BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
B¸o c¸o kÕt qu¶ nghiªn cøu ®Ò tµi CÊp bé
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CÁC CHỦNG M.tuberculosis PHÂN
LẬP Ở TRẺ EM DƯỚI 15 TUỔI THUỘC KHU VỰC ĐỒNG
BẰNG BẮC BỘ GIAI ĐOẠN 2006-2007 Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Hồ Minh Lý
Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
8208 Năm 2009
Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài Cấp bộ
1. Tờn ti: Nghiờn cu c im cỏc chng M.tuberculosis phõn lp
tr em di 15 tui thuc khu vc ng bng Bc b giai on
2006-2007
2. Ch nhim ti: PGS.TS. H Minh Lý
3. C quan ch trỡ ti: Vin V sinh Dch t Trung ng
4. C quan qun lý ti: B Y t
5. Danh sỏch nhng ngi thc hi
n chớnh: TT
Họ và tên Chức danh Nơi công tác
1
2
3
H Minh Lý
ng c Anh
Nguyn Võn Anh
PGS.TS
ThS.BS
BV Lao v BP Hng Yờn
BV Lao v BP Vnh Phỳc
BV Lao v BP Thỏi Bỡnh
BV Lao v BP Hi Dng 8. Thi gian thc hin ti: t thỏng 1/2006 n thỏng 12/2008
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AFB Vi khuẩn kháng axit (Acid Fast Bacilli)
AIDS
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
(Acquired Immune Deficiency Syndrom)
BCG Bacilli Carmet Guearing
CDC
Trung tâm kiểm soát bệnh Hoa Kỳ
(Centers for Disease Control and Prevention)
DNA Deoxyribonucleic acid
DR
Trình tự lặp lại trực tiếp
(Direct Repeat)
ELISA Enzyme Linked Immunosorbent Assay
HIV Human Immunodeficiency Virus
IgG Immunoglobulin G
IgM Immunoglobulin M
IR
Đơn vị trung gian lặp lại
(Interspersed Repeats)
2.3.2. Phát hiện và phân lập tác nhân gây bệnh 27
2.3.3. Phản ứng chuỗi polymeraza (PCR) 28
2.3.4. Phương pháp huyết thanh học và phát hiện kháng nguyên 28
2.3.5. Hệ thống cộng điểm lâm sàng 29
2.4. Một vài nét về khu vực đồng bằng Bắc bộ 30
3. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1. Đối tượng nghiên cứu 32
3.2. Vật liệu nghiên cứu 32
3.3. Phương pháp nghiên cứu 33
3.3.1. Đánh giá tình hình mắc lao của trẻ em <15 tuổi 33
3.3.2. Xác định tỉ lệ nuôi cấy dương tính với M. tuberculosis của bệnh phẩm thu
thập từ bệnh nhi <15 tuổi thuộc các địa điểm nghiên cứu 34
3.3.3. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học phân tử của chủng M. tuberculosis
phân lập từ bệnh nhân lao <15 tuổi: 34
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
4.1. Tình hình mắc lao của trẻ em dưới 15 tuổi thuộc các tỉnh/thành phố, đồng
bằng Bắc bộ, giai đoạn 2006-2007 38
4.1.1. Tình hình trẻ em <15 tuổi mắc lao của 4 tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ
năm 2006-2007 theo giới và nhóm tuổi 38
4.1.2. Tỉ lệ trẻ em <15 tuổi mắc lao của 4 tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ năm
2006-2007 40
4.1.3. Thể lao và triệu chứng thường gặp ở trẻ em <15 tuổi mắc lao của 4 tỉnh
thuộc đồng bằng Bắc bộ năm 2006-2007 41
4.2. Tỉ lệ phân lập dương tính và tính nhạy cảm với thuốc của chủng
2. Mục đích nghiên cứu: Hiện nay bệnh lao ở trẻ em được Tổ chức Y tế Thế
giới (TCYTTG) đặc biệt quan tâm do tỉ lệ trẻ em mắc lao đang gia t
ăng,
bệnh cảnh ở trẻ em có đặc điểm khó phát hiện, chẩn đoán và trẻ em nhiễm và
mắc lao chính là nguồn tiềm ẩn gây lây nhiễm cho cộng đồng trong tương lai
gần nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Các nghiên cứu về bệnh
và tác nhân gây bệnh lao ở trẻ em đang được khuyến khích thực hiện và trên
thực tế còn rất ít số liệu nghiên cứu trên thế gi
ới cũng như ở Việt Nam về
vấn đề này, do vậy đề tài này được xây dựng và đề nghị cho phép thực hiện
với mục tiêu:
1) Đánh giá tình hình mắc lao ở trẻ em <15 tuổi ở một số tỉnh thuốc khu
vực đồng bằng Bắc bộ giai đoạn 2006-2007;
2) Xác định tỉ lệ phân lập dương tính và tính kháng thuốc của các chủng
M. tuberculosis phân lập từ bệ
nh nhân lao trẻ em <15 tuổi ;
3) Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học phân tử của các chủng M.
