ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính hay ARI (Acute Respiratory Infection) là
một căn bệnh rất phổ biến ở trẻ em dưới 5 tuổi tại hầu hết các nước đang phát
triển. Tại hội nghị Tham khảo Quốc tế về chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
(NKHHCT) lần thứ nhất tổ chức tại Washington năm 1991, cho biết hàng
năm trên thế giới có khoảng 4,3 triệu trẻ em <5 tuổi đã chết vì nhiễm khuẩn
hô hấp cấp tính, trong đó chủ yếu do viêm phổi. Đến tháng 7 năm 1997, hội
nghị quốc tế của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) tại Canberra đã tổng kết là
tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính dưới chiếm 19% tử vong ở trẻ em <5
tuổi [4], [7].
Do vậy, từ năm 1982 Tổ chức Y tế thế giới đã có một chương trình toàn
cầu về phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, năm 1983 nhóm tư vấn
chuyên môn kỹ thuật của chương trình đã được thành lập tại Geneva [32]
Tại Việt Nam, chương trình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính Quốc gia bắt
đầu thực hiện năm 1984 nhằm mục tiêu chủ yếu là giảm tử vong do nhiễm
khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi, trong đó đặc biệt là viêm phổi [7].
Sau một thời gian nghiên cứu và triển khai, tỷ lệ tử vong từ 1 đến 5 tuổi
có giảm rõ rệt. Tuy vậy, tỷ lệ tử vong dưới 1 tuổi vẫn còn cao kể cả khu vực
cộng đồng và bệnh viện [2], [9]
Với sự phát triển của đất nước, đời sống nhân dân được nâng cao và
chất lượng cuộc sống được cải thiện, dịch vụ Y tế có nhiều tiến bộ và mở
rộng, kỷ năng chẩn đoán và xử trí các bệnh cấp tính ở trẻ em các tuyến Y tế
đặc biệt là Y tế cơ sở đã được nâng cao do chương trình được triển khai mở
rộng, nguồn thuốc phong phú và cung cầu tương đối đầy đủ, nhưng nhiễm
khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em vẫn là nguyên nhân có số mắc và tử vong cao
nhất ở nhóm dưới 5 tuổi, nhất là những vùng khó khăn, miền núi, vùng sâu
vùng xa [7].
Tỉnh Thừa Thiên Huế là một trong những tỉnh có tỷ lệ nhiễm khuẩn hô
hấp cấp tính trẻ em dưới 5 tuổi còn cao năm 2009 là 19,50 %, trong đó có
huyện A Lưới là một huyện miền núi nghèo của tỉnh, tỷ lệ nhiễm khuẩn hô
hấp cấp tính trẻ em dưới 5 tuổi chiếm rất cao năm 2009 là 35.00 %, đời sống
1.2. MỘT SỐ PHÂN LOẠI NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH
1.2.1 Phân loại theo vị trí giải phẫu
Có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng cuối cùng thống nhất với chuyên gia
của TCYTTG là lấy nắp thanh quản làm ranh giới để phân ra nhiễm khuẩn
đường hô hấp trên và nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới
- Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên: Tổn thương phía trên nắp thanh quản
thường hay gặp (chiếm khoảng 96%)và nhẹ gồm:
+ Viêm mũi-họng cấp, viêm V.A.
+ Viêm Amygdales
+ Viêm tai giữa cấp
+ Viêm xoang cấp
+ Các trường hợp ho cảm lạnh
- Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới: Tổn thương dưới nắp thanh quản ít
gặp hơn, nhưng thường là nặng, bao gồm:
+ Viêm thanh quản
+ Viêm khí quản
+ Viêm phế quản
+ Viêm tiểu phế quản
+ Viêm phổi
1.2.2. Phân loại theo mức độ nặng nhẹ
Phân loại này thực tế hay dùng để đánh giá và xử trí kịp thời các trường
hợp NKHHCT.
NKHHCT ở trẻ em có thể có nhiều dấu hiệu lâm sàng như sốt, chảy mũi
nước, ho, nhịp thở nhanh, rút lõm lồng ngực, cánh mũi phập phồng, thở khò
khè, tím tái…
Theo TCYTTG thì có thể dựa vào các dấu hiệu cơ bản như ho, thở nhanh,
rút lõm lồng ngực và một số dấu hiệu khác để phân loại xử trí theo mức độ
nặng nhẹ của bệnh [2], [6]
- Không viêm phổi (nhiễm khuẩn hô hấp thể nhẹ): Trẻ có dấu hiệu ho,
chảy mũi nước, không thở nhanh, không rút lõm lồng ngực
vụ y tế đã có nhiều tiến bộ, rất nhiều các chương trình, dự án về y tế được
triển khai, trong đó có chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ trẻ em nói chung đã có
kết quả tương đối tốt. Tuy vậy hiện nay NKHHCT vẫn là nguyên nhân gây
mắc bệnh và tử vong cao nhất ở trẻ em dưới 5 tuổi. Đặc biệt là những vùng
khó khăn, vùng sâu, vùng xa [4], [19].
