BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI BÙI THỊ MINH HẢO
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LẦN TIÊM CHÍCH HEROIN
ĐẦU TIÊN CỦA NAM THANH NIÊN 16 – 25 TUỔI
CÓ SỬ DỤNG MA TÚY VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
TẠI HÀ NỘI NĂM 2006 – 2007
Chuyên ngành: Y tế công cộng
Mã số: 60.72.76 LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG Người hướng dẫn: PGS. TS. NGUYỄN MINH SƠN
T
S. LÊ MINH GIANG HÀ NỘI – 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
việc học tập trong 2 năm qua v thực hiện khoá luận tốt nghiệp.
Em xin by tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS.Nguyễn Minh
Sơn v TS. Lê Minh Giang - Ngời thầy đã tận tình chỉ bảo, hớng dẫn
em trong suốt quá trình từ khi bắt đầu triển khai nghiên cứu đến khi
thực hiện Luận văn tốt nghiệp. Em gửi lời cảm ơn đến các Thầy/ Cô
trong khoa Y tế công cộng đã tận tình giảng dạy, trang bị kiến thức để
em hon thnh bản luận văn ny.
Xin trân trọng cảm ơn ban lãnh đạo cùng các anh/ chị/ em v
bạn đồng nghiệp tại Trung tâm Nghiên cứu v Đo tạo HIV/AIDS,
trờng Đại học Y H Nội - cơ quan tôi đang công tác, đã tạo mọi điều
kiện trong quá trình học tập v cho phép tôi sử dụng số liệu nghiên cứu
do trung tâm triển khai để hon thnh bản luận văn của mình. Xin trân
trọng cảm ơn dự án Nghiên cứu hệ thống y tế - trờng Đại học Y H
Nội đã hỗ trợ kinh phí học tập cho tôi.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp v những ngời
thân yêu trong gia đình đã luôn động viên v l chỗ dựa vững chắc để
tôi có đợc kết quả ngy hôm nay.
H Nội, tháng 11 năm 2010
Bùi Thị Minh Hảo
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
khoa học do bản thân tôi thực hiện việc phân tích và
viết bài.
Các số liệu trong bản luận văn là trung thực và
chưa từng được công bố tại các công trình nghiên cứu
khoa học khác.
Hà Nội, tháng 11 năm 2010
68
70
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHI
ÊN CỨU
2.1. Địa điểm nghiên cứu:
2.2. Đối tượng nghiên cứu
2.3. Thời gian: 03/2006 – 12/2007
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.5. Chí số nghiên cứu, phương pháp và công cụ thu thập thông tin
2.6. Sai số và cách khống chế
2.7. Xử lý số liệu
2.8. Đạo đức nghiên cứu
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Các đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu
3.2. Đặc điểm lần tiêm chích heroin đầu tiên
3.3. Các nguy cơ trong lần chích heroin đầu tiên và yếu tố liên quan
CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN
4.1. Các đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu.
4.2. Đặc đỉểm lần chích heroin đầu tiên
4.3. Các nguy cơ trong lần chích đầu tiên và yếu tố liên quan
KẾT LUẬN
1. Đặc điểm tiêm chích heroin lần đầu tiên
2. Các nguy cơ trong lần chích heroin đầu tiên và yếu tố liên quan
KHUYẾN NGHỊ
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AIDS: Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người
BCH:
31
33
33
34
36
36
37
37
38
39
39
40
41
41
42
43
45
47
Bảng 3.2
Đặc điểm sử dụng heroin
Bảng 3.3.Sử dụng các loại ma túy khác (ngoài heroin)
Bảng 3.4. Lý do chuyển sang chích heroin
Bảng 3.5. Lý do trước đó không chích heroin
Bảng 3.6. Địa điểm chích heroin lần đầu tiên
Bảng 3.7. Mối quan hệ của người hướng dẫn / tiêm chích cho đối tượng trong
lần chích đầu tiên
Bảng 3.8. Đặc điểm tuổi trong lần chích Heroin đầu tiên
Bảng 3.9. Người pha dung dịch heroin trong lần chích đầu tiên
Bảng 3.10. Loại dung dịch chích cùng heroin trong lần chích đầu tiên
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam
là một trong những nước trong khu vực Châu Á đang chứng
kiến sự gia tăng tỷ lệ nhiễm HIV. Các kết quả nghiên cứu và giám sát trọng
điểm và kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học
HIV/STIs (IBBS) Việt Nam đều cho thấy nguy cơ lây nhiễm HIV rất cao ở
nhóm thanh thiếu niên tại các thành phố lớn [3]. Đây là một thực tế đán
g lo
ngại vì thanh thiếu niên là nhóm có tỷ trọng lớn trong tổng dân số và có hoạt
động kinh tế mạnh mẽ nhất trong lực lượng lao động của xã hội.