tuberculosis phân lập được.
3. Phương pháp được sử dụng để nghiên cứu:
3.1. Địa điểm nghiên cứu: 4 tỉnh gồm Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc và
Thái Bình.
3.2. Phương pháp nghiên cứu:
+ Thu thập số liệu bệnh nhân <15 tuổi được chẩn đoán lao tại 4 tỉnh nghiên
cứu từ tháng 1/2006 đến tháng 12/2007 ở các trung tâm lao và bệnh phổi
tuyến huyện, tỉnh - địa điểm nghiên cứu.
Các chỉ số cần đạt được:
- Tỉ lệ lao trẻ em <15 tuổi so với tổng số các trường hợp mắc lao của
toàn khu vực nghiên cứu.
2
- Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mắc các thể lao không khác nhau
có ý nghĩa thống kê giữa nhóm trẻ được tiêm BCG so với nhóm chưa được
tiêm BCG và giữ
a nhóm trẻ 0-4 tuổi so với nhóm trẻ từ 5- 14 tuổi.
3
- Đề tài nghiên cứu là công trình đầu tiên nghiên cứu về đặc điểm sinh
học phân tử chủng M. tuberculosis phân lập từ bệnh nhân lao <15 tuổi:
76,9% thuộc nhóm chủng Bắc Kinh; tất cả các chủng này đều có số bản sao
IS6110 lớn hơn 10 và độ tương đồng trong khoảng 75-90%; phát hiện 01
chủng mới cho ngân hàng dữ liệu spoligotype quốc tế.
Hiệu quả đào tạo: Đề tài nghiên cứu tạo đ
iều kiện cho cán bộ thuộc nhóm
nghiên cứu có khả năng tiếp cận được với phương pháp điều tra dịch tễ học
và các kỹ thuật hiện đại đang được sử dụng trong nghiên cứu dịch tễ học
phân tử bệnh lao nói riêng và các bệnh truyền nhiễm nói chung; kết quả của
đề tài nghiên cứu là tài lỉệu tham khảo cho nội dung và phương pháp nghiên
cứu của 01 luận văn tốt nghi
ệp đại học bảo vệ năm 2009 và là một phần nội
dung nghiên cứu của 01 luận án tiến sĩ sẽ bảo vệ trong năm 2009.
Hiệu quả kinh tế, xã hội: Bệnh lao là bệnh đã từ lâu thuộc phạm vi bệnh xã
hội. Bệnh lao ở trẻ em càng là vấn đề quan trọng do hiện nay tỉ lệ mắc lao
gia tăng ở cộng đồng, trẻ em là đối tượng đặc bi
ệt nhạy cảm với bệnh, chẩn
đoán, phát hiện bệnh ở trẻ khó khăn, do vậy đề tài nghiên cứu đã góp phần
tìm hiểu tình hình mắc lao của trẻ em <15 tuổi hiện nay cùng với các thể
bệnh và triệu chứng thường gặp, nghiên cứu một số đặc tính sinh học của
chủng M. tuberculosis gây lao ở trẻ em khu vực đồng bằng Bắc bộ, là khu
vực đông dân cư nhấ
t của miền bắc Việt Nam, cung cấp thông tin cho các
dài (58,6%). 53,6% trẻ mắc lao có phản ứng dương tính với PPD. Các
triệu chứng này đều chiếm tỉ lệ cao ở nhóm trẻ mắc lao ph
ổi và lao sơ
nhiễm.
