồ điều trị tiêu chảy tại nhà, phác đồ này dành cho các bà mẹ
và cán bộ y tế cơ sở với 3 nguyên tắc sau đây:
2.7.1.1. Cho trẻ uống nhiều dịch hơn bình thường để đề phòng mất nước
- Loại dịch: dung dịch Oresol (ORS) là tốt nhất.
Trẻ 2 – 10 tuổi
100 – 200 ml
1000 ml/ngày
Trẻ trên 10 tuổi
Cho uống theo nhu cầu
2000 ml/ngày
- Cho trẻ uống đến khi hết tiêu chảy việc bù nước phải duy trì đến khi bé đi tiêu phân
sệt và dưới 3 lần/ ngày.
BÀI THU HOẠCH TỐT NGHIỆP Phòng chống bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5
tuổi
TRANG 16
Nếu không có sẵn dung dịch ORS có thể dùng các loại dịch uống thích hợp khác thay
thế cho trẻ như nước sôi để nguội, nước sạch, nước dừa, nước trái cây hay súp gà, có
thể nấu nước cháo muối cho trẻ.
* Cách nấu nước cháo muối như sau: Lấy 1 nắm gạo và thêm 6 chén nước sạch
(khoảng 1200ml), dùng 3 ngón tay cái, trỏ và giữa bốc 1 nhúm muối bỏ vào xoong nấu
cho tới khi gạo nở bung ra, chắc lấy nước cho trẻ uống.
Cho trẻ uống nước cháo muối 2.7.1.2. Tiếp tục cho trẻ ăn, nếu trẻ còn bú phải tiếp tục cho bú bình thường
- Tiếp tục cho trẻ bú mẹ và tăng số lần cho bú để trẻ bổ sung thêm lượng dinh
dưỡng mất đi.
- Nếu trẻ không bú mẹ thì nên tiếp tục cho bé bú sữa và điều cần thiết là không nên
pha loãng sữa ra hay thay đổi sữa cho trẻ mà cho trẻ ăn uống các loại sữa mà trẻ được
ăn bình thường trước đó:
Tư vấn bệnh tiêu chảy và điều trị bệnh này trong cộng đồng
2.7.1.3. Hướng dẫn các bà mẹ khi nào cần đưa trẻ đến cơ sở y tế khám ngay.
Đưa trẻ đến khám tại các cơ sơ y tế khi trẻ có biểu hiện tiêu chảy
BÀI THU HOẠCH TỐT NGHIỆP Phòng chống bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5
tuổi
TRANG 18
- Hướng dẫn cụ thể lượng dung dịch cho uống sau mỗi lần đi ngoài bằng các dụng cụ
ở địa phương.[1]
- Đưa đủ số ORS dùng trong 2 ngày
- Hướng dẫn bà mẹ cách pha ORS
- Hướng dẫn bà mẹ cách cho uống ORS:
+ Nếu trẻ <2 tuổi, cho uống từng thìa nhỏ, cách nhau 1 - 2 phút
+ Trẻ lớn hơn cho uống từng ngụm bằng cốc
+ Nếu trẻ nôn, hãy đợi 10 phút sau đó cho uống chậm hơn
+ Nếu trẻ vẫn còn tiếp tục tiêu chảy sau khi đã dùng hết các gói ORS, người mẹ có thể
sử dụng dung dịch cháo muối hoặc xin thêm ORS
Dịch(ml)
200 – 400
400 – 700
700 – 900
800 - 1200
1200 -2200 - Tuy nhiên chỉ sử dụng tuổi của bệnh nhi để tính lượng dịch cần bù khi không biết cân
nặng
Khi có cân nặng thì lượng dịch ORS uống trong 4 giờ có thể tính bằng cách: [1]
V(ml) = P(kg) x 75 ml/ 4h
Sau 4 giờ bù dịch đường uống nhân viên y tế đánh giá lại tình trạng mất nước:
BÀI THU HOẠCH TỐT NGHIỆP Phòng chống bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5
tuổi
TRANG 19
- Nếu trẻ hết mất nước, chuyển sang điều trị theo phác đồ A
- Nếu còn dấu mất nước tiếp tục điều trị theo phác đồ B lần thứ hai
- Nếu xuất hiện mất nước nặng, điều trị theo phác đồ C
- Nếu trẻ uống ORS kém < 20ml/kg/giờ và nếu ở cơ sở y tế có điều kiện thì đặt
sonde dạ dày nhỏ giọt
- Nếu trong quá trình bù dịch phác đồ B, trẻ bụng chướng hoặc nôn liên tục trên 4 lần
trong 2 - 4 giờ hoặc đi tiêu > 10 lần và lượng nước trong phân nhiều thì truyền tĩnh
mạch Lactate Ringer 75 ml/kg trong 4 giờ
- Trẻ điều trị phác đồ B chỉ nên cho ăn sau 4 giờ điều trị
2.7.3. Phác đồ C
Trẻ mất nước nặng cần nhanh chóng bù nước qua đường tĩnh mạch. Dịch truyền tốt
nhất là Lactate Ringer, nếu không có có thể dùng NaCl 0,9%
Lượng dịch truyền theo phác đồ C
tuổi
TRANG 20
+ Ampicilline 250mg hoặc 500mg liều 100mg/kg/ngày chia 3 lần
+ Cotrimoxazol 480mg liều 0,48/kg/ngày chia 2 lần
+ Acid Nalidixic (Negram) 500mg liều 50 – 60mg/kg/ngày chia 3 lần
+ Metronidazole 250mg liều 15 - 30mg/kg/ngày chia 3 lần Thuốc này chỉ sử dụng khi
nhiễm amip thực sự hoặc sau 2 lần đổi kháng sinh mà không hiệu quả.