Mặc dù đặc điểm nhân khẩu và kinh tế xã hội của thanh thiếu niên ở Hà
Nội phức tạp hơn so với các khu vực khác, nhưng những vấn đề mà họ đang
phải đương đầu có lẽ cũng là điển hình cho những vấn đề của t
hanh thiếu niên
trong cả nước. Theo số liệu thống kê của Trung tâm Phòng chống AIDS thành
phố thì 80% số trường hợp nhiễm HIV là người nghiện chích ma tuý; 90%
trong số này là nam giới; và 65% trong số họ ở độ tuổi từ 20 đến 29. Kết quả
điều tra giám sát hành vi sử dụng ma tuý năm 2000 cho thấy 18% các trường
hợp nghiện ma tuý ở Hà Nội có nhiễm HIV [1]. Đến năm
2006, kết quả điều
tra IBBS cho thấy 12% số nam giới nghiện chích ma túy có sử dụng chung
bơm kim tiêm trong vòng 6 tháng qua, tỷ lệ nam giới nghiện chích ma túy sử
dụng lại bơm kim tiêm của người khác trong vòng 1 tháng qua là 8% và đưa
người khác sử dụng lại bơm kim tiêm của mình là 7%. Cũng theo kết quả
IBBS, tỷ lệ nhiễm HIV trong năm 2006 của nhóm nam giới nghiện chích ma
túy đã tăng lên 23,9%. Kết quả nghiên cứu cho thấy những người nghiện
chích m
a túy có hành vi nguy cơ ngay sau khi họ bắt đầu tiêm chích, điều này
2) Mô tả hành vi nguy cơ trong lần chích heroin đầu tiên và yếu tố liên
quan của nhóm nam thanh niên 16-25 tuổi tại Hà Nội năm 2006 - 2007.
Các hậu quả của lần chích heroin đầu tiên
Không có khả năng tự
chích trong vòng 1 tháng
sau lần chích đầu tiên.
Hành vi nguy
cơ trong lần
c
hí
c
h
đ
ầu
t
i
ê
n
Phụ thuộc vào người
khác trong lần chích
heroin đầu
t
iên
Chung bơm kim
tiêm
Chung dung
dịch heroin
Chính sách tăng cường kiểm
soát ma túy dẫn đến:
loại ma túy
khác
Sơ đồ phân tích vấn đề: Các nguy cơ trong lần chích heroin đầu tiên và yếu tố liên quan
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình sử dụng/ tiêm chích ma túy trên thế giới và tại Việt Nam
Năm
2007, theo ước tính của UNODC toàn thế giới có khoảng 15,2 đến
21,1 triệu người sử dụng ma túy. Hơn một nửa số người sử dụng ma túy trên
thế giới sống ở Châu Á [47]. Đến năm
2008, đã có 148 nước trên thế giới báo
cáo có tình trạng tiêm chích ma túy, ước tính trên thế giới có 61 quốc gia hiện
có tình trạng tiêm chích ma túy, chiếm tới 77% dân số thế giới. Tính trên mức
độ quốc gia, tỷ lệ người tiêm chích ma túy tại mỗi nước dao động từ 0,02% tại
Ấn Độ và Cam-pu-chia cho đến 4,19% tại Georgia và 5,21% tại Azerbaijan.