NKHHCT phổ biến ở thành thị hơn là nông thôn, tỉ lệ mắc bệnh ở nước
ta tăng lên vào tháng 4,5 và tháng 9, 10 (Viên Lao và Bệnh Phổi
1984).Nguyên nhân có thể do yếu tố ấm nóng, gió mùa Việt Nam.
- Trung bình 1 xã 8000 dân có 1000 trẻ dưới 5 tuổi, hàng năm sẽ có
khoảng 1600 - 1800 lượt mắc NKHHCT, trong đó khoảng 400 - 450 lượt là
viêm phổi và khoảng 40 - 50 lượt viêm phổi nặng.
- Bệnh viện St. Paul (Hà Nội) từ 1987 - 1989 : số trẻ đến khám do bệnh
hô hấp là 37.416, do bệnh tiêu hóa 8.481. Số vào điều trị do bệnh hô hấp là
6.115, do bệnh tiêu hóa 2.287. Số tử vong do bệnh hô hấp là 530, do bệnh tiêu
hoá là 52. Tỉ lệ tử vong trong điều trị do bệnh hô hấp là 8,6%, do bệnh tiêu
hoá là 2,5%.
- T.P. Hồ Chí Minh (1991): số trẻ đến khám do bệnh hô hấp là 138.020,
do bệnh tiêu chảy 31.092. Số vào viện do bệnh hô hấp là 24.258, do bệnh tiêu
chảy 12.182. [4], [6], [11],
Đào Minh Tuấn (2010) nghiên cứu nguyên nhân dịch tễ học lâm sàng
viêm phổi nặng tại Khoa Hô hấp bệnh viện Nhi Trung ương năm 2008 [24].
Nguyễn Thị Vân Anh (2007), khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh
trong và trong quá trình điều trị viêm phổi ở trẻ em tại Khoa Nhi bệnh viện
bạch Mai năm 2006 [1]
Danh Tý, Bùi Quốc Thắng (2008) khảo sát 384 trường hợp nhập Khoa
cấp cứu Bênh viện Nhi đồng 1. Nguyên nhân suy hô hấp cấp chủ yếu tập
trung vào sơ sinh (45,1%), trẻ < 5 tuổi (48,4%), tử vong 16,9% [25]
Kết quả điều tra tại cộng đồng của dự án NKHHCT trẻ em cho thấy tần
xuất mắc NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi từ 4 – 5 lần/ trẻ/ năm . Ước tính ở
nước ta hiện nay có 9 triệu trẻ em dưới 5 tuổi thì mỗi năm có khoảng 36 – 45
gia các chương trình Y tế. Kiến thức của nhân viên Y tế xã và Y tế thôn bản
còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của cộng đồng. Việc
phối hợp liên ngành về các chương trình, dự án trên địa bàn chưa đồng bộ.
Trong cộng đồng còn tồn tại nhiều phong tục tập quán và thói quen không có
lợi cho sức khỏe của trẻ em nói riêng và người dân nói chung. Hằng năm có
nhiều bệnh tật như ỉa chảy, lỵ, suy dinh dưỡng, đã ảnh hưởng nhiều đến sức
khỏe và tình trạng NKHHCT trẻ em dưới 5 tuổi.
Để đánh giá các hoạt động có liên quan đến NKHHCT, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài này nhằm góp phần đánh giá tỷ lệ NKHHCT trẻ em
dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên quan, đồng thời kiến nghị một số giải pháp
can thiệp trước những thách thức tại huyện A lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế năm
2009.
1.4. MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NHIỄM KHUẪN HÔ HẤP
CẤP TÍNH TRẺ EM
1.4.1. Nhận thức và hành vi bà mẹ về NKHHCT
Theo TCYTTG có đến 75% bệnh NKHHCT được điều trị, chăm sóc
tại nhà. Vì phần lớn NKHHCT, sự hiểu biết về bệnh và có hành vi đúng là vô
cùng quan trọng để phòng bệnh, phát hiện sớm NKHHCT và đưa trẻ đến cơ
sở Y tế kịp thời.
