Nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng của học sinh tại trường trung học phổ thông y jút, huyện cưkuin, tỉnh đăk lăk năm 2012 - Pdf 34

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tình trạng thể lực con người của một quốc gia là bằng chứng sinh học
cụ thể về sự phát triển của quốc gia đó, đặc biệt là sự phát triển về kinh tế và
đời sống xã hội. Để một quốc gia phát triển thì cần nhiều yếu tố, nhưng quan
trọng nhất vẫn là yếu tố con người. Sự phát triển thể lực của trẻ em bị chi phối
bởi di truyền và môi trường sống mà trong đó có dinh dưỡng và bệnh tật là
hai yếu tố có tác động rất mạnh đến phát triển của trẻ đặc biệt giai đoạn cơ thể
đang phát triển nhanh [21]. Những nghiên cứu trước đây về dinh dưỡng
thường tập trung vào đối tượng trẻ em dưới 5 tuổi, bà mẹ có thai và cho con
bú. Do đó, dữ liệu về tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe học đường còn hạn
chế. Dinh dưỡng học đường đóng vai trò rất quan trọng vì dinh dưỡng tác
động đến sức khỏe, nhận thức và do đó ảnh hưởng đến thành tích học tập
[30], [31], [39].
Ngày 28/4/2011 Chính phủ đã có quyết định 641/QĐ-TTg phê duyệt đề
án tổng thể phát triển thể lực tầm vóc của người Việt Nam giai đoạn 20112030 với mục tiêu phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam trong 20 năm
tới để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, từng bước nâng cao chất lượng giống nòi và tăng
tuổi thọ khỏe mạnh của người Việt Nam, cải thiện tầm vóc thân thể của thanh
niên Việt Nam, đối với nam 18 tuổi, năm 2020 có chiều cao trung bình 167cm
và đến năm 2030 chỉ số này là 168,5cm, đối với nữ 18 tuổi, năm 2020 chiều
cao trung bình là 156 cm và đạt 157,5 cm vào năm 2030 [1].
Nguyên nhân của suy dinh dưỡng là do chế độ ăn không đầy đủ và bất
hợp lý, phối hợp với bệnh nhiễm trùng. Những trẻ em bị suy dinh dưỡng về
sau thường học hành kém, thể lực yếu và khi trưởng thành là những người lao
động yếu đuối, những người mẹ bé nhỏ ảnh hưởng lớn đến sức lao động xã
hội và chất lượng thế hệ tương lai [56], [61]. Điều trị suy dinh dưỡng rất phức


2

3
Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Dinh dưỡng là một trụ cột cơ bản của sức khỏe con người, cuộc sống
và phát triển qua thời gian sống toàn bộ. Từ những giai đoạn đầu của sự phát
triển bào thai, lúc sinh, thời kỳ bú mẹ, trẻ em, tuổi vị thành niên, tuổi trưởng
thành và tuổi già, thực phẩm thích hợp và dinh dưỡng tốt rất cần thiết cho sự
sống còn, phát triển thể lực, phát triển tâm thần, hiệu suất và năng suất, sức
khỏe và hạnh phúc. Dinh dưỡng là nền tảng thiết yếu của phát triển con người
và quốc gia. (WHO, 2000)
Những vấn đề liên quan đến dinh dưỡng ở trẻ vị thành niên cũng như
trẻ 15-18 tuổi có thể do các yếu tố sau:
- Suy dinh dưỡng bào thai, SDD khi còn nhỏ, dưới 5 tuổi.
- Các yếu tố về lối sống như: Sống tĩnh tại, hoặc hoạt động quá mức,
uống rượu, hút thuốc lá.
- Ăn uống không đầy đủ chất dinh dưỡng.
- Có thai sớm.
- Các bệnh nhiễm trùng và các vấn đề sức khỏe khác.
Trong đó vấn đề ăn uống không đầy đủ là do: Kiểu ăn uống điển hình
của trẻ vị thành niên, thường hay bỏ bữa, rối loạn ăn uống, có những thay đổi
trong quá trình cung cấp thức ăn, thiếu tiếp cận với thực phẩm an toàn và bổ
dưỡng, thiếu nguốn cung cấp thực phẩm [39], [62].
1.1. DINH DƯỠNG VỚI LỨA TUỔI VỊ THÀNH NIÊN
Lứa tuổi vị thành niên kéo dài trong khoảng 10 năm từ 10 đến 19 tuổi.
Là thời kỳ chuyển tiếp từ trẻ em thành người lớn. Nó được đánh dấu bằng
những thay đổi xen lẫn nhau về thể chất, trí tuệ và mối quan hệ xã hội đây là
lứa tuổi dậy thì, đó là giai đoạn đánh dấu sự chín muồi, sự trưởng thành của