Trung Quốc, Mỹ, Liên Bang Nga và Brazil là những nước ước tính có số
người tiêm chích ma túy nhiều nhất lên tới 45% tổng số người tiêm chích ma
túy trên toàn thế giới [47]
Ở Đông Á và Đông Nam Á, ước tính có khoảng 2,
8 đến 5 triệu người từ
15 đến 64 tuổi sử dụng ma túy trong năm qua. Riêng tại Trung Quốc, ước tính
có khoảng 19% đến 31% (khoảng 1,8 đến 2,9 triệu người. Heroin vẫn là loại
ma túy phổ biến ở Trung Quốc (Hồng Kông và Ma Cao), Indonesia, Malaysia
và Myanma. Tại Trung và Tây Nam Á, sử dụng ma túy vẫn là một vấn đề nổi
cộm. Kết quả điều tra dân số cho thấy tại Afghanistan, 1,4% dân số tại
khu
vực này có sử dụng ma túy trong năm qua. Tại Pakistan các con số báo cáo
đều cho thấy tình hình tiêm chích ma túy đang ngày càng tăng, một nghiên
cứu đã ước tính có đến 630.000 người sử dụng ma túy tương đương với 0,7%
bắt nguồn từ vùng Tam giác vàng [48].
Theo Ủy ban quốc gia phòng chống ma túy, đến năm 2004, toàn quốc có
170.400 người sử dụng ma túy, tăng 6% so với năm 2003. Bộ Lao động
thương binh xã hội cho biết số người sử dụng ma túy tại thành phố Hồ Chí
Minh là trên 30.000 người và tại Hà Nội là 15.697 người vào năm 2004. Ước
tính số người sử dụng ma túy tại Hà Nội và Hồ Chí Minh chiếm khoảng 36%
tổng số người sử dụng ma túy, không tính số người hiện đang ở trong các trại
cải tạo. Số liệu của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Bộ Giáo dục Đào
tạo ước tính có khoảng trên 3.000 công chức và 652 sinh viên có sử dụng m
a
túy. 93% số người sử dụng ma túy là nam giới. Kết quả một cuộc điều tra của
UNODC và MOLISA vào năm 2000 cho thấy khoảng 80% số người nghiện
ma túy dưới 35 tuổi
và 52% là tuổi dưới 25. Heroin là loại ma túy sử dụng
phổ biến, đặc biệt trong nhóm trẻ và ở thành thị. Mặc dù, vẫn có trường hợp
hút thuốc phiện đen nhưng chỉ phổ biến ở những người già sống ở vùng nông
thôn và vùng núi và theo một kết quả điều tra của UNODC thì việc sử dụng
thuốc phiện đen đã nhanh chóng bị th
ay thế bởi hút và tiêm chích heroin. Trên
toàn quốc, số người sử dụng và chuyển sang tiêm chích heroin ngày càng tăng
[48]. Theo một ước tính của UNODC,
số người tiêm chích ma túy tại Việt
Nam hiện nay chiếm khoảng 0,25% đến 0,28% số người từ 15 đến 64 tuổi
[47
47
]
1.2. Sử dụng/ tiêm chích ma túy và các bệnh lây truyền qua đường máu
nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích ma túy dao động trong khoảng từ 20% đến
40% tại 5 nước có báo cáo là Tây Ban Nha (39,7%); Liên Bang Nga (37,2%);
Việt Nam (33,9%); Cam-pu-chia (22,8%) và Libyan Arab Jamahiriya
(22,0%); Tỷ lệ này cao hơn 40% tại các 9 nước khác: Estonia (72,1%);
Argentina (49,7%); Brazil (48,0%); Kenya (42,9%); Myanmar (42,6%);
Thailand (42,5%); Indonesia (42,5%); Ukraine (41,8%) và Nepal (41,4%),
Tuy nhiên, trong mỗi nước thì tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích ma túy
cũng thay đổi rất nhiều tại từng vùng. Ví dụ như ở Trung Quốc, nhiễm HIV
trong nhóm tiêm chích ma túy chỉ tập trung ở 7 trong số 22 tỉnh. Hơn nữa, ở
Nga tỷ lệ nhiễm
HIV trong nhóm tiêm chích ma túy cũng dao động từ 0,3% ở
Pskov, 12,4% ở Moscow, 32% ở St. Petersburg đến 74% in Biysk [47
47
].
