nghiên cứu các yếu tố liên quan đến tiêu chảy đến tiêu của trẻ dưới 5 tuổi tại huyện chảy hương thuỷ tỉnh thừa thiên huế năm 2009 - Pdf 23


BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ
–––––––––––––––––
TRẦN PHAN QUỐC BẢO
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TIÊU CHẢY
CỦA TRẺ DƯỚI 5 TUỔI TẠI HUYỆN HƯƠNG THUỶ
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ NĂM 2009
Chun ngành: Y tế cơng cộng
Mã số: 60 72 76
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. VÕ VĂN THẮNG
HUẾ - 2010

Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành luận văn này , tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến:
Để hoàn thành luận văn này , tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến:
- Đảng ủy, ban giám hiệu trường Đại Học Y Dược Huế, các thầy cô giáo, thư viện
- Đảng ủy, ban giám hiệu trường Đại Học Y Dược Huế, các thầy cô giáo, thư viện
trường Đại Học Y Dược Huế đã giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và
trường Đại Học Y Dược Huế đã giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và
thực hiện luận văn này.
thực hiện luận văn này.
- Tiến só Võ Văn Thắng người hướng dẫn khoa học, đã giúp đỡ và chỉ dẫn tận tình
- Tiến só Võ Văn Thắng người hướng dẫn khoa học, đã giúp đỡ và chỉ dẫn tận tình
trong quá trình nghiên cứu giúp tôi hoàn thành luận văn này.
trong quá trình nghiên cứu giúp tôi hoàn thành luận văn này.
- Các thầy cô giáo ở khoa Y Tế Công Cộng trường Đại Học Y Dược Huế đã
- Các thầy cô giáo ở khoa Y Tế Công Cộng trường Đại Học Y Dược Huế đã

Trần Phan Quốc Bảo

MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC 4
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1.TIÊU CHẢY TRẺ EM 3
1.2. DỊCH TỄ HỌC VÀ CĂN NGUYÊN CỦA BỆNH TIÊU CHẢY 5
1.3. CĂN NGUYÊN CỦA BỆNH TIÊU CHẢY 6
1.4. LIỆU PHÁP BÙ DỊCH 12
1.5. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI NGUY CƠ MẮC TIÊU CHẢY 15
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 24
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.3. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 33
2.4 MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU 33
2.5. VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU 34
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1. TỶ LỆ HIỆN MẮC TIÊU CHẢY TRONG HAI TUẦN 35
3.2. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TIÊU CHẢY 37
Chương 4 BÀN LUẬN 46
4.1. TỶ LỆ HIỆN MẮC TIÊU CHẢY TRONG HAI TUẦN 46
4.2. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TIÊU CHẢY 48
KẾT LUẬN 56
KIẾN NGHỊ 58
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiêu chảy là bệnh rất phổ biến của trẻ em dưới 5 tuổi , đặc biệt là lứa
tuổi 6 – 24 tháng tuổi[5],[6],[58]. Tiêu chảy làm cho trẻ mất nước nhanh

không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh.Trong những năm gần đây vấn đề an toàn vệ
sinh thực phẩm trở nên vấn đề cấp bách đòi hỏi phải giải quyết, các ca ngộ độc
thực phẩm ngày càng gia tăng mà triệu chứng hay gặp là tiêu chảy nhiều lần.
Huyện Hương Thuỷ tỉnh Thừa Thiên Huế là Huyện nằm ở phía nam
Thành phố Huế gồm 12 xã, thị trấn cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, thu
nhập còn thấp, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Trong những
năm gần đây, chương trình phòng chống bệnh tiêu chảy đã được triển khai
Tại Huyện, theo thông báo của TTYT Huyện Hương Thuỷ trong năm 2008
không có trường hợp nào trẻ dưới 5 tuổi tử vong do tiêu chảy. Tuy nhiên số
liệu này chỉ phản ảnh được một phần tỷ lệ mắc của cộng đồng, thực tế tỷ lệ
này còn lớn hơn do các bà mẹ chọn dịch vụ y tế rất đa dạng nên còn nhiều
trường hợp trẻ bị mắc tiêu chảy không được báo cáo.
Hành vi sức khoẻ có giá trị rất lớn đến việc giảm tỷ lệ mắc và chết của
một bệnh, việc điều trị chỉ được giải quyết triệt để khi cá nhân đó nhận ra
những gì cần phải làm để thay đổi hành vi sức khoẻ có hại do chính mình gây
ra. Vấn đề đặt ra là liệu yếu tố nào đã và đang ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh
tiêu chảy và mức độ tác động ra sao, yếu tố nào là đặc thù riêng cho Huyện
Hương Thuỷ và trong 5 năm gần đây, không có một nghiên cứu nào về bệnh
tiêu chảy trên địa bàn huyện Hương Thuỷ. Vì vậy, Tôi tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến tiêu chảy của trẻ dưới 5 tuổi tại Huyện
Hương Thuỷ Tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2009”. Với hai mục tiêu:
- Xác định tỷ lệ hiện mắc tiêu chảy ở trẻ dưới 5 tuổi tại huyện
Hương Thuỷ.
- Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến tiêu chảy ở trẻ dưới 5 tuổi.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.TIÊU CHẢY TRẺ EM
1.1.1. Phân loại bệnh tiêu chảy
Tiêu chảy thường được định nghĩa là đi cầu phân lỏng hoặc tóe nước

