Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 5 * 2018
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SỰ LO ÂU
CỦA NGƯỜI BỆNH TRƯỚC PHẪU THUẬT
Nguyễn Tấn Việt*, Elizabeth Esterl**, Trần Thiện Trung***
TÓM TẮT
Đại cương: Trong cuộc sống, khi xuất hiện những thay đổi (nằm viện, phẫu thuật và sự hỗ trợ xã hội) sẽ tạo
nên sự lo âu. Có rất ít thông tin nghiên cứu các yếu tố liên quan của lo âu trước phẫu thuật đặc biệt là phẫu
thuật tiết niệu trong khu vực nghiên cứu.
Mục tiêu: Xác định mức độ lo âu và các yếu tố liên quan đến lo âu trước phẫu thuật và các vấn đề hỗ trợ từ
xã hội.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang,đã tiến hành tại Khoa Tiết niệu của Bệnh viện Đại học Y Dược
thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm 96 người bệnh từ 18 tuổi trở lên trước phẫu thuật được phỏng vấn trực tiếp
trong thời gian từ 11/2017 - 6/2018. Sử dụng bộ công cụ HAD-A và MDSS để đánh giá tình trạng lo âu và hỗ
trợ từ gia đình và nhân viên y tế.
Kết quả: Tỷ lệ người bệnh có dấu hiệu lo âu trước khi thực hiện phẫu thuật là 16,7%. Điểm hỗ trợ từ gia
đình trung bình là 13,2 ± 3,2 điểm. Điểm hỗ trợ từ nhân viên y tế trung bình là 9,4 ± 2,7. Nguyên nhân dẫn đến
lo âu của người bệnh trước khi phẫu thuật chủ yếu là: sợ biến chứng 51%, sợ đau sau phẫu thuật 47,9% và lo sợ
do thời gian chờ đợi phẫu thuật lâu 46,9%. Điểm số hỗ trợ từ gia đình của nhóm không lo âu cao hơn nhóm có lo
âu. Cụ thể, nếu điểm hỗ trợ từ gia đình tăng lên 1 điểm thì tỷ lệ lo âu giảm 11% (PR = 0,89, KTC 95%: 0,81 –
0,97), p = 0,008. Những bệnh nhân nhận được tư vấn chung từ nhân viên y tế có tỷ lệ lo âu thấp hơn nhóm
không nhận được tư vấn (PR hiệu chỉnh là 0,27 KTC 95%: 0,12 – 0,62; p = 0,002).
Kết luận: Trong nghiên cứu này, mức độ lo âu của người bệnh là 16,7%. Mối quan tâm từ gia đình trung
bình là 13,2 ± 3,2 điểm, điểm hỗ trợ từ nhân viên y tế trung bình là 9,4 ± 2,7. Các yếu tố cho thấy để giảm tình
trạng lo âu là cung cấp đầy đủ thông tin và tăng cường sự hỗ trợ từ gia đình.
Từ khóa: Lo âu, lo âu trước phẫu thuật, phẫu thuật, HAD-A.
ABSTRACT
decreased by 11% (PR = 0.89, 95% CI: 0.81 - 0.97), p = 0.008. Patients receiving general counselling from healthcare workers had lower rates of anxiety than non-receiving’s (PR adjusted 0.27 to 95% CI: 0.12 to 0.62, p = 0.002).
Conclusions: In this study, the anxiety level of the patients was 16.7%. The average family support score
was 13.2 ± 3.2, the supportive point from the average health worker was 9.4 ± 2.7. Factors to reduce anxiety are
providing adequate information and increased support from the family.
Keywords: Anxiety, preoperative anxiety, surgery, HAD-A.
trí tuệ, bất đồng ngôn ngữ).
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cuộc sống ngày càng hiện đại và văn minh
thì con người có nhiều sự lo âu trong đó có lo âu
về phẫu thuật. Trong một số nghiên cứu, mức
độ lo âu dao động từ 30% - 90%(1,2,4,6). Mức độ
lo âu trước phẫu thuật cao ảnh hưởng tiêu cực
đến việc hồi phục và kiểm soát đau sau phẫu
thuật(1,5).