Trên toàn thế giới, ước tính có khoảng 0,
8 đến 6,6 triệu người tiêm chích
ma túy nhiễm HIV, khu vực có số nhiều người tiêm chích ma túy là Đông Âu,
Đông Á, Đông Nam Á và Mỹ La tinh. Tại một số quốc gia và tỉnh thành tỷ lệ
hiện nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích ma túy cao hơn 40%. Ngoại trừ khu
vực cận Sahara Châu Phi, người nhiễm HIV do tiêm chích ma túy chiếm tỷ lệ
lớn trong số người những nhiễm HIV. Tại Tây Âu và Trung Á, hơn một nửa
số người nhiễm HIV là do tiêm chích ma túy [ ].
Toàn Châu Á ước t
ính có khoảng 4,5 triệu người tiêm chích ma túy,
trong đó Trung Quốc có số người tiêm chích ma túy cao nhất với ước tính
khoảng 2,4 triệu người. Ước tính có khoảng 70 000 đến 300 000 người tiêm
chích ma túy ở Cộng hòa Islamic thuộc Iran, trong khi đó số người tiêm chích
ma túy tại Pakistan dao động trong khoảng 54 000 đến 870 000 người (trung
tâm nghiên cứu quốc gia Iran về nghiện ma túy, 2008). Tiêm chích ma túy là
tiêm (Wang et al., 2009) [49].
Năm 2003, Bộ y tế Việt Nam ước tính có khoảng 215.425 t
rường hợp
nhiễm HIV và tỷ lệ nhiễm HIV cả nước là 0,25%. Việc dùng chung bơm kim
tiêm trong nhóm tiêm chích ma túy là khá phổ biến và là nguy cơ để lan
truyền HIV rộng rãi trong quần thể này trên cả nước. Theo các số liệu chính
thức của chính phủ, có 29,3% số người tiêm chích ma túy trên cả nước được
xét nghiệm có kết quả HIV(+). Theo số báo cáo năm 2004 của nhóm công tác
về HIV/AIDS, dự phòng chăm sóc cho người tiêm chích ma túy và tù nhân,
số người tiêm
chích ma túy tại Việt Nam là 113.000 người và tỷ lệ hiện nhiễm
HIV trong nhóm tiêm chích ma túy tại một số khu vực lên đến 89,4%. Các
ước tính không chính thức cho thấy đến năm 2010 số người nhiễm HIV tại
Việt Nam có thể lên đến 350.975 người. Năm 2004, chính phủ đã đưa ra chiến
lược quốc gia phòng chống HIV đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 trong đó có
đề cập đến các nỗ lực giảm tác hại thông qua chương trình phát bơm kim tiêm
sạch và bao cao su. Chính phủ đã có nhiều nỗ lực giảm số người sử dụng ma
túy đặc biệt là trong nhóm người trẻ tuổi. Một trong các phương pháp đó là
tăng cường cai nghiện cho người sử dụng ma túy. Hiện nay có khoảng 82
trung tâm cai nghiện được thành lập ở cấp tỉnh/ thành phố do MOLISA và
đoàn thanh niên quản lý và 7.100 cơ sở cai nghiện ở cấp quận/ huyện và địa
phương. Tuy nhiên, kết quả của các trung tâm cai nghiện còn thấp, tỷ lệ tái
nghiện rất cao vì các cơ sở này mới chỉ tập trung vào cai nghiện m
à ít chú ý
đến cung cấp các phương pháp phòng tái nghiện và giúp người nghiện tái hòa
nhập cộng đồng [48].
Hầu hết
các nước trên thế giới đều không chấp nhận việc sử dụng các
Các nhà nghiên cứu qua những thiết kế nghiên cứu khác nhau đã có kết
luận về các yếu tố nguy cơ làm
tăng khả năng nhiễm bệnh. Davises và Peters,
trong một mẫu nghiên cứu 364 đối tượng nghiện chích tại thành phố
Edinburgh, Scotland cho rằng những người nghiện chích ma túy sớm, không
có nghề nghiệp ổn định, có tiền sử bị giam giữ, có nguy cơ mắc các bệnh lây
truyền qua đường máu cao hơn những người khác và nguy cơ mắc bệnh tăng
lên nếu bị ra vào tù nhiều lần.