có thể nhiều gây nguy cơ mất nước. Không có tác nhân riêng biệt nào gây tiêu
chảy kéo dài. E.Coli bám dính (ETEC) hoặc Shigella và Cryptosporidia có thể
có vai trò quan trọng hơn so với các tác nhân khác. Yếu tố nguy cơ của tiêu
chảy kéo dài: suy dinh dưỡng, cho ăn sữa động vật hoặc các loại sữa công
nghiệp[5],[6].
1.1.2. Sinh lý bệnh tiêu chảy
1.1.2.1. Nhắc lại sinh lý ruột
Bình thường nước và điện giải được hấp thu ở nhung mao và được bài
tiết ở các hẻm tuyến của liên bào ruột điều đó tạo ra luồng trao đổi hai chiều
của nước và điện giải giữa lòng ruột và máu. Bất kỳ sự thay đổi nào của luồng
trao đổi này đều gây ra giảm hấp thu hoặc tăng bài tiết của ruột già thì tiêu
chảy sẽ xảy ra. Khi tiêu chảy xảy ra, sự hấp thu muối natri bị cản trở. Nhiều
công trình nghiên cứu cho thấy rằng sự hấp thu của natri nếu có sự hiện diện
của glucose sẽ tăng gấp 3 lần. Dựa trên đặc điểm này mà các loại dịch bù
trong tiêu chảy cần phải có hai chất muối natri và đường glucose. Các chất
điện giải quan trọng khác như bicacbonate, citrate và kali được hấp thu độc
lập với glucose trong tiêu chảy. Hấp thu bicacbonate hay citrate làm gia tăng
hấp thu natri và clo [5],[6].
5
1.1.2.2. Cơ chế tiêu chảy phân nước
- Tiêu chảy xuất tiết: khi bài tiết dịch (muối và nước) vào lòng ruột không
bình thường sẽ gây ra tiêu chảy xuất tiết. Việc này xảy ra khi hấp thu Na
+

nhung mao ruột bị rối loạn khi xuất tiết Cl
-
ở vùng hẻm tuyến vẫn tiếp tục tăng
lên. Sự tăng tiết này gây nên mất nước và muối của cơ thể qua phân lỏng.
- Tiêu chảy thẩm thấu: niêm mạc ruột non được lót bởi lớp liên bào bị
“rò rỉ”, nước và muối vận chuyển qua lại rất nhanh để duy trì cân bằng thẩm