5
vậy nếu bị thiếu ăn, thiếu chăm sóc cũng dễ bị SDD [63]. Ngoài ra trong giai
đoạn này đặc biệt ở các em nữ thường muốn giữ vóc dáng của mình nên có
tình trạng ăn kiêng hoặc bỏ bữa ăn dẫn đến thiếu dinh dưỡng cơ thể [44].
Ở các nước đang phát triển cũng như Việt Nam tỷ lệ thiếu dinh dưỡng
trẻ em học đường vẫn còn khá cao đặc biệt là trẻ em ở các vùng nông thôn
nghèo [25], [26]. Lứa tuổi học đường ít gặp tình trạng thiếu dinh dưỡng nặng
trừ khi có nạn đói vì ở lứa tuổi này trẻ phát triển chậm hơn so với thời kỳ trẻ
dưới 5 tuổi, vì khi đói chúng có thể tự tìm thức ăn [47]. Theo nghiên cứu của
Viện Dinh dưỡng Trung Mỹ và Panama (INCAP- Institude of Nutrition of
Central America and Panama) tiến hành từ năm 1969 - 1977 theo dõi đến
1988 - 2007 tại Guatemala cho thấy chiều cao của trẻ em 3 tuổi phản ảnh
chiều cao tương ứng khi trẻ em được 18 tuổi, bằng cách cộng thêm khoảng 77
- 80 cm vào chiều cao của trẻ em lúc 3 tuổi. Vì vậy, nếu trẻ em bị thấp còi khi
còn nhỏ thì sẽ không thể cao khi trưởng thành được [4].
Giai đoạn vị thành niên là giai đoạn thứ 2 trẻ phát triển nhanh, đây là cơ
hội giúp trẻ phát triển và cải thiện những khiếm khuyết do SDD khi còn trẻ
[62]. Trẻ em nữ bắt đầu vào giai đoạn phát triển nhanh khi 10 tuổi và phát
triển đạt mức tối đa lúc 12 tuổi, tuy nhiên lứa tuổi phát triển này còn tuỳ thuộc
vào từng quốc gia khác nhau, ở các nước phát triển tuổi phát triển dậy thì
thường sớm hơn so với các nước nghèo, trẻ em nam thường phát triển lúc 12
tuổi, chậm hơn 2 năm so với trẻ nữ. Trẻ em nữ đạt được chiều cao như người
trưởng thành lúc khoảng 16 tuổi, trẻ em nam lúc khoảng 18 tuổi [63].
Theo Tanner (1962) Trong giai đoạn từ khi sinh ra đến khi trẻ 18 tuổi,
thì tốc độ phát triển chiều cao giảm dần cho đến khi trẻ bắt đầu dậy thì, giai
đoạn dậy thì chiều cao phát triển nhanh, ở nữ vào khoảng lứa tuổi 10-13, ở
nam 12-15 tuổi [53], [54].


6

tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính không lây liên quan tới béo phì khi ở
tuổi trưởng thành [8], [62], [63].
1.3. TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ XU HƯỚNG TĂNG TRƯỞNG
CỦA TRẺ LỨA TUỔI HỌC ĐƯỜNG Ở VIỆT NAM
Sau một giai đoạn dài gần 50 năm (1938-1985) chiều cao và cân nặng
trung bình của người trưởng thành hầu như không có sự khác biệt (160 cm ở
nam và 150 cm ở nữ). Tuy nhiên, khuynh hướng gia tăng về tăng trưởng ở
người trưởng thành Việt Nam đã được quan sát thấy từ đầu thập kỷ 1990 đến
nay [16], [29].
Trong giai đoạn 1985-2005, nhiều nghiên cứu quan sát thấy khuynh
hướng tăng trưởng thế tục dương tính về chiều cao và cân nặng ở trẻ em bao
gồm cả trẻ sơ sinh và trẻ 1 đến 15 tuổi, phản ánh tình trạng kinh tế xã hội và
dinh dưỡng của Việt Nam được cải thiện rõ rệt sau 20 năm đổi mới. Khuynh