Một nghiê
n cứu quốc tế đã được tiến hành tại 5 thành phố là Glasgow
(Scotland), Lund (Thuỵ Sỹ), Sydney (Australia), Tacoma (Mỹ) và Toronto
(Canada) là những nơi HIV có mặt trong quần thể những người tiêm chích ma
túy và vẫn giữ nguyên ở mức độ hiện mắc thấp (< 5%). Cả ba thành phố đều
có ba yếu tố phòng bệnh chung đó là: tiến hành các chương trình phòng chống
trong khi tỷ lệ hiện nhiễm HI
V huyết thanh còn thấp, chương trình trao đổi
bơm kim tiêm và tiếp cận tại cộng đồng những người tiêm chích. Nghiên cứu
này cũng chỉ ra rằng có thể phòng lây nhiễm HIV cho những người tiêm chích
ma túy [12].
Một so sánh mới đây giữa các thành phố có tỷ lệ nhiễm HIV cao và thấp
ở người tiêm
chích ma túy cho thấy các thành phố thành công trong việc thay
đổi dịch ở những người nghiện chích ma túy nhìn chung có 3 nét đặc trưng:
thứ nhất họ có sự quan tâm của cộng đồng hoặc là sự giáo dục đồng đẳng để
tiếp cận và tuyên truyền cho những người nghiện ma túy, kể cả những người
khác vì lý do nào đó không nhận được thông tin tuyên truyền về HIV/AIDS
hoặc không tham
gia điều trị và tham gia các hoạt động phòng chống HIV.
Thứ hai, họ đảm bảo rằng những người nghiện ma túy dễ dàng có được bơm
kim tiêm tiệt trùng với giá rẻ qua các hiệu thuốc hoặc là chương trình trao đổi
trong nghiên cứu của mình về bối cảnh xã hội dẫn đến lần tiêm chích ma túy
đầu tiên, Nasir đã chỉ ra rằng chính đặc tính của loại heroin sử dụng tại
Indonesia (putaw) và yếu tố kinh tế xã hội cũng là một lý do dẫn đến việc đối
tượng sử dụng m
a túy chuyển sang tiêm chích lần đầu tiên và tiếp tục tiêm
chích ma túy t
rong những lần sử dụng tiếp theo. Hơn nữa, chính mối tương
tác giữa sự nghèo khổ, áp lực thể hiện nam tính và động lực của việc tham gia
vào nhóm đã đẩy những nam thanh niên tại một khu ổ chuột ở Indonesia đến
với lần tiêm chích ma túy đầu tiên của quá trình tiêm chích và phải đối mặt
với nguy cơ lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường máu khác [46].
Trong nghiên cứu về các bối cảnh liên quan đến lần tiêm
chích ma túy
đầu tiên trên 300 đối tượng mới tiêm chích ma túy tại Australia, Crofts cho
rằng lần tiêm chích ma túy đầu tiên là một thời điểm rất quan trọng đối với cả
cá nhân người sử dụng ma túy và với cả xã hội. Với cá nhân người sử dụng
ma túy thì lần tiêm chích ma túy đầu tiên là một mốc quan trọng đánh dấu
việc người sử dụng ma túy bước vào một quá trình sử dụng ma túy theo cách
thức mới với những trải nghiệm mới, bên cạnh đó là nguy cơ mắc các bệnh
lây truyền qua đường m
áu như HIV, HBV và HCV. Đối với xã hội, lần tiêm
chích đầu tiên của người sử dụng ma túy cũng làm tăng lên số lượng người
tiêm chích ma túy. Việc tiêm chích ma túy lần đầu tiên của đối tượng thường
không có sự chuẩn bị từ trước và thường diễn ra trong một nhóm có ít người
tham gia và đối tượng thường được bạn bè, người quen hoặc bạn tình là người
hướng dẫn cách tiêm chích trong lần đầu tiên [41].