tác nhân gây bệnh như: không rửa tay sau khi đi vệ sinh, trước khi chế biến
thức ăn, để trẻ bò chơi ở vùng đất bẩn có dính phân người hoặc phân gia súc.
1.2.2.2. Những tập quán làm tăng nguy cơ tiêu chảy
- Không nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 4 - 6 tháng đầu, tập
quán cai sữa trước 1 tuổi.
- Cho trẻ bú bình, để thức ăn đã nấu ở nhiệt độ trong phòng. Dùng nước
uống đã bị nhiễm các vi khuẩn đường ruột. Không rửa tay sau khi đi vệ sinh,
sau khi dọn phân hoặc trước khi chế biến thức ăn. Không xử lý phân một cách
hợp vệ sinh[5],[6],[7].
1.3. CĂN NGUYÊN CỦA BỆNH TIÊU CHẢY
1.3.1. Cơ chế bệnh sinh
Các virus nhân lên trong liên bào nhung mao ruột non phá hủy cấu trúc
liên bào và làm cùn nhung mao gây bài tiết và điện giải ở ruột.
- Vi khuẩn: gây bệnh theo nhiều cơ chế
+ Bám dính niêm mạc: Eterotoxigenic Echerichia coli (ETEC),
V.Cholerea
+ Các độc tố gây tiết dịch: V.Cholerea
+ Xâm nhập niêm mạc: Shigella, C.jejuni, ETEC
- Đơn bào:
+ Bám dính niêm mạc: Glardia, Cryptosporidium
+ Xâm nhập niêm mạc: E.histolitica
7
1.3.3. Các tác nhân gây bệnh tiêu chảy cấp
1.3.3.1. Rotavirus
Tiêu chảy cấp do nhiều nguyên nhân như virus, vi khuẩn, ký sinh trùng
nhưng tiêu chảy do virus đóng vai trò quan trọng. Trong số các virus gây tiêu
chảy, Rotavirus là nguyên nhân hàng đầu chiếm 20% tổng số trường hợp tử
vong ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn thế giới [13].
Hàng năm trên thế giới có 2275,4 triệu trẻ nhỏ mắc tiêu chảy cấp (theo
tổ chức y tế thế giới - WHO), trong đó 90% những ca này xảy ra ở các nước

tính khoảng 527.000 trường hợp tử vong [53].
Nghiên cứu của Lê Huy Chính tại Hà Nội từ tháng 3/2001 – 4/2002 cho
thấy, 45% trẻ em bị tiêu chảy và 3,5% trẻ em lành nhiễm Rotavirus trong
phân. Trong nhóm trẻ bị tiêu chảy, nhóm trẻ dưới 2 tuổi có tỷ lệ nhiễm 49,3%
khác biệt có ý nghĩa so vơi nhóm trẻ trên 2 tuổi (p < 0,01), các trẻ từ 13-24
tháng chiếm với tỷ lệ cao nhất 55,8%, tỷ lệ nhiễm giảm dần đối với các nhóm
trẻ trên 12 tháng, 25-36 tháng, 37-48 tháng, 49-60 tháng (p < 0,05) [13].
1.3.3.2 Shigella
Do đặc tính lây lan và biểu hiện hệ thống của bệnh, do tác động xấu về
dinh dưỡng và do xu hướng kéo dài tình trạng bệnh cùng với sự xuất hiện các
chủng vi khuẩn đa kháng thuốc, lỵ do Shigella là thể bệnh nặng nhất so với
bệnh tiêu chảy do các nguyên nhân khác.
Lỵ do Shigella là một nguyên nhân quan trọng gây tử vong trong số trẻ
bị chết vì tiêu chảy. Theo ước tính trong nghiên cứu tổng quan các y văn gần
đây nhất của Tổ Chức Y tế Thế giới[52], hàng năm có khoảng 165 triệu lượt
người mắc lỵ do Shigella, trong đó 99% xuất hiện ở các nước đang phát triển
và cũng tại các nước này 69% lượt mắc bệnh là ở trẻ em dưới 5 tuổi. Trong
1,1 triệu người bị tử vong do nhiễm vi khuẩn Shigella ở các nước đang phát
triển thì 61% số ca tử vong là trẻ dưới 5 tuổi. Bức tranh này phù hợp với gánh
9
nặng rộng lớn về tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 3 tuổi ở các nước
đang phát triển[52].
Kết quả nghiên cứu của Lưu Thị Mỹ Thục tại viện Nhi Trung ương
trong khoảng thời gian 4 năm từ tháng 6/1998 - tháng 6/2000 cho thấy số
bệnh nhân bị lỵ do Shigella được điều trị tại bệnh viện cao hơn, 132/4.849 đợt
tiêu chảy chiếm tỷ lệ 2% trong đó tuổi bị mắc nhiều nhất là từ 1-3 tuổi là
78/132 chiếm 59,20%; 0-11 tháng là 21/132 bệnh nhân chiếm 15,90%; 3-5
tuổi là 21/132 chiếm tỷ lệ 15,90% và trên 5 tuổi là 12/132 chiếm 9%[37].
Kết quả giám sát lỵ do Shigella tại Nha Trang trong thời gian từ tháng
1/2000 đến tháng 12/2003 cho thấy số trường hợp trẻ dưới 5 tuổi bi tiêu chảy