4.2.2. Tỉ lệ phân lập dương tính và tính nhạy cảm với thuốc của chủng M.
tuberculosis phân lập từ bệnh nhân lao trẻ em <15 tuổi
- Tỉ lệ soi kính tìm trực khuẩn kháng cồn, kháng axit (AFB) từ bệnh
phẩm trẻ em <15 tuổi đạt 4,5%; tỉ lệ nuôi cấy đạt 10,4%.
- Tất cả các chủng phân lập được đều nhạy cảm với 4 thuốc chống lao:
rifampicin, isoniazid, streptomycin và ethambutol
4.2.3
Một số đặc điểm sinh học phân tử của chủng M. tuberculosis phân lập
từ bệnh nhân lao <15 tuổi
- 10/13 chủng phân lập từ bệnh nhân lao <15 tuổi thuộc 4 tỉnh đồng
bằng Bắc bộ thuộc nhóm Bắc Kinh (spoligotype 1), chiếm 76,9%. Hai
5
(02) chủng thuộc dòng T; một (01) chủng chưa có tên trong ngân hàng
dữ liệu quốc tế.
- Tất cả 10 chủng thuộc nhóm Bắc Kinh đều có số bản sao IS6110 lớn
hơn 10 và có tỉ lệ tương đồng về cấu trúc di truyền theo RFLP dao
động trong khoảng 75-90%.
- So với chủng M. tuberculosis phân lập từ bệnh nhân lao người lớn,
chủng phân lập từ bệnh nhi mắc lao <15 tuổi có tính đa dạ
ng thấp hơn
và tỉ lệ chủng Bắc Kinh cao hơn nhiều (76,9% so với 34,1%).
6
BẢN TỰ ĐÁNH GIÁ
Về tình hình thực hiện đề tài và những đóng góp mới của đề tài nghiên
- Công tác phí và chi khác : 30.600.000 đ
- Tổng kinh phí đã sử dụng và quyết toán: 190 triệu đồng
- Kinh phí tồn đọng: không có.
- Chế độ tài chính: tuân thủ đúng theo các quy định hiện hành
7
PHẦN B
BÁO CÁO CHI TIẾT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Mặc dù BCG có hiệu quả đáng kể trong dự phòng bệnh lao ở trẻ em, tỉ
lệ trẻ em dưới 15 tuổi nhiễm và mắc lao vẫn còn là vấn đề trọng tâm cần
quan tâm trong các bệnh nhiễm khuẩn ở trẻ em. Theo số liệu của Tổ chức Y
tế Thế giới (TCYTTG), hiện này trên toàn c
ầu có khoảng 2,2 tỉ người nhiễm
lao (chiếm 1/3 dân số thế giới), trong đó có 16 triệu người mắc lao. Hàng
năm có thêm 8-9 triệu trường hợp lao mới và 3 triệu bệnh nhân tử vong do
lao, trong đó 1,3 triệu trường hợp lao mới và 450.000 trường hợp tử vong do
lao là trẻ em dưới 15 tuổi
Năm 2002, khu vực Tây Thái Bình Dương phát hiện được 806.460
bệnh nhân lao các thể, trong đó có 372.220 bệnh nhân lao phổi mới AFB
dương tính. Tại các nước đang phát tri
ển, nguy cơ nhiễm lao hàng năm
thường vượt 2% [95]. Các nước phát triển có tỉ lệ này thấp hơn nhiều, song
từ những năm 90 đến nay, tình hình dịch tễ học bệnh lao đã có nhiều thay đổi
liên quan đến đại dịch HIV. Số liệu giám sát cho thấy tại Mỹ, giai đoạn từ
1987 đến 1991, số trẻ em mắc lao dưới 5 tuổi gia tăng từ 674 trường hợp lên
đến 1006 trường hợp. Các nghiên cứ
u cũng cho thấy khoảng 40-50% trẻ
nhiễm lao không được điều trị có nguy cơ mắc lao trong vòng 1-2 năm.