Nghiên cứu 393 bà mẹ có con dưới 5 tuổi Bình Chánh thành phố Hồ
Chí Minh (2006), của Lý Văn Xuân, Phạm Ngọc Hà [ 28] cho thấy tỷ lệ bà
mẹ biết biết đúng dấu hiệu về NKHHCT (42,0%), biết đúng các dấu hiệu
viêm phổi (48,6%), biết đúng nơi khám bệnh NKHHCT (98%).
Nguyễn Thanh Long (2002), đánh giá hiệu quả của việc hướng dẫn
phòng NKHHCT ở trẻ của < 5 tuổi cho 255 bà mẹ thuộc xã Hương Hồ Thừa
Thiên Huế. Các bà mẹ được phỏng vấn về các kiến thức liên quan phòng
chống NKHHCT trước và sau can thiệp cho kết quả các bà mẹ về 2 lĩnh vực
phòng và xử trí NKHHCT đã có sự tiến bộ rõ rệt ( p< 0,01) [14], [15].
1.4.2. Suy dinh dưỡng
Các yếu tố dinh dưỡng có thể ảnh hưởng tới NKHHCT bao gồm cân
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), một nửa những người nghiện thuốc
lá hiện nay (khoảng 650 triệu người trong tổng số 1,3 tỷ người hút thuốc) sẽ
bị chết sớm vì các bệnh liên quan đến hút thuốc. Đáng báo động hơn là hàng
trăm ngàn người chưa bao giờ hút thuốc vẫn phải chết mỗi năm vì những bệnh
do hít phải khói thuốc của người khác (hút thuốc thụ động). Khói thuốc thụ
động là mối nguy cơ sức khoẻ cho tất cả những người tiếp xúc, Khói thuốc
cũng là nguyên nhân gây ra bệnh tim mạch, đột quỵ, các bệnh đường hô hấp,
ung thư phổi và nhiều bệnh khác ở người hút thuốc thụ động. Trong đó, trẻ
em, phụ nữ, người già là những đối tượng đặc biệt nhạy cảm với khói thuốc.
Tạ Thị Ánh Hoa (1997), nguy cơ viêm phổi cao gấp 2 lần ở trẻ thường
xuyên phơi nhiễm khói thuốc lá [11].
Mai Anh Tuấn (2008) khảo sát 552 trẻ < 5 tuổi ở các xã miền núi Bắc
Kạn cho thấy Nhóm trẻ sống trong các hộ gia đình có người lớn hút thuốc lá,
lào trong nhà có nguy cơ mắc NKHHCT cao hơn 1,39 lần so với trẻ nhóm
sống trong các hộ gia đình có người lớn hút thuốc lá, lào trong nhà [ 22]
1.4.5. Tiêm chủng
Theo TCYTTG ước tính hàng năm có khoảng 10 triệu trẻ em chết do 6
bệnh truyền nhiễm: Lao, ho gà, uốn ván, bạch hầu, sởi, bại liệt.
Tình trạng tiêm chủng của trẻ có ảnh hưởng rõ rệt tới tỷ lệ mắc
NKHHCT. Nghiên cứu của Mai Anh Tuấn (2008) cho biết các trẻ được tiêm
chủng không đủ hoặc đủ nhưng không đúng lịch có nguy cơ mắc NKHHCT
cao hơn hẳn (gấp 7,92 lần) các trẻ được tiêm chủng đủ và đúng lịch [22]
Phan Sỹ Hòa (2006) nghiên cứu ở 340 trẻ cho thấy nhóm trẻ không
được tiêm chủng mắc NKHHCT (50,0%) cao hơn nhiều so với nhóm không
được tiêm chủng đầy đủ (38,62%) [12]
Nguyễn Ngọc Phúc (2006) nghiên cứu NKHHCT ở Bình Định cho thấy
trẻ không được tiêm chủng đầy đủ mắc NKHHCT chiếm tỷ lệ 72,00% cao
hơn nhóm trẻ được bú sữa mẹ đầy đủ (50,96%) [18]
1.4.6. Số người trong gia đình
Nguy cơ NKHHCT tăng lên theo diện tích nhà và theo số người trong
Thiếu kiến thức
nuôi dưỡng
Chăm sóc trẻ kém
Tuổi nhỏ
Thiếu kiến thức
nuôi dưỡng
Chăm sóc trẻ kém
Tuổi nhỏ
Tiêm chủng không
đầy đủ
Ăn dặm sớm, ỉa
chảy
Tiêm chủng không
đầy đủ
Ăn dặm sớm, ỉa
chảy
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Quần thể nghiên cứu: trẻ em dưới 5 tuổi và các bà mẹ có con dưới 5
tuổi huyện A lưới
Trẻ dưới 5 tuổi là những trẻ sinh ra trong khoảng từ ngày 10 tháng 3
năm 2005 đến ngày 9 tháng 3 năm 2010.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả, điều tra ngang
2.2.3. Cở mẫu
Sử dụng công thức:
2
2
trẻ; A Ngo 304 trẻ; A Đớt 280 trẻ ( dựa vào danh sách cân trẻ đánh giá dinh
dưỡng năm 2008 )
+ Lập danh sách các trẻ dưới 5 tuôi trong xã và các bà mẹ có trong
xã. Mỗi xã chọn 250 trẻ
+ Dùng bảng số ngẫu nhiên đơn chọn ra n trẻ để đưa vào mẫu nghiên
cứu
2.2.5. Nội dung nghiên cứu
2.2.5.1. Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em dưới 5 tuổi
- Tỷ lệ chung trẻ em NKHHCT.