xã hội và kinh tế ngăn cản sự phát triển ở những nơi bị ảnh hưởng.
Năm 2004, có 56 nước trên thế giới ghi nhận có dịch tả với tổng số
101.383 trường hợp mắc, 2.345 tử vong báo cáo cho Tổ Chức Y tế thế giới,
trong đó 95.560 trường hợp là từ các nước Châu phi. Năm 2005 trừ các nước
Burkina Faco và Mauritania, còn tất cả các nước khác của Châu phi đều có
dịch tả. Vào đầu năm 2006, thống kê chỉ trong tuần (27/1-2/2) cũng cho thấy
các nước Châu phi cũng bị dịch trầm trọng. Số mắc / chết bệnh tả tại một số
nước như sau: tại Malawi: 446/9, tại Mozambique: 642/1, Ruwanda: 364/3,
tại Sao Tome và Principe: 440/4, tại Cộng hòa Tanzania: 527/11 và tại
Xambia: 1.337/8[54].
Theo kết quả nghiên cứu của Đinh Sĩ Hiển tại Tỉnh Quảng Trị từ năm
1992-2005 thì dịch tả xảy ra ở 9 huyện, thị với 61/164 xã chiếm tỷ lệ 37,2%.
Số bệnh tả ghi nhận được là 461, trong đó có 18 bệnh tử vong, với tỷ lệ tử
vong chung là 3,9%. Tổng kinh phí cho công tác phòng chống dịch trong 6
năm gần 3,3 tỷ đồng gây thiệt hại nặng nề về kinh tế và nhân lực[22].
Tại Việt nam trong những năm gần đây tiêu chảy cấp do tả lại tiếp tục
bùng phát và gây dịch tiêu chảy cấp tại nhiều tỉnh, thành trên cả nước với
tổng số 4.131 ca mắc tả được ghi nhận trong 3 năm 2007-2009. Trong năm
2009 tại Tỉnh Bắc ninh xuất hiện một vụ dịch với tống số 362 ca tiêu chảy
cấp, 103 trường hợp dương tính với phẩy khuẩn tả chiếm tỷ lệ 9,5/100.000
dân[3].
11
1.3.3.4. Campylobacter jejuni
Campylobacter jejuni chiếm từ 10%-15% các trường hợp tiêu chảy[5],
[6]. Có thể gây tiêu chảy tóe nước chiếm 2/3 các trường hợp hoặc hội chứng
lỵ chiếm 1/3 các trường hợp. Thường gặp ở trẻ em dưới 2 tuổi chiếm tỷ lệ
khoảng 3% [5].
1.3.3.5. Samonella
Salmonella chiếm từ 1%-5% các trường hợp tiêu chảy. Hầu hết nhiễm
Salmonella không gây thương hàn là do lây từ súc vật nhiễm trùng hoặc các

Nước ta có đủ điều kiện thực hiện liệu trình này.
Có ba vấn đề trong liệu trình điều trị tiêu chảy mới ở trẻ em theo WHO
và UNICEF. Đó là:
- Dùng ORS (mới) có tỷ trọng thấp.
- Kết hợp việc bổ sung kẽm.
- Dùng các thuốc chữa tiêu chảy.
1.4.1. Sử dụng dung dịch ORS
Thành phần ORS rất phù hợp với bệnh nhân bị tiêu chảy do tả hay các
loại tiêu chảy khác. Công thức ORS phù hợp để bù dịch mà không sợ ảnh
hưởng đến chức năng thận chưa hoàn chỉnh ở trẻ nhỏ, ngoài ra ORS còn hiệu
quả trong trường hợp mất nước ưu trương hay nhược trương. Do đặc điểm
này mà ORS được sử dụng điều trị có hiệu quả hàng triệu trường hợp tiêu
chảy do nhiều nguyên nhân và lứa tuổi khác nhau [5],[6].
Lợi ích bù dịch bằng đường uống so với truyền dịch: ORS đơn thuần
bằng đường uống có thể phục hồi được 95% các trường hợp tiêu chảy mất
nước trung bình, ORS có thể sử dụng rộng rãi, rẻ tiền, không cần các phương
tiện vô trùng, bà mẹ tham gia tích cực vào điều trị.
Tuy nhiên ORS không làm giảm số lần đi tiêu chảy, khối lượng phân và
thời gian tiêu chảy. Bù dịch bằng đường uống có những hạn chế sau:
13
- Đi tiêu phân xối xã.
- Nôn nhiều trên 3 lần/1 giờ.
- Mất nước nặng trong khi chờ đợi dịch truyền phải cho uống bằng ống
thông mũi dạ dày.
- Không uống được hay từ chối uống.
- Chướng bụng hay liệt ruột: do sử dụng thuốc cầm tiêu chảy, thiếu kali.
- Pha và cho uống không đúng cách: pha đậm đặc hay cho uống nhanh
có thể gây nôn.
Dung dịch ORS (mới) có tỷ trọng thấp có nồng độ natrichlorid 2,6g/l;
glucose 13,5g/l và có tổng độ thẩm thấu 245mOsm/l, trong khi đó dung dịch