8
hướng thế tục này xuất hiện ở mọi lứa tuổi của trẻ em đặc biệt ở tuổi vị thành
niên (10-15 tuổi) có gia tốc tăng trưởng cao cả về chiều cao và cân nặng cao
hơn các lứa tuổi nhỏ [17], [29].
Chúng ta không thể khẳng định chiều cao giới hạn của người Việt Nam
sẽ là bao nhiêu vì điều đó còn phụ thuộc cả vào tiềm năng di truyền nhưng khi
chế độ dinh dưỡng và mức sống được cải thiện chắc chắn chiều cao của người
Việt Nam sẽ tiếp tục tăng thông qua nhiều thế hệ. Do đó, kiên trì thực hiện
đồng bộ các can thiệp dinh dưỡng theo chu kỳ vòng đời để thúc đẩy tăng
trưởng. Kết quả nghiên cứu cả chiều dọc và nghiên cứu cắt ngang cho thấy trẻ
em ở Hà Nội trong các thời điểm nghiên cứu đều có chiều cao và cân nặng
cao hơn so với số liệu toàn quốc và tốc độ tăng trưởng thế tục cũng nhanh hơn
(tăng khoảng 1,5 đến 2cm/10 năm). Một số các nghiên cứu khác cũng cho
thấy chiều cao của người Việt Nam dần dần được cải thiện tuy nhiên ở mức
rất chậm [11], [13], [14], [27].

trọng đến giảm SDD thấp còi ở trẻ em góp phần nâng cao tầm vóc của người
Việt nam, giảm tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng, kiểm soát thừa cân, béo
phì, các bệnh mạn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng, dinh dưỡng hợp
lý cho mọi đối tượng và đảm bảo an toàn thực phẩm, sẽ có các giải pháp can
thiệp đặc thù cho các vùng, miền và các nhóm đối tượng cụ thể [16].
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng là quá trình thu thập và phân tích thông
tin, số liệu và nhận định tình hình trên cơ sở thông tin số liệu đó. Tình trạng
dinh dưỡng cộng đồng là nguồn dữ liệu quan trọng để xây dựng và đánh giá
các dự án về sức khỏe và phát triển kinh tế xã hội [5], [26].
Nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích đo đạc các biến đổi về kích
thước và cấu trúc cơ thể theo tuổi và tình trạng sinh lý [48], [61]. Các chỉ số
nhân trắc là số liệu cơ bản sử dụng trong đánh giá dinh dưỡng. Phương pháp
nhân trắc có ưu điểm là đơn giản, an toàn và có thể điều tra một mẫu lớn, có


10
thể đánh giá được các dấu hiệu về tình trạng dinh dưỡng trong quá khứ và xác
định được mức độ SDD, thừa cân hoặc béo phì. Tuy nhiên phương pháp nhân
trắc học cũng có những nhược điểm là không đánh giá được sự thay đổi về
tình trạng dinh dưỡng trong giai đoạn ngắn hoặc không nhạy để xác định các
thiếu hụt dinh dưỡng đặc hiệu. Từng giai đoạn tuổi khác nhau có các phương
pháp để xác định tình trạng dinh dưỡng như sau [6], [48]:
Bảng 1.1. Phương pháp xác định tình trạng dinh dưỡng
Trẻ sơ sinh

- Cân nặng sơ sinh
- Chiều dài năm
- Vòng đầu

Trẻ 1-59 tháng

- Vòng cánh tay và vòng cơ
- Nếp gấp da cơ tam đầu
- Phần trăm mỡ của cơ thể

>60 tuổi

- Cân nặng
- Chiều cao/ sải tay
- Vòng cánh tay
- Nếp gấp cơ tam đầu, dưới xương bả vai
- Chiều cao đầu gối
- Vòng bụng chân