Các triệu chứng lo âu trước khi phẫu thuật
ảnh hưởng đến việc gây tê và an thần của bệnh
nhân cũng như ảnh hưởng đến nhịp tim của
bệnh nhân(3,4). Điều này có thể làm tăng nguy
cơ nhiễm trùng và mức độ phục hồi trong giai
đoạn hậu phẫu(7).
Trong các phẫu thuật về bụng, tỉ lệ phẫu
thuật về tiết niệu còn cao chiếm 20%(2). Có rất ít
thông tin trước phẫu thuật về cái vấn đề lo âu
của người bệnh phẫu thuật tiết niệu tại khu vực
nghiên cứu. Vì vậy, “Nghiên cứu các yếu tố liến
quan đến sự lo âu của người bệnh trước phẫu
thuật”sẽ giúp cho việc nâng cao chất lượng chăm
người bệnh được sóc tốt hơn.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
HADS-A được phát triển do Zigmond và
Snaith (1983)(11). Điểm lo âu là tổng số điểm
cho tất cả bảy câu, dao động từ 0 đến 21. Điểm
lo âu được tính như sau: 0 – 7 không lo âu, 8 –
10 có lo âu, 11 – 21 lo âu. HADS-A đã được
dịch sang tiếng Việt và sử dụng để đánh giá
tình trạng lo âu trước phẫu thuật do Võ Thị
Yến Nhi(2,8). Hiệu lực nội dung (CVI) của
HADS-A là 1. Các alpha của Cronbach được
trình bày trong các nghiên cứu trước đây dao
động từ 0,80 đến 0,81(2). Điểm càng cao thì
mức độ lo âu ở người bệnh càng tăng.
Quy mô Hỗ trợ Đa chiều (MDSS) được sử
dụng để đánh giá sự hỗ trợ xã hội. Nó được
phát triển do Winefield và cộng sự (1992)(9).
MDSS đã được điều chỉnh và dịch sang tiếng
159
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 5 * 2018
Việt sử dụng để đánh giá tình trạng lo âu
trước phẫu thuật trong nghiên cứu của Đỗ Cao
Cường(2), Võ Thị Yến Nhi(8). Chỉ số độ tin cậy
cho toàn bộ 11 câu là 0,9, hỗ trợ y tế là 0,81, hỗ
trợ gia đình/bạn bè 0,85.
Dụng cụ này có 11 mục bao gồm 06 mục hỗ
đánh giá tại thời điểm này và mẫu không đủ lớn
để đại diện cho quần thể.
KẾTQUẢ
Trong thời gian từ tháng 11 năm 2017 đến
tháng 6 năm 2018 ttại khoa Tiết niệu của Bệnh
viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh có
160
96 người bệnh được đưa vào nghiên cứu với
những đặc điểm sau:
Đặc điểm lâm sàng và quy mô hỗ trợ đa chiều
Bảng1. Đặc điểm tình trạng bệnh của đối tượng
nghiên cứu
Đặc điểm
Tần số n = 96 Tỷ lệ %
Thời gian ngủ
< 2 giờ
4
4,2
2 – 4 giờ
18
18,7
> 4 giờ
74
77,1
Bệnh kèm theo
Không
34,4
Tại thời điểm tiến hành nghiên cứu, phần
lớn các người bệnh trước khi phẫu thuật đều có
thời gian ngủ trên 4 giờ/ngày 77,1%, có 4 người
bệnh có thời gian ngủ dưới 2 giờ/ngày 4,2%. Tỷ
lệ người bệnh có bệnh kèm theo chiếm 45,8%.
Loại phẫu thuật chủ yếu sỏi đường tiết niệu 35,6%.
Bảng 2. Sự hỗ trợ từ gia đình và nhân viên y tế đánh
giá qua thang đo Quy mô hỗ trợ đa chiều (n = 96)
Đặc điểm
TB ± ĐLC* GTNN – GTLN**
Điểm hỗ trợ từ gia đình
13,2 ± 3,2
2 - 18
Điểm hỗ trợ từ nhân viên y tế 9,4 ± 2,7
2 - 15
* Trung bình ± độ lệch chuẩn
** Giá trị nhỏ nhất – giá trị lớn nhất
Điểm hỗ trợ từ gia đình trung bình là 13,2
± 3,2 điểm, thấp nhất là 2 điểm và cao nhất là
18 điểm. Điểm hỗ trợ từ nhân viên y tế trung
bình là 9,4 ± 2,7, thấp nhất là 2 điểm và cao nhất là
15 điểm.