trẻ tiêu chảy kéo dài tại bệnh viện Nhi đồng 2 cho thấy: ở những trẻ có kẽm
huyết thanh giảm rõ, hiệu quả của việc bổ sung kẽm làm cải thiện hai chỉ số
lâm sàng rõ rệt là rút ngắn thời gian tiêu chảy và tăng trọng đáng kể [35].
Ngoài việc dùng kẽm trong điều trị, dự phòng, nhóm trẻ bổ sung kẽm
cũng làm giảm tỷ lệ tiêu chảy khoảng 18% so với nhóm trẻ không bổ sung
kẽm[35].
1.4.3. Dùng các thuốc chữa tiêu chảy
Thuốc chế từ vi khuẩn lành tính: mục tiêu dùng các thuốc này là chống loạn
khuẩn, kích thích tăng sản xuất IgA, phục hồi khả năng hấp thu của niêm mạc
ruột. Thường dùng các loại thuốc: antibio, bolactyl, bacillus claussi,
saccharomyces boulardii. Việc dùng Biolac trong điều trị tiêu chảy và rối loạn tiêu
hóa do sử dụng kháng sinh ở trẻ em đã làm rút ngắn thời gian ngừng tiêu chảy
trung bình 0,8 ngày và thời gian điều trị trung bình 0,4 ngày trên nhóm bệnh nhân
tiêu chảy cấp; giúp cải thiện triệu chứng tiêu chảy sau 3 ngày điều trị [44].
Theo nghiên cứu của Hoàng Tích Huyền, Racecadoril (biệt dược
Hidrasec) một thuốc mới trong điều trị tiêu chảy trẻ em là một biện pháp điều
trị kết hợp tốt, ức chế sự tăng tiết, phục hồi sự cân bằng bình thường về nước
và điện giải, làm giảm thể tích phân rút ngắn thời gian tiêu chảy[24].
Cũng theo nghiên cứu của Eduardo Salazar-Lindo thì việc dung nạp
Racecadoril trung bình sau 48 giờ lượng phân đào thải là 92
±
12gam/kg đối
với nhóm dùng Racecadoril và 170
±
15gam/kg đối với nhóm giả dược (p<
0,001) và giảm 46% với Racecadoril. Thời gian tiêu chảy ít hơn (p<0,001),
đối với nhóm dùng Racecadoril là 28 giờ kể cả mắc Rotavirus dương tính hay
âm tính thấp hơn so với nhóm dùng giã dược 72 giờ với mắc Rotavirus dương
tính và 52 giờ đối với mắc Rotavirus âm tính [51].
15