Theo tham chiếu của WHO 2007, đối với đối với trẻ từ 15-18 tuổi
thuộc học sinh PTTH, những nghiên cứu về nhân trắc thường sử dụng chiều
cao, cân nặng để tính BMI theo tuổi (BAZ) và tính chiều cao theo tuổi (HAZ)
[48], [64], [65].
1.4.1. Những nghiên cứu về dinh dưỡng lứa tuổi học đường ở nước ngoài
và một số các yếu tố liên quan
Theo WHO, SDD cũng như thừa cân béo phì là những vấn đề y tế công
cộng nghiêm trọng của nhiều vùng trên thế giới, nhiều quốc gia phát triển
đang đối mặt với tình trạng thừa cân, béo phì gia tăng mạnh các bệnh không
lây; trong khi đó tại các nước kém phát triển tình trạng SDD đang là gánh
nặng cho nền kinh tế xã hội.
Hiện chưa có số liệu về tình trạng dinh dưỡng của lứa tuổi học đường
nói chung cũng như lứa tuổi 15-18 tổng thể trên toàn thế giới [31].
Theo Wang và cộng sự ghi nhận sự gia tăng tỷ lệ thừa cân ở lứa tuổi 618 tuổi ở Braxin từ 4,1% lên 15,9% (từ năm 1975 đến 1997), ở Trung Quốc từ


12

vùng nông thôn (PR=13,1 KTC 95% =5,2-33,2) [49].
Theo nghiên cứu năm 2007 tại Seychelles ở lứa tuổi 11-17 tuổi có đến
22% thừa cân, béo phì (19% nam và 24% nữ), chưa đến 45% học sinh ăn đủ
lượng rau, quả theo khuyến cáo, trong khi đó chỉ có 15% học sinh đi bộ hoặc
đi xe đạp 30 phút mỗi ngày, 54% ngồi tại chỗ hơn 3 giờ/ngày, 17% hút thuốc
ít nhất 1 điếu/ngày [67].
Theo một nghiên cứu tiến hành tại thủ đô Dhaka, Bangladesh 1997, ở
384 trẻ gái từ 10-16 tuổi cho thấy 10% trẻ gầy còm và 16% nhẹ cân [33]. Một
nghiên cứu khác tại một thành phố của Burkina Faso (Tây Phi) năm 20082009 tình trạng SDD và thiếu vi chất ở mức cao, có 38,7% có mức retinol
huyết thanh thấp, 40,4% thiếu máu, chiều cao theo tuổi thấp (còi cọc) 8,8%,
gầy còm 13,7% và tỷ lệ SDD và thiếu các vi chất ở các cùng cận thành phố
cao hơn nội thành, ở các trường công lập cao hơn ở các trường tư nhân [32].
Một nghiên cứu tiến hành tại Ethiopia trên 2009 trẻ 13-17 tuổi vào năm
2005-2006 cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa điều kiện kinh tế gia đình
với số buổi bỏ học ở trường và sức học của trẻ [55].
Theo một nghiên cứu tại Tunisia 2005, cho thấy có mối liên quan chặt
chẽ giữa điều kiện kinh tế xã hội và thay đổi chế độ ăn đặc biệt ở trẻ 15-19,
khi kinh tế phát triển chế độ ăn giàu năng lượng nhưng không hợp lý làm tăng
nguy cơ béo phì lên 4 lần (PR=4, KTC 95%=1,7-9,3) [42].
Một nghiên cứu tại Thổ Nhĩ Kỳ trên 625 học sinh từ 11-15 tuổi, cho
thấy có 8,3% béo phì, 10,2% thừa cân, 51% ăn sáng hàng ngày và chỉ có
1,9% ăn đầy đủ như khuyến cáo của tháp dinh dưỡng, trong số tham gia
nghiên cứu có 31% sử dụng thức ăn nhanh ít nhất 1 lần/ngày và 60,8% bỏ bữa


14
ăn. Các yếu tố tác động đến chế độ ăn của trẻ theo thang điểm Likert lần lượt
là: Gia đình, tình trạng sức khoẻ, nhận thức về vóc dáng, thầy cô giáo và bạn
bè với các số điểm tương ứng 7.5 ± 3.1, 7.4 ± 3.1, 6.1 ± 3.2, 4.8 ± 3.3 and 4.2
± 3.0. Nghiên cứu cũng thống kê thời gian dành cho các hoạt động tĩnh tại

Còi cọc

22 ± 16

29 ± 18

16 ± 14

24 ± 15

28 ± 22

Nhẹ cân

21 ± 15

39 ± 17

8±9

32 ± 14

28 ± 20

Gầy còm

36 ± 21

34 ± 26


29 ± 16

20 ±14

14 ± 12

23 ± 9

6±9

Tình trạng

Thừa cân, béo phì

Thống kê tỷ lệ thừa cân béo phì ở lứa tuổi học đường tại các nước tham
gia điều tra y tế học đường (GSHS) của WHO qua các năm 2003-2008 [67].