Nguy cơ này giảm 15% ở trẻ lớn tuổi hơn. Tuy tỉ lệ mắc lao ở trẻ em chỉ
ở
trẻ em các địa phương phần lớn cũng gia tăng cùng với tỉ lệ mắc của người
lớn mặc dù Chương trình Phòng chống lao đã có nhiều nỗ lực, nhưng vấn đề
kiểm soát bệnh lao ở trẻ em vẫn đang gặp nhiều khó khăn, nguyên nhân chủ
yếu vẫn là khó khăn trong phát hiện, chẩn đoán.
Với mong muốn góp phần tìm hiểu được tình trạng mắc lao hi
ện nay ở
trẻ em ở nước ta, chúng tôi đã xây dựng đề cương và triển khai thực hiện
nghiên cứu này tại một số tỉnh đồng bằng Bắc bộ với các mục tiêu:
1. Đánh giá tình hình mắc lao ở trẻ em <15 tuổi ở một số tỉnh thuốc khu
vực đồng bằng bắc bộ giai đoạn 2005-2006;
2. Xác định tỉ lệ phân lập dương tính và tính kháng thuốc của các chủ
ng
M. tuberculosis phân lập từ bệnh nhân lao trẻ em < 15 tuổi ;
3. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học phân tử của các chủng M.
tuberculosis phân lập được. 9
2. TỔNG QUAN
2.1. Tình hình bệnh lao hiện nay
2.1.1. Tình hình bệnh lao trên thế giới
Bệnh lao là bệnh đã từng được biết từ trước công nguyên và được
công nhận là bệnh hiểm nghèo, khó chữa khỏi. Bệnh lưu hành trên toàn thế
giới nhưng chỉ đến năm 1982, khi Robert Koch tìm ra được trực khuẩn lao
(M. tuberculosis) và khi có một loạt thuốc chống lao được phát hiện đưa vào
sử dụng từ thập niên 40 của thế k
ỷ 20 thì bệnh lao mơi giảm đi ở nhiều nước.
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, điều kiện vệ sinh phòng
bệnh ngày càng tốt hơn cũng như những tiến bộ trong công tác chẩn đoán và
nhiễm cho khoảng 10-15 người.
- Một trong mười người nhiễm trực khuẩn lao sẽ mắc lao hoạt động;
người nhiễm HIV có nguy cơ cao hơn.
- Hơn 2 tỉ người, chiếm khoảng 1/3 dân số toàn cầu, bị nhiễm trực
khuẩn lao.
- Bệnh lao là bệnh của nghèo
đói, gây ảnh hưởng nhiều đến sức khoẻ
cộng đồng người lớn, vào đúng quãng thời gian làm việc hiệu quả nhất của
họ. Phần lớn trường hợp tử vong do lao thuộc các nước đang phát triển,
trong đó hơn 50% thuộc châu Á.
- 1,7 tỉ người chết do lao trong năm 2006, bao gồm 231.000 người
nhiễm HIV; tương ứng với 4.500 trường hợp tử vong/ngày.
- Khoảng 9,2 triệu trường hợ
p lao mới được phát hiện năm 2006, trong
đó có 709.000 HIV(+).
- Tỉ lệ mắc lao hàng năm trên thế giới đạt đỉnh cao năm 2003-2004,
hiện nay có giảm tuy nhiên mức độ giảm ở tất cả các khu vực trên thế giới
đều rất chậm, đặc biệt ở khu vực Đông Âu với số mắc và tử vong vẫn đang
tăng do dân số phát triển.