Nghiên cứu của Clemens J và cộng sự về sự khởi đầu cho con bú và
nguy cơ tiêu chảy cho trẻ sơ sinh ở nông thôn Ai cập cho thấy: trẻ được bú mẹ
trong vòng 3 ngày đầu sau sinh có tỷ lệ tiêu chảy thấp hơn 26% so với những
trẻ được bú mẹ sau 3 ngày [57].
Nghiên cứu của Nacify AB tại vùng nông thôn Ai cập cho thấy nuôi
con bằng sữa mẹ có ý nghĩa liên quan đến tỷ lệ mắc tiêu chảy do Rotavirus ở
trẻ em dưới 1 tuổi với tỷ lệ 0,30 (95%:0,11-0,80) [57].
Theo đánh giá của Viện dinh dưỡng trong năm 2004 về nuôi con bằng
sữa mẹ tỷ lệ cho con bú trong vòng nửa giờ đầu sau sinh 75,2%, tỷ lệ trẻ bú
mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu là 18,9%, hoàn toàn trong 6 tháng đầu là
12,4% [25].
Theo tổ chức Save the Children đề cập thông tin về Việt nam thì thực
hành nuôi con bằng sữa mẹ kém, chỉ có 17% trẻ sơ sinh ở Việt nam được bú
mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và 23% được bú mẹ cho đến khi được 20-23
tháng tuổi [34].
Nghiên cứu của Dương Thị Hồng Cương về lợi ích nuôi con bằng sữa
mẹ tại khoa sơ sinh bệnh viện nhi đồng 2 năm 2008 cho thấy kiến thức của bà
mẹ về thời gian cho con bú không đúng là 55,71% và có đến 95% bà mẹ có
kiến thức không đúng về lợi ích của sữa mẹ. Còn một vấn đề không đúng
80% bà mẹ ngoài sữa mẹ còn cho con uống thêm nước sôi để nguội [14].
Cũng theo nghiên cứu của Lê Thế Thự, đánh giá tình trạng dinh dưỡng
và các yếu tố liên quan ở trẻ dưới 5 tuổi tại 2 xã thuộc Tỉnh Tiền Giang năm
2003 cho thấy thời gian cho ăn bổ sung ở trẻ dưới 4 tháng 9,5% và từ 4-6
tháng 71,0% chiếm một tỷ lệ khá cao [40].
17
1.5.2. Chế độ ăn dặm và nuôi dưỡng trẻ
Ăn dặm là quá trình ăn uống của trẻ chuyển tiếp dần từ sữa mẹ đến thức
ăn của gia đình. Sữa mẹ tuy giàu năng lượng, nhưng từ tháng thứ 6, không
cung cấp đủ các chất cần thiết cho sự phát triển bình thường của trẻ nên
không thể nuôi trẻ bằng sữa mẹ đơn thuần từ lúc đẻ đến khi cai sữa. Vì vậy

trọng do phân, rác, nước thải. Trong đó đặc biệt là phân người, chứa nhiều
loại mầm bệnh nguy hiểm nếu không được quản lý tốt sẽ trở thành nguồn gây
bệnh. Muốn quản lý được nguồn phân thì trước hết các gia đình phải có các
công trình vệ sinh.
Theo điều tra khảo sát của Vụ Y Tế dự phòng và các tổ chức khác thì tình
trạng quản lý vệ sinh môi trường hiện nay vẫn vô cùng khó khăn. Trong cả nước
vẫn còn khoảng 12 triệu người ở nông thôn chưa có hố xí, trên 30 triệu người đã
có hố xí nhưng không hợp vệ sinh. Chỉ có 20%-25% nhà tiêu vùng nông thôn
đạt tiêu chuẩn vệ sinh. Năm 1997, có 73.023 ca tiêu chảy, trong năm 2000 xảy ra
nhiều vụ dịch tiêu chảy ở các tỉnh Quảng Trị, Sơn La, Nghệ An, Thái Bình, Nam
Định. Tình hình dịch bệnh lây truyền qua đường phân - nước ngày càng gia tăng
gây tổn thất nặng nề cho sức người và tiền của [29].
Cục Y Tế dự phòng Việt Nam kết hợp với tổ chức UNICEF thực hiện
điều tra từ tháng 3/2006 đến tháng 5/2006 để đánh giá thực trạng vệ sinh môi
trường và vệ sinh cá nhân ở nông thôn Việt Nam cho kết quả: chỉ có 75% hộ
gia đình nông thôn Việt Nam có nhà tiêu, hoặc chưa hợp vệ sinh hoặc đủ tiêu
chuẩn vệ sinh. Chỉ có 18% hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam đạt tiêu chuẩn
vệ sinh theo quy định của Bộ Y tế. Trong số 18% chỉ có 7,9% có nhà tiêu
thấm dội nước, 7,7% có nhà tiêu tự hoại, 2,0% có nhà tiêu 2 ngăn và 0,3% có
nhà tiêu bioga [8].
19
Ở khu vực nông thôn Việt Nam, các hộ gia đình sử dụng nước uống và
sinh hoạt từ các nguồn sau: 33,1% giếng khoang; 31,2% giếng đào; 1,8% nước
mưa; 11,7% nước máy; 7,5% nước đầu nguồn;11% nước suối, hồ và ao [8].
Nghiên cứu của Lê Vũ Anh, sinh thái về một số đặc điểm của xã đến
bệnh mắt hột hoạt tính ở trẻ em ở 314 xã thuộc 11 huyện của 7 tỉnh cho kết
quả: tỷ lệ người dân sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh (nước máy, nước giếng)
cao thì tỷ lệ mắc bệnh đều có xu hướng giảm thấp hơn. Về việc sử dụng hố xí,
ở những xã sử dụng hố xí không hợp vệ sinh thì tỷ lệ mắc bệnh có cao hơn [1].
Nghiên cứu của Dương Đình Thiện, yếu tố tác động đến nguy cơ mắc