Trong một nghiên cứu về mối tương quan với hành vi dùng chung bơm
kim
tiêm trong tương lai, Battjes nhận thấy rằng những người bắt đầu tiêm
ên cứu là khá cao, có tới 51,7% đối
tượng có dùng lại bơm kim tiêm trong số đó thì 47% đối tượng không bao giờ
làm sạch bơm kim tiêm trước khi dùng lại, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm tiêm
chích ma túy là 31,9% [21].
Nghiên cứu của Võ Thanh Nga về các yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV
của người nghiện chích m
a túy thành phố Hà Nội năm 2000 cho thấy có
81,3% đối tượng đã tiêm chích ma túy từ 3 năm trở lên, phần lớn các đối
tượng đều chuyển sang chích heroin sau 1 – 2 năm sử dụng; có tới 25,5% đối
tượng đưa cho người khác dùng lại bơm kim tiêm của mình cũng như 22% số
đối tượng dùng lại bơm kim tiêm của người khác, đặc biệt có đến 91,3% đối
tượng có tiêm
chích ma túy chung với bạn chích [17].
Nghiên cứu năm
2002 của Đinh Thị Hải Hà về kiến thức, hành vi về
HIV/AIDS của nhóm nghiện chích ma túy ở Lai Châu cho thấy tỷ lệ dùng lại
bơm kim tiêm trong tháng qua khá cao (25,6%); chủ yếu là dùng lại bơm kim
tiêm của bạn chích (96,2%) và chủ chích (36,4%) và thường xuyên làm sạch
bơm kim tiêm không đúng cách, tỷ lệ nhiễm HIV của nhóm đối tượng này là
36% [7].
Cũng năm 2002, nghiên cứu của Hoàng Thị Bích Việt về kiến thức, thực
hành và một số yếu tố liên quan đến nhiễm HIV ở người nghiện chích ma túy
tại thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh cho các đối tượng tham
gia nghiên
cứu đều có thời gian tiêm chích ma túy lâu (67,9% đối tượng tiêm chích ma
túy > 5 năm) chỉ có 3,6% đối tượng mới tiêm chích ma túy trong vòng 1 năm;
64,8% đối tượng thường tiêm chích tại những địa điểm công cộng, mặc dù tỷ
lệ báo cáo có dùng lại bơm k
im tiêm của đối tượng là thấp hơn so với các
Có thể nói, các nghiên cứu nhóm đối tượng sử dụng/ tiêm chích m
a túy
tại Việt Nam là khá nhiều và phong phú, các nghiên cứu trên đều cho thấy
nguy cơ của tiêm chích ma túy với nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua
đường máu. Tuy nhiên, các nghiên cứu này đều thu nhận các đối tượng sử
dụng/ tiêm chích ma túy trong thời gian khá dài và chỉ tập trung mô tả các
hành vi hiện tại các nguy cơ xuất phát từ hành vi tiêm chích ma túy, mà chưa
có nghiên cứu quan tâm đến lần tiêm chích heroin đầu tiên của đối tượng sử
dụng ma túy. Trong khi đó, một số nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng lần
tiêm
chích đầu tiên là một sự kiện có ý nghĩa trong cuộc đời của người sử
dụng ma túy vì nó là giai đoạn chuyển đổi làm tăng các nguy cơ đối với người
sử dụng ma túy, bao gồm cả nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường
máu, quá liều và nghiện ma túy [29].
1.4. Một số kh
ái niệm sử dụng trong nghiên cứu
1.4.1. Khái niệm về Lần tiêm chích heroin đầu tiên của nghiên cứu:
là lần đầu tiên đối tượng đưa heroin vào cơ thể mình bằng bơm kim
tiêm nhằm đạt được cảm giác thỏa mãn của bản thân. 1.4.2. Một số khái niệm về các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV
Qua tham khảo các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước [3], [4], [7],
[8], [10], [13], [18],[19], [37], [41], [43], [43], [44], [46], nghiên cứu xác định
một số đặc điểm
hành vi có nguy cơ trong lần tiêm chích heroin đầu tiên:
- Sử dụng chung dung dịch heroin trong lần chích heroin đầu tiên
- Sử dụng chung bơm kim tiêm trong lần tiêm chích heroin đầu tiên