Các vấn đề lo âu và mức độ lo âu của người
bệnh trong giai đoạn trước phẫu thuật
Thang đo HADS-A được sử dụng để đánh
giá tình trạng lo âu của đối tượng tham gia
Tần số (n=96)
Sợ chết
Có
10
Không
86
Sợ hãi không rõ
Có
11
Không
85
Tổn thất tài chính do nhập viện
Có
26
Không
70
Đau sau phẫu thuật
Có
46
Không
50
Sợ biến chứng
Có
49
Không
47
Thay đổi hình dạng cơ thể
Có
6
47,9
52,1
51,0
49,0
6,2
93,8
3,1
96,9
7,3
92,7
5,2
94,8
46,9
53,1
Nguyên nhân dẫn đến lo lắng của người
bệnh trước khi phẫu thuật chủ yếu là: sợ biến
chứng 51% (49/96), sợ đau sau phẫu thuật
47,9% (46/96) và lo sợ do thời gian chờ đợi
Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học
Nghiên cứu Y học
phẫu thuật lâu 46,9% (45/96).
Các nguyên nhân khác chiếm tỷ lệ thấp hơn,
lần lượt là: sợ tổn thất tài chính do nhập viện
27,1% (26/96), sợ hãi không rõ 11,5% (11/96), sợ
chết, sợ thiếu thông tin, sợ thay đổi hình dáng cơ
thể, sợ hủy phẫu thuật và sợ chẩn đoán không
Có
3 (15,0) 17 (85,0) 0,88 (0,27 – 2,80)
Không
13 (17,1) 63 (82,9)
1
Tình trạng bệnh trước phẫu thuật
Có
14 (17,3) 67 (82,7) 1,30 (0,33 – 5,17)
Không
2 (13,3) 13 (86,7)
1
Thông tin về phương pháp phẫu thuật
Có
2 (16,7) 10 (83,3) 1,00 (0,26 – 3,89)
Không
14 (16,7) 70 (83,3)
1
Nơi chuyển bệnh sau phẫu thuật
Có
3 (14,3) 18 (85,7) 0,82 (0,26 – 2,64)
Không
13 (17,3) 62 (82,7)
1
Thông tin chăm sóc hậu phẫu
Có
1 (11,1) 8 (88,9) 0,64 (0,10 – 4,37)
Không
15 (17,2) 72 (82,8)
1
161
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 5 * 2018
điểm số hỗ trợ từ gia đình cao hơn (PR hiệu
chỉnh là 0,89 KTC 95%: 0,80 – 0,99; p = 0,028).
nghĩa thống kê.
Bảng 6. Mối liên quan giữa hỗ trợ của gia đình và
nhân viên y tế tới tình trạng lo âu
Đặc điểm
Lo âu
Có
Không
TB ± ĐLC TB± ĐLC
PR (KTC
95%)
BÀN LUẬN
p
Điểm hỗ trợ từ gia
0,89
11,8 ± 3,2 13,5 ± 3,1
0,008
Thất nghiệp
1
--Có việc làm 0,51 (0,20– 1,29)
--Thu nhập hàng tháng*
< 2 triệu
1
--2 - < 4 triệu 1,08 (0,43– 2,74)
--≥ 4 triệu
0,26 (0,06– 1,14)
Thời gian ngủ*
≤ 4 giờ
1
--> 4 giờ
0,50 (0,20– 1.22)
--Nhận được thông tin tư vấn chung
Không
1
1
0,002
Có
0,26 (0,11 – 0,59) 0,27 (0,12 – 0,62)
Điếm hỗ trợ từ
0,89 (0,81 – 0,97) 0,89 (0,80 – 0,99) 0,028
người thân
Đặc điểm
* những biến số đã được loại ra khỏi mô hình đa biến cuối cùng.