các công trình vệ sinh và 18% nhà vệ sinh của hộ gia đình ở nông thôn đạt tiêu
chuẩn vệ sinh. Thiếu vệ sinh là nguyên nhân gây ra tiêu chảy ở trẻ em [34].
1.5.4. Các yếu tố thuộc về bà mẹ
Đối với điều trị tiêu chảy cấp, việc theo dõi và chăm sóc của người mẹ là
hết sức quan trọng. Vì vậy, kiến thức, thái độ thực hành chăm sóc trẻ khi bị tiêu
chảy là hết sức cần thiết. Thiếu hiểu biết về bệnh, về cách theo dõi và chăm sóc
trẻ khi bị bệnh làm cho trẻ ốm không được chăm sóc đúng, không được xử trí
đúng và đưa đến cơ sở y tế muộn. Có nhiều nguyên nhân từ hạn chế về kinh tế
gia đình, về trình độ học vấn của bà mẹ cũng như nhiều nguyên nhân khác.
Nghiên cứu của Trần Thị Trung Chiến, kiến thức của bà mẹ về chăm sóc
sức khỏe trẻ em ở Thừa Thiên Huế chỉ có 24,2% số bà mẹ trả lời đúng số lần đi
ngoài, hai dấu hiệu quan trọng là sốt, phân có máu chỉ có 7% bà mẹ trả lời đúng.
Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ tại nước ta đã đạt trên 90%, tuy nhiên chỉ có 21% số bà
mẹ kể đủ 6 bệnh nằm trong chương trình tiêm chủng mở rộng [12].
Trong phòng chống tiêu chảy trẻ em: 88,2% bà mẹ cho con bú khi trẻ bi
tiêu chảy, 48,4% cho uống ORS, 57,5% pha ORS sai hoặc không biết, cho ăn
21
nhiều hơn 7%, kiêng khem trong tiêu chảy vẫn còn tỷ lệ khá cao 26,8% và
không cho uống gì trong tiêu chảy vẫn còn với tỷ lệ 14,4% [23].
Nghiên cứu tại Tiền Giang năm 2003, chăm sóc trẻ khi bị tiêu chảy vẫn
còn 23,5% bà mẹ không cho trẻ uống khi bị tiêu chảy, cho ăn và bú ít đi
10,2%, kiêng không cho ăn dầu mỡ khi bị tiêu chảy 24,4% [40].
Nghiên cứu tại khoa nhi bênh viện đa khoa Tỉnh Tiền Giang năm 2007,
80% bà mẹ biết tiêu chảy cấp là tiêu chảy phân lỏng 3lần/ngày, 68,5% biết
được khát nước là dấu hiệu mất nước, trên 30% nhận biết dấu hiệu cần đưa trẻ
đến cơ sở y tế. Kiến thức của bà mẹ về chế độ dinh dưỡng cho trẻ khi bị tiêu
chảy khá tốt, tiếp tục cho ăn đúng 79%, tiếp tục cho bú 49,5%, 97,5% bà mẹ
biết đúng về bù dịch cho trẻ khi bị tiêu chảy, 71,5% chọn ORS, 80,5% bà mẹ
pha ORS đúng cách, 80% bà mẹ biết chọn dụng cụ cho uống thích hợp [41].
Nghiên cứu của Trương Việt Dũng tại Ninh Bình, cho thấy các dấu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status