- Tỷ lệ trẻ NKHHCT theo giới, theo tuổi.
- Tỷ lệ trẻ mắc các bệnh khác.
2.2.5.2. Tình hình một số các yếu tố liên quan đến trẻ nhiễm khuẫn hô
hấp cấp tính
Về phía trẻ
+ Cân nặng lúc sinh
+ Tuổi thai lúc sinh
+ Tình trạng lúc sinh trẻ
+ Sữa mẹ
+ Thời gian ăn dặm
+ Tình trạng dinh dưỡng
+ Yếu tố tiêm chủng
Về phía mẹ
+ Trình độ học vấn của bà mẹ, hoặc người chăm sóc trẻ
+ Kiến thức của bà mẹ về NKHHCT
+ Cách xử trí khi trẻ bị NKHHCT
Về phía gia đình
+ Số con trong gia đình
+ Kinh tế
+ Địa điểm chăm sóc trẻ
+ Người chăm sóc trẻ
* Điều trị sốt và sò sè
(nếu có)
Nếu không có điều
kiện chuyễn tuyến trên,
có thể điều trị bằng
kháng sinh và theo dõi
sát.
* Cho một liều
kháng sinh
* Điều trị sốt và
sò sè (nếu có)
Nhắc bà mẹ bế
con trở lại sau 2
ngày hoặc sớm
hơn nếu trẻ trở
nên xấu đi.
khám
* Điều trị viêm tai ,
viêm họng (nếu có)
* Khám và chữa
bệnh khác
* Chăm sóc tại nhà
* Điều trị sốt và sò
sè (nếu có)
Khám lại sau 2 ngày dùng kháng sinh
Triệu
chứng
* Không uống được
*Có dấu rút lõm
*Có dấu nguy cơ khác
kháng sinh và phải theo dõi
chặt chẽ
tại nhà
*Giữ ấm cho trẻ
*Tăng cường cho trẻ bú
*Làm sạnh, thông mũi để trẻ dễ
bú mẹ
*đưa ngay đến trạm y tế nếu
thấy trẻ:
- Khó thở hơn - Bú khó khăn
- Thở nhanh hơn - Mệt nặng
hơn
2.2.6.2. Tuổi
Khi tiến hành điều tra, tuổi của trẻ cần được xác định tuổi thật của trẻ
khi tiếp xúc với người mẹ.
Nếu tuổi khai sinh không đúng với tuổi thật hoặc đứa trẻ không có tờ
khai sinh, bà mẹ xác định ngày sinh dương lịch hoặc âm lịch. Trường hợp này
cần phải đối chiếu phù hợp. Trong nghiên cứu này chúng tôi chia lô ra làm 3
đối tượng: 1 tuổi; 2 - 3 tuổi; 4 - 5 tuổi.
2.2.6.3. Tiêu chảy
Khi số lần đi tiêu của trẻ trên 3 lần/ngày, phân nhiều nước, bất thường.
2.2.6.4. Cân nặng lúc sinh
- Đủ gram: Khi trẻ sinh ra cân nặng > 2.500gr
- Thiếu gram: Khi trẻ sinh ra cân nặng < 2.500gr
2.2.6.5. Tuổi thai lúc sinh đẻ
- Sinh thiếu tháng: Theo TCYTTG trẻ sinh ra sống được trước tuần 27
tính từ ngày đầu của kỳ kinh cuối.