2.8.2. Một số bệnh và cách dùng kháng sinh cho trẻ
2.8.2.1. Lỵ trực khuẩn
+ Acid Nalidixic (Negram) 500mg
Trẻ em: 25mg/kg/lần, chia 2 lần/ngày x 5 ngày.
+ Co-trimoxazol 480mg hoặc 960mg
Trẻ em: 24mg/kg/lần, chia 2 lần/ngày x 5 ngày.
2.8.2.2. Đơn bào: Giardia
Metronidazole 250mg liều 30mg/kg/ngày, chia 3 lần x 5 ngày
2.8.2.3. Tả nặng
Tetracyclin 250mg hoặc 500mg, liều 25 - 50mg/kg/ngày chia 4 lần x 3 ngày
2.8.3. Không dùng các thuốc chống nôn, cầm ỉa:
- Nhiều thuốc trên thị trường được bán để điều trị tiêu chảy cấp như chất làm giảm
đông nhu động ruột (Spasmaverin, Nospa ), thuốc cầm tiêu chảy chế phẩm từ thuốc
phiện (Loperamid,Imodium, Paregoric ) các chất hấp phụ làm phân đặc giả tạo (than
hoạt, cao lanh ) các thuốc chống nôn Tuy nhiên không một loại nào trong các
thuốc trên có lợi đối với trẻ bị tiêu chảy cấp và một số còn có thể gây nguy hiểm.[1]
2.9. Phòng bệnh tiêu chảy
2.9.1. Dự phòng cấp 0
Là những biện pháp nhằm ngăn chặn nguy cơ lây lan trong cộng đồng:
- Sử dụng nguồn nước sạch cho vệ sinh ăn uống
Hầu hết các tác nhân gây bệnh tiêu chảy lây lan qua đường tiêu hóa, thông qua thức
- Sử dụng hố xí hợp vệ sinh và xử lý phân trẻ nhỏ sạch sẽ an toàn: Ở nhiều nơi người
dân thường cho trẻ em là vô hại. Nhưng thực tế trẻ em hay bị nhiễm trùng các vi sinh
vật gây bệnh đường ruột và phân trẻ em là một nguồn bệnh nguy hiểm lây lan cho trẻ
em. Đối với trẻ em đang bị tiêu chảy, hay bị nhiễm trùng không triệu chứng thì phân
trẻ lại còn nguy hiểm hơn. Môi trường mất vệ sinh làm lan rộng các tác nhân gây tiêu
chảy cho trẻ. Những tác nhân này được bài tiết từ phân làm lây nhiễm cho người và
động vật, xử lý phân đúng cách sẽ hạn chế việc lây nhiễm, truyền bệnh cho trẻ.
Phân làm nhiễm bẩn nguồn nước nơi trẻ chơi, nơi bà mẹ giặt áo quần và lấy nước dùng
cho gia đình. Các gia đình cần quan tâm đến chất lượng và vệ sinh của hố xí. Phân của
trẻ em thường chứa các tác nhân gây tiêu chảy, phải thu dọn sạch sẽ, đổ vào hố xí nhà
BÀI THU HOẠCH TỐT NGHIỆP Phòng chống bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5
tuổi
TRANG 22
vệ sinh hoặc chôn ngay sau khi ra ngoài cho hợp vệ sinh tránh phát tán mầm bệnh
- An toàn vệ sinh thực phẩm: các bà mẹ cần chú ý
* Thực hiện 10 nguyên tắc vàng trong chế biến thực phẩm
+ Lựa chọn thực phẩm tươi, sạch, an toàn
+ Thực hiện "ăn chín uống sôi "Ngâm kỹ, rửa sạch, gọt vỏ quả tươi trước khi sử dụng
+ Ăn ngay khi thức ăn vừa được nấu chín
+ Che đậy, bảo quản cẩn thận thức ăn sau khi nấu chín
+ Đun kỹ lại thức ăn cũ trước khi sử dụng + Không để lẫn thực phẩm tươi sống với thực phẩm chín, không dùng chung dụng cụ
chế biến thực phẩm sống và chín
+ Rửa tay sạch trước khi chế biến thực phẩm, đặc biệt sau khi đi vệ sinh hoặc tiếp xúc
với các nguồn ô nhiễm khác
+ Đảm bảo dụng cụ, nơi chế biến thực phẩm phải khô ráo, gọn gàng, sạch sẽ, hợp vệ
trạng này để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh cho trẻ nhất là bệnh tiêu chảy. .