- Tiến độ phòng chống bệnh lao năm 2006 cũng ch
ậm hơn với tỉ lệ
phát hiện gia tăng không đáng kể (chỉ có 3%) so với con số này ở giai đoạn
11
2001-2005 (6%/năm). Khoảng 4 trong 10 trường hợp lao còn chưa được phát
hiện và điều trị.
- Bệnh lao là một trong những nguyên nhân gây tử vong cao nhất ở
cộng đồng người nhiễm HIV. Người HIV(+) nhiễm lao có nguy cơ mắc lao
cao gấp 50 lần so với người HIV(-).
- Châu Phi chiếm 85% trong tổng số các trường hợp lao/HIV(+) năm
trở lại và đưa Việt Nam trở thành một nước có tỉ lệ bệnh lao ở mức trung
bình cao trong khu vực và nằm trong 22 nước có bệ
nh lao trầm trọng nhất
thế giới [39]. Trong các nước khu vực Tây Thái Bình Dương, Việt Nam có tỉ
lệ mắc lao cao đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Phillipine [2]. Theo TCYTTG
(2005), tỉ lệ mắc lao ở Việt Nam tăng một cách rõ rệt từ năm 1997 đến đầu
năm 2003: tới 120 người/100.000 dân [95].
Hình 1. Tình hình mắc lao ở các khu vực của Việt Nam năm 2005 và tỉ lệ
mắc lao mới và lao các thể trên 100.000 dân từ năm 1993-2004
Số liệu của Ch
ương trình Chống lao Quốc gia năm 2005 cho thấy tình
hình mắc lao trên các khu vực khác nhau của cả nước [3]. Các tỉnh miền
13
trung và đồng bằng sông Cửu long có tỉ lệ mắc lao cao nhất: >100
người/100.000 dân (Hình 1). Tỉ lệ mắc lao mới các thể và tỉ lệ bệnh nhân lao
mới dương tính với trực khuẩn kháng axit (AFB) trên 100.000 dân tăng
nhanh từ những năm 90, đặc biệt năm 1996-1997, khi các trường hợp nhiễm
HIV gia tăng ở Việt Nam.
Số liệu điều tra dịch tễ học của Chương trình Chống lao Quốc gia năm
2006 cho thấy tỉ lệ mắc lao mới các thể là 173/100.000 dân, tỉ lệ lao AFB(+)
là 77/100.000 dân, tỉ lệ hiện mắc lao các thể là 225/100.000 dân, tỉ lệ tử vong
do lao là 23/100.000 dân [98]. Cùng với sự gia tăng nhanh chóng tỉ lệ nhiễm
HIV, tình hình mắc bệnh lao ở những người nhiễm HIV/AIDS cũng đang
tăng nhanh, từ khi phát hiện ca nhiễm HIV đầu tiên ở Việt Nam vào tháng
12/1990, thì đến tháng 12/1992 đã phát hiện ra trường hợp đồng nhiễm
HIV/lao đầu tiên. Đến tháng 6/1999 đ
ã phát hiện được 2.165 người đồng
nhiễm HIV/Lao trong số 18.713 ca HIV(+) trên toàn quốc [5] . Tỉ lệ HIV
dương tính trong số bệnh nhân lao năm 2002 trên cả nước được xác định
Khi các hạt có chứa vi khuẩn được hít vào phổi sẽ đọng lại các phế nang và
vi khuẩn sẽ xâm nhập vào hệ thống màng nhầy nhưng chưa xâm nhập ngay
vào tế bào nhu mô. Vi khuẩn sẽ xâm nhập tế bào nhu mô và gây bệnh khi có
đủ các điều kiện cần thiết. Có 4 yếu tố chính để trực khuẩn lao dễ lây truyền
là: (1) số lượng trực khuẩn lao được tung vào không khí; (2) độ tập trung vi
khuẩn lao trong m
ột thể tích không khí và sự lưu thông của khối không khí
đó; (3) thời gian tiếp xúc của những người cảm nhiễm đối với khối không
khí có mang các hạt chứa mầm bệnh và (4) tình trạng miễn dịch của cá thể
cảm nhiễm [8]. Như vậy người bị lao phổi có AFB(+) và có càng nhiều vi
khuẩn trong đờm và ho nhiều thì nguy cơ lây lan cho cộng đồng càng lớn.