Mô hình đa biến cuối cùng gồm 2 yếu tố
nhận được thông tin tư vấn chung và điểm số hỗ
Scale-Anxiety (HADS-A) được sử dụng để xác
định tình trạng lo âu trước phẫu thuật tiết niệu
trên 96 người bệnh, điểm lo âu có trung vị là 4,
khoảng tứ phân vị từ 1 đến 6 điểm, trong đó 0
điểm là thấp nhất và cao nhất là 12 điểm. Tỷ lệ
bệnh nhân có dấu hiệu lo âu trước khi thực hiện
phẫu thuật là 16,7% chúng tôi sử dụng trung vị,
khoảng tứ phân vị để mô tả biến số định lượng
không có phân phối chuẩn.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi sử dụng
trung vị, khoảng tứ phân vị để mô tả biến số
định lượng không có phân phối chuẩn, thang đo
HADS-A được sử dụng để đánh giá tình trạng lo
âu của đối tượng tham gia nghiên cứu, điểm lo
âu có trung vị là 4, khoảng tứ phân vị từ 1 đến 6
điểm, trong đó 0 điểm là thấp nhất và cao nhất là
12 điểm so với những nghiên cứu khác sử dụng
trung bình và độ lệch chuẩn cho các biến số định
lượng có phân phối chuẩn.
Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 5 * 2018
Trong nghiên cứu của Võ Thị Yến Nhi(8)
trung bình lo âu trước phẫu thuật của người
bệnh là 8,65 ± 4,03 điểm (khoảng rộng của thang
đo từ 0 - 21 điểm), của Đỗ Cao Cường(2) là 8,22 ±
3,82, củaYilmaz (2012)(10) điểm số lo âu 62%,
trung bình 31,91± 6,30.
Mối liên quan giữa thông tin tư vấn và lo âu
của bệnh nhân
Tỷ lệ lo âu ở nhóm bệnh nhân nhận được tư
vấn chung từ nhân viên y tế là 12,8%, bằng 0,26
lần (KTC 95%: 0,11 – 0,59) so với tỷ lệ lo âu trong
nhóm khai báo không nhận được tư vấn, sự
khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,001.
Trong nghiên cứu của Seifu Nigussie vào năm
Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học
Nghiên cứu Y học
2014(6) các yếu tố làm giảm lo lắng là cung cấp
thông tin liên quan đến lo âu và điều trị ban đầu.
Mối liên quan giữa hỗ trợ của gia đình và
nhân viên y tế tới tình trạng lo âu
Sử dụng bộ câu hỏi Multi-Dimensional
Support Scale (MDSS) để đánh giá sự hỗ trợ
dành cho người bệnh trước phẫu thuật tiết niệu,
bộ câu hỏi được chia thành hai phần sự hỗ trợ từ
gia đình/bạn bè và sự hỗ trợ từ nhân viên y tế.
Kết quả chúng tôi cho thấy điểm trung bình,
trong đó sự hỗ trợ từ gia đình/bạn bè là 11,8 ±
3,2, từ nhân viên y tế là 8,9 ± 2,7. Điểm số hỗ trợ
từ gia đình của nhóm không lo âu cao hơn nhóm
có lo âu. Cụ thể, nếu điểm hỗ trợ từ gia đình
tăng lên 1 điểm thì tỷ lệ lo âu giảm 11% (PR =
0,89, KTC 95%: 0,81 – 0,97), p = 0,008. Tuy nhiên,
propofol and sevoflurane requirements in general
anaesthesia", Br J Anaesth, 108(1), pp. 119-125.
Kocherov S, Hen Y, Jaworowski S et al (2016), "Medical clowns
reduce pre-operative anxiety, post-operative pain and medical
costs in children undergoing outpatient penile surgery: A
randomised controlled trial", J Paediatr Child Health, 52(9), pp.
877-81.
Nigussie S, Belachew T, Wolancho W (2014), "Predictors of
preoperative anxiety among surgical patients in Jimma
University Specialized Teaching Hospital, South Western
Ethiopia", BMC Surgery, 14, pp. 67-67.
Pereira L, Figueiredo-Braga M, Carvalho IP (2016),
"Preoperative anxiety in ambulatory surgery: The impact of an
164
8.
9.
10.
11.
empathic patient-centered approach on psychological and
clinical outcomes", Patient Education and Counseling, 99(5), pp.
733-738.
Võ Thị Yến Nhi (2017), “Các yếu tố liên quan đến sự lo âu của
người bệnh trước phẫu thuật tiêu hóa”, Tạp chí y học thành phố
Hồ Chí Minh, 21 (1), pp48-56.