15
Bảng 1.3. Tỷ lệ thừa cân, béo phì ở một số quốc gia
Tỷ lệ %
Quốc gia

Thừa Béo

Tỷ lệ %
Quốc gia

Thừa


15

2

Ghana 2007

4

1

Jordan 2007

13

4

Uganda 2003

5


16

5

Philippines 2007

6

2

Libya 2007

16

6

Djibouti 2007

9

4

Seychelles 2007

15

8

China (Beijing) 2003


quốc gia [66]
Cùng với các điều kiện kinh tế phát triển, thói quen ăn uống và lối sống
thay đổi, tình trạng thừa cân, béo phì. Theo nghiên cứu về y tế học đường tại
Indonesia 2007 có 5,8% học sinh có nguy cơ thừa cân (BMI theo tuổi, giới
>85 th percentile và

BMI
cộng sự năm 2002 nghiên cứu tại Hà Nội và Bắc Ninh cho thấy cân nặng và
chiều cao trung bình của của học sinh thành phố (Hà Nội) cao hơn có ý nghĩa
thống kê so với học sinh cùng tuổi, cùng giới ở nông thôn (Bắc Ninh). Tỷ lệ
học sinh gầy còm ở thành phố là 5,9%, ở nông thôn là 15,4%. Tỷ lệ còi cọc ở
thành phố là 14,2%, ở nông thôn là 39%, tỷ lệ thừa cân ở thành phố là 5,1%, ở
nông thôn là 0,1% [22].


19
Một nghiên cứu về thực trạng dinh dưỡng của học sinh 6 đến 14 tuổi
(2007) trên 2100 học sinh tại 4 trường tiểu học và trung học cơ sở huyện Sóc
Sơn, Hà Nội cho thấy không có sự khác biệt về cân nặng trung bình giữa học
sinh nam và học sinh nữ. Ở tuổi 11, 12 chiều cao nữ cao hơn nam (p
như tại tỉnh Đăk Lăk, đồng thời đời sống của nhân dân ngày càng được cải
thiện, hiểu biết của nhân dân về cách nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ được nâng
cao. Tuy nhiên tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi ở nhiều vùng của tỉnh vùng sâu,
vùng xa, kinh tế còn khó khăn, dân trí thấp tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi vẫn
còn cao.


21
Bảng 1.5. Số liệu SDD

27.0

36.9

8.2

Đông Nam Bộ

8929

10.7

19.2

5.2

ĐB sông Cửu Long

19.437

16.8

28.2

7.4

Toàn quốc

94.256

34,3

41,6

6,9

2000

46,8

55,6

10,2

2006

32,8

40,4

6,8

2001

45,3

53,0

9,8


6,9

2009

28,4

38,8

7,0

2004

38,4

43,5

8,6

2010

27,0

36,9

8,2

Hiện chưa có số liệu về sức khỏe học sinh tại Đắk Lắk, tuy nhiên báo
cáo kết quả khám sức khỏe của Trung tâm y tế dự phòng tỉnh năm 2010 tại
trường một số trường THPT học trên địa bàn tỉnh, qua khám và phân loại
4515 học sinh, sức khỏe loại I có 821 học sinh (18,18%), sức khỏe loại II có

gầy thường có cảm giác mặc cảm và thiếu đi tính linh động trong cuộc sống
[27], [50], [59].