Ngoài đường lây chính qua cơ quan hô hấp, vi khuẩn lao cũng còn lây
qua da do tiếp xúc với b
ệnh phẩm có chứa mầm bệnh [23], [57], [71], [79].
Phương thức lây qua ăn uống cũng có thể gặp đối với các trường hợp lao do
M. bovis như uống sữa bò tươi của các con bò bị lao mà sữa chưa tiệt khuẩn
hoặc qua các thức ăn bị nhiễm vi khuẩn lao M. bovis [36], [45]. Trực khuẩn
M. bovis có thể xâm nhập qua hệ thống màng nhày của đường tiêu hoá hoặc
qua mô hạch bạch huyết của hầu/h
ọng khi con người uống sữa có chứa một
số lượng lớn tác nhân gây bệnh [66]. Tuy nhiên người ta cũng chứng minh
15
được rằng khả năng lây truyền M. bovis từ người sang người thấp hơn rất
nhiều so với M. tuberculosis [35], [78].
2.2. Bệnh lao ở trẻ em
Bệnh lao cũng là bệnh chủ yếu gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ trẻ
em trên thế giới. Mặc dù con số thực tế về trẻ em mắc lao hàng năm chưa
được đánh giá hết, song TCYTTG đã ước tính khoảng mộ
t triệu trường hợp
không Hispanic dưới 15 tuổi chiếm hơn ¾ (76.6%) tổng số trẻ em mắc lao
cùng nhóm tuổi [41].
Tại Nepal, lao ở trẻ em chiếm 5-15% tất cả các trường hợp lao.
Người lớn mắc lao không điều trị sẽ ảnh hưởng đến 43% trẻ < 1 tuổi và 16%
từ 11-15 tuổi. Chỉ khoảng 5-10% người lớn tiếp xúc bị mắ
c lao [63].
Tại Việt Nam, tỉ lệ mắc lao ở trẻ em trong những năm 90 là 60-
61/100.000 trẻ, trong đó lứa tuổi từ 0-4 chiếm 53,8% [9]. Mỗi năm cả nước
ta có khoảng 20.000 trường hợp lao trẻ em; trong số lao các thể ở trẻ em, lao
màng não chiếm 38,3%, đặc biệt trẻ trong nhóm tuổi từ 0-4 chiếm gần một
nửa (44%) con số này [4].
2.2.1. Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh lao tr
ẻ em
Tần suất trẻ em mắc lao trong một cộng đồng phụ thuộc vào: số lượng
người nhiễm khuẩn, tần suất lây truyền, và cấu trúc tuổi của cộng đồng và
được tính theo 2 cách: (1) tỉ lệ % so với số lao chung của cộng đồng, và (2)
tỉ lệ trẻ mắc bệnh lao so với 100.000 trẻ em cùng lứa tuổi [46].
Trẻ em ít khi có kết quả dương tính với thử nghiệm soi đờm tìm trự
c
khuẩn kháng axit (AFB) trực tiếp. Như vậy chúng có thể ở dạng sơ nhiễm
hoặc lao AFB âm tính. Đây chính là nguyên nhân gây không thể giám sát
chính xác số liệu trẻ em mắc lao trong cộng đồng và là nguyên nhân gây di
chứng hoặc tử vong của trẻ do phát hiện và điều trị chậm trễ hoặc sai hướng.
Trẻ có tính nhạy cảm cao với bệnh lao. Nguy cơ mắc lao thường phụ
thuộc vào 2 yếu tố: a) độ dài của th
ời gian phơi nhiễm với các hạt khí dung
nhiễm khuẩn, và b) tính nhạy cảm của cơ thể với nhiễm khuẩn.