- Sinh đủ tháng: Là những trẻ sinh trong tháng từ tuần 38 -42 tính từ
ngày đầu của kỳ kinh cuối.
2.2.6.6. Tình trạng sinh đẻ
Số con đông trong gia đình: Gia đình có từ 3 con trở lên.
2.2.6.14. Kinh tế gia đình
- Nghèo: - Có sổ nghèo
- Vay nợ ăn, uống và chữa bệnh (trong năm qua chưa trả
được)
- Không nghèo: Không thuộc diện trên.
2.2.6.15. Thuốc lá
Nhà có một người hút thuốc lá thường xuyên hàng ngày, làm ảnh hưởng
đến môi trường xung quanh trẻ.( ngày trên 10 điếu )
2.2.7. Kỹ thuật thu thập số liệu
- Khám trực tiếp trẻ
- Phỏng vấn bà mẹ có con dưới 5 tuổi bằng bộ câu hỏi soạn sẵn
+ Điều tra viên là cán bộ y tế xã, huyện khám bệnh
+ Điều tra viên là các thành viên cô giáo tại các trường mẫu giáo ở các
xã
2.2.8. Xử lý số liệu
Phân tích, xử lý số liệu bằng các phương pháp thống kê y học thông
thường với sự hỗ trợ của phần mềm Epi info.
Test thống kê trong phân tích số liệu là test χ
2
.
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. TÌNH HÌNH TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP
CẤP TÍNH TAI HUYÊN A LƯỚI, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
3.1.1. Tình hình trẻ em nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính theo giới
Bảng 3.1. Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính theo giới
Giới
NKHHCT Không bệnh Tổng cộng
=35,11 p < 0,01
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấpcấp tính theo lứa tuổi
Tỷ lệ mắc NKHHCT ở nhóm 1 tuổi chiếm 55,50%, nhóm 2-3 tuổi và
nhóm 4-5 tuổi có tỷ lệ tương đương (31,30% - 31,70%). Sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê ( p < 0,01)
3.1.3. Tình hình trẻ em nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính và các bệnh khác
Bảng 3.3. Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính và các bệnh khác
Bệnh hiện tại Số trẻ điều tra Số lượng Tỷ lệ
NKHHCT 768 288 37,50
Tiêu chảy 768 77 10,03
Bệnh khác 768 43 5,60
Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ trẻ em mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp và trẻ em mắc các
bệnh khác
Trong cùng thời điểm nghiên cứu, tỷ lệ mắc NKHHCT chiếm 37,5%
cao hơn nhiều so với bệnh tiêu chảy (10,3%) và bệnh khác (5,6%).
3.2. MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP
CẤP TÍNH CỦA TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI TẠI HUYỆN A LƯỚI
3.2.1. Các yếu tố của trẻ và bệnh NKHHCT
3.2.1.1. Yếu tố trọng lượng lúc sinh
Bảng 3.4. Trọng lương lúc sinh và nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
Trọng lượng NKHHCT Không bệnh Tổng cộng
lúc sinh SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ
< 2500 gr 85 49,13 88 50,87 173 22,53
> 2500gr 203 34,12 392 65,88 595 77,47
Tổng cộng 288 37,50 480 62,50 768 100
p
χ
2
2
=5,51 p < 0,05 , OR = 2,12
Nhóm trẻ tiền sử sinh khó có tỷ lệ NKHHCT chiếm 55,0%, cao hơn
nhóm trẻ sinh thường (36,54%). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ( p< 0,05)
3.2.1.4. Yếu tố sữa mẹ
Bảng 3.7. Tình hình trẻ lúc bú sữa mẹ và mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp
cấp tính
Bú sữa mẹ
NKHHCT Không bệnh Tổng cộng
SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ
Không đầy đủ 133 71,89 52 28,11 185 24,09
Đầy đủ 298 51,11 285 48,89 583 75,91
Tổng cộng 431 56,12 337 43,88 768 100,00
p
χ
2
=24,62 p < 0,01, OR=2,45
Trẻ bú sữa mẹ không đầy đủ có tỷ lệ bệnh NKHHCT chiếm 71,89%
cao hơn nhóm bú sữa mẹ đầy đủ (51,11%). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
( p< 0,05)
3.2.1.5. Thời gian ăn dặm
Bảng 3.8. Tình hình trẻ ăn dặm và nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
Thời gian
ăn dặm
NKHHCT Không bệnh Tổng cộng
SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ
< 4 tháng 84 60,43 55 39,57 139 18,10
> 4 tháng 204 32,43 425 67,57 629 81,90
Tổng cộng 288 37,50 480 62,50 768 100
p