23
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng nguyên nhân chính của SDD hoặc béo
phì là phụ thuộc nhiều vào chế độ dinh dưỡng, bên cạnh đó có thể do các
nguyên nhân chuyên hóa trong cơ thể, thông qua vai trò của hệ thống thần
kinh và các tuyến nội tiết (tuyến yên, tuyến giáp, tuyến thượng thận, sinh
dục,..., các bệnh lý cấp hoặc mạn tính của cơ thể (các bệnh nhiễm trùng, chấn
thương,...) [31], [47].
Tuổi vị thành niên là lứa tuổi có tỷ lệ tử vong thấp nhất trong các nhóm
tuổi, do đó thường ít được ưu tiên quan tâm về dinh dưỡng [38]. Theo khuyến
cáo, trẻ vị thành niên cần 2420 Kcal/ngày, đây là nhu cầu năng lượng cao nhất
so với các nhóm tuổi khác, dinh dưỡng kém trong thời kỳ này đe dọa nghiên
trọng tình trang sức khỏe sau này [40].
Do có sự thay đổi về nhận thức, thể chất, xã hội và lối sống, do vậy
hành vi ăn uống của trẻ vị thành niên có nhiều thay đổi, trẻ vị [52]. Ở các
nước công nghiệp, lứa tuổi vị thành niên có sự thay đổi thói quen ăn uống,
thường bỏ bữa ăn, nhất là buổi sáng, thay vào đó thường ăn các bữa ăn nhẹ
(snack), thức ăn nhanh…, những thức ăn này thường có hàm lượng sắt, can
xi, vitamin B2, vitamin A, acide folic và chất xơ rất thấp, ăn ít rau và trái cây.
Ở các nước đang phát triển, nhất là ở các thành phố thói quen ăn uống nêu
trên cũng trở nên ngày càng phổ biến [63]. Nghiên cứu của Trần Thị Minh
Hạnh 2009 ở học sinh trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ
học sinh có thói quen không ăn sáng là 17,4%, không ăn trưa 2,6%, không ăn
tối 2,4% [12]. Theo một nghiên cứu tiến hành 1996 tại Nepal, 610 học sinh 911 tuổi cho kết quả 2/3 trẻ em ưa thích thức ăn nhanh (như snack, chip...) các
thức ăn này cung cấp khoảng 20% nhu cầu năng lượng hàng ngày, các
phương tiện quảng cáo như truyền hình, báo chí ảnh hưởng đến sự lựa chọn
thức ăn của 80% trẻ [50]. Nghiên cứu của Geok - Lin Khor tại Malaysia cho

C và Iode (WHO 2000). Lứa tuổi vị thành niên là cơ hội thứ 2 để bắt kịp sự


25
phát triển nếu như môi trường thuận lợi, đặt biệt là về phương diện dinh
dưỡng (Gopalan 1989) [66].
Sự thay đổi về chiều cao trong giai đoạn vị thành niên: 15-20% chiều
cao của người lớn có được phát triển trong giai đoạn vị thành niên. Giai đoạn
phát triển nhanh ở nam thường muộn hơn ở nữ và tốc độ phát triển đỉnh điểm
cao hơn ở nữ. Sự phát triển trong lứa tuổi vị thành niên có thể bị chậm hoặc
ngừng nếu như chế độ ăn không đáp ứng nhu cầu năng lượng hoặc hoạt động
thể lực quá mức [63].
Sự thay đổi về trọng lượng: 15-50% trọng lượng lý tưởng của người
lớn có được phát triển trong giai đoạn vị thành niên. Thời gian và trọng lượng
tăng lên ảnh hưởng đáng kể bởi năng lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao
[51], [63].
Tỷ lệ tăng trọng lượng trong giai đoạn vị thành niên thường tương ứng
với sự phát triển chiều cao. Ở trẻ nam tốc độ phát triển chiều cao thường trùng
với tốc độ tăng trọng. Trái lại, ở nữ tốc độ đỉnh của tăng trọng lượng xảy ra 6-9
tháng trước khi thay đổi về chiều cao. Trọng lượng tăng trong thời kỳ này đạt
khoảng 50% trọng lượng lý tưởng của người lớn. Bởi vì đỉnh của tăng trọng
lượng xảy ra trước đỉnh của tăng chiều cao do vậy nhiều cha mẹ và trẻ em gái
quan tâm về cân nặng. Một số trẻ em gái cố gắng giảm cân, nếu giảm cân trong
thời kỳ này có thể ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao. Thực tế này cần được
tư vấn kỹ cho trẻ và không nên giảm cân trong thời kỳ này [51], [63].
Theo nghiên cứu của Lê Nguyễn Bảo Khanh và Nguyễn Công Khẩn
mức tiêu thụ lương thực thực phẩm ở nữ học sinh tại Hà Nam cho thấy không
đáp ứng được nhu cầu theo khuyến cáo của Viện dinh dưỡng cả về số lượng
lẫn chất lượng. Hậu quả là kết quả đo nhân trắc ở các đối tượng này thấp hơn
nhiều so với quần thể tham chiếu NCHS [19], nhiều nghiên cứu khác trong và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status