Vấn đề ưu tiên hàng đầu trong phòng chống bệnh lao là chữa khỏi các
trường hợp mắc lao lao. Điều trị tốt trẻ em mắc lao là giảm tỉ lệ mắc và tỉ lệ
tử vong do lao, tăng cường vai trò của chương trình phòng chống lao quốc
cho trẻ em chính là người lớn mắc lao phổi đang có những triệu chứng điển
hình như ho, soi kính đờm có AFB(+) hoặc có hình ảnh X-quang đặc trưng,
đặc biệt là những b
ệnh nhân ở trong cùng gia đình. Lao phổi AFB(+) có khả
năng lây cao gấp 10 lần so với lao phổi AFB(-) [62]. Nguy cơ nhiễm lao gia
tăng do việc sống chung đụng trong cùng khoảng không gian chật hẹp và
tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ làm giảm sức đề kháng bệnh của cơ thể.
18
Ngày nay tại các nước nghèo, mức độ nhiễm lao ở trẻ em không tiêm phòng
BCG ở lứa tuổi 14 trên 20% và ở lứa tuổi 10 từ 10-20%. Nguy cơ nhiễm lao
trung bình hàng năm (R) là tỷ lệ % trẻ em từ 0 - 14 tuổi mới bị nhiễm trong
năm. Tại các nước nghèo, với R = 1% thì trong cộng đồng 100.000 dân có
450 trẻ em 0 - 14 tuổi bị nhiễm lao hàng năm [16]. Một trường hợp lao phổi
AFB(+) không phát hiện và điều trị kịp thời có thể
lây cho 20 người, nhưng
nếu được phát hiện và điều trị thì chỉ lây cho 2 - 3 người trước khi phát hiện
bệnh mà thôi.
Tuy nhiên những yếu tố nguy cơ nêu trên ở mức độ khác nhau sẽ đặc
trưng cho tình trạng nhiễm hoặc phát bệnh và có thể đóng vai trò là yếu tố
nguy cơ đặc hiệu cho tình trạng nhiễm hoặc mắc bệnh của cơ thể [88].
Phần lớn trẻ nhiễm M. tuberculosis t
ừ người thân trong gia đình,
nhưng các vụ dịch lao trẻ em thường xảy ra ở nhà trẻ, ở trường tiểu học hoặc
trung học, nơi trẻ em tập Trung Đông trong khoảng thời gian khá dài, trong
một không gian hầu như khép kín, tạo điều kiện cho bệnh lây nhiễm. Trong
đa số trường hợp, nguồn lây là trường hợp người lớn mắc lao.
Một số nhóm trẻ có nguy có cao hơn đối với lao so vớ
i nhóm khác, đó
là các nhóm [97]:
Phần lớn trẻ em nhiễm M. tuberculosis không mắc bệnh lao. Tuy
nhiên trẻ nhiễm lao có th
ể mắc bệnh vào bất kỳ thời điểm nào. Khả năng
phát triển thành bệnh thường cao nhất ngay sau khi nhiễm, sau đó tỷ lệ này
giảm dần theo thời gian. Nhiều yếu tố về thể lực hoặc tinh thần có thể ảnh
hưởng đến tốc độ phát triển bệnh. Yếu tố quan trọng nhất là hệ thống miễn
dịch yếu, đặc biệt nhiễ
m HIV, sau đó là tình trạng sức khỏe: bị nhiễm khuẩn
khác (như mắc sởi hoặc ho gà) và suy dinh dưỡng. Một nghiên cứu ở Mỹ cho
thấy từ năm 1981 đến tháng 9 năm 1995, có 105 em mắc lao trong số 6778
em bị AIDS (1,6%); trong đó, 55 (52%) em mắc lao ngoài phổi, 50 (48%)
mắc lao phổi [54]. Kết quả của nhóm chuyên gia thuộc Trung tâm Kiểm soát
bệnh Hoa Kỳ (CDC) năm 2004 cho thấy có sự gia tăng rõ rệt các trường hợp
lao hoạt động từ năm 1999-2001 v
ới 24 trẻ em được chẩn đoán; 15 trường
hợp xảy ra ở năm 2002; 11 trường hợp lây nhiễm HIV từ mẹ. Trẻ HIV (+)