* Những lợi ích của bú mẹ:
+ Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất và hoàn hảo nhất, cung cấp tất cả các chất dinh dưỡng
và lượng nước cần thiết cho trẻ trong 6 tháng đầu đời và tiếp tục cung cấp tới một nửa
các chất dinh dưỡng cho đến khi trẻ 2 tuổi. .
+ Thành phần dinh dưỡng của sữa mẹ là lý tưởng nhất cho trẻ bú mẹ. Sữa công thức
hay sữa động vật có thể bị pha loãng, làm giảm giá trị dinh dưỡng. hoặc pha quá đặc
lại không cung cấp đủ nước. Do vậy, tỷ lệ các chất dinh dưỡng bị mất cân đối.
+ Sữa mẹ có chứa các chất miễn dịch, giúp trẻ chống lại các bệnh nhiễm trùng, đặc
biệt là tiêu chảy. Các chất này không có trong sữa động vật hay thức ăn nhân tạo
+ Bú mẹ là sạch nhất, không phải sử dụng chai, núm vú nhân tạo, nước và các loại
sữa khác. Những thứ này rất dễ bị nhiễm khuẩn và có thể gây nên bệnh tiêu chảy.
+ Bú mẹ ngay sau khi sinh giúp gắn kết tình cảm giữa mẹ và con, giúp cho đứa trẻ
cảm thấy an toàn, ấm cúng hơn. .
+ Hiện tượng không dung nạp sữa rất hiếm gặp ở trẻ bú mẹ .
+ Nuôi con bằng sữa mẹ giúp cho bà mẹ đẻ thưa hơn. Những bà mẹ cho con bú sẽ
chậm thụ thai sau khi sinh hơn những bà mẹ không cho con bú. Hình ảnh cho trẻ bú mẹ đúng cách .
- Thực hành ăn bổ sung đúng cách, cải thiện nuôi dưỡng bằng thức ăn bổ sung (ăn
sam)
BÀI THU HOẠCH TỐT NGHIỆP Phòng chống bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5
tuổi
TRANG 24
Thức ăn bổ sung nên cho ăn khi trẻ 6 tháng tuổi. Tuy nhiên, có thể cho trẻ ăn thức ăn
bổ sung vào bất cứ thời gian nào sau 4 tháng tuổi nếu trẻ phát triển kém. Thực hành ăn
sam tốt bao gồm lựa chọn thức ăn giàu dinh dưỡng và chế biến hợp vệ sinh. Lựa chọn
2.9.3. Phòng ngừa cấp 2
Gồm những biện pháp phát hiện và giải quyết sớm bệnh tiêu chảy
- Hướng dẫn bà mẹ biết xử trí khi con mình bị tiêu chảy:
+ Tiếp tục cho trẻ bú nếu trẻ còn bú mẹ, trẻ hết bú mẹ tiếp tục cho trẻ ăn những thức
ăn giàu dinh dưỡng, tránh kiêng khem
+ Cho trẻ uống ORS để bù lượng nước mất
+ Biết phát hiện sớm dấu mất nước để xử trí cho kịp thời
+ Biết được lúc nào cần đưa trẻ đi khám đúng lúc Cần đưa trẻ đến khám và điều trị đúng lúc
- Hướng dẫn người mẹ bỏ các tập quán sai lầm trong cộng đồng để phòng tránh bệnh
tiêu chảy cho trẻ.
2.9.4. Phòng ngừa cấp 3
Tăng cường các biện pháp hồi phục cho trẻ khi trẻ khỏi bệnh. Đó là:
- Ăn thêm mỗi ngày 1 bữa trong ít nhất 2 tuần sau khi hết tiêu chảy nhằm hồi phục
nhanh tình trạng dinh dưỡng cho trẻ.
- Bà mẹ biết theo dõi cân nặng cho trẻ theo biểu đồ tăng trưởng