ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghiên cứu các chỉ số về thể lực của con người nói riêng và đánh giá các
chỉ số nhân trắc nói chung là một bộ phận hết sức quan trọng trong quá trình
nghiên cứu các lĩnh vực về phát triển con người. Đây là một bộ phận làm cơ
sở, tiền đề cho việc xây dựng các tiêu chuẩn về số đo, kích thước nhằm chế
tạo, sản xuất những công cụ, phương tiện sinh hoạt hàng ngày.
Trong lĩnh vực y học, người ta thường điều tra, đánh giá tình trạng thể
lực và dinh dưỡng, thể lực và sức khoẻ với những quy mô lớn nhằm mục
đích tìm ra những biến đổi hình thái thể lực của cơ thể con người qua từng
giai đoạn, từng nhóm tuổi, từng chủng tộc để từ đó có những giải pháp tích
cực, chủ động khắc phục những yếu tố tồn tại có ảnh hưởng đến sức khoẻ, nòi
giống của con người.
Ngoài ra, người ta đã biết sự phát triển hình thái thể lực của con người
một mặt chịu sự ảnh hưởng của yếu tố di truyền (đột biến, chủng tộc ), một
mặt chịu sự chi phối của đời sống kinh tế, văn hoá, môi trường, khí hậu của
một quốc gia hay một quần thể người. Chính vì vậy, việc khảo sát nghiên cứu
các chỉ số về thể lực người nói riêng và nhân trắc nói chung cần phải tiến
hành định kỳ, thường xuyên. Những kết quả đó sẽ giúp chúng ta đánh giá, so
sánh tình trạng thể lực của con người ở mỗi giai đoạn khác nhau, từng bước
cập nhật các chỉ số thu nhập được ứng dụng vào thực tế kịp thời, phù hợp
trong sinh hoạt đời sống hàng ngày.
Năm 1975, ở nước ta các chỉ số nhân trắc của người Việt Nam được đưa
vào số liệu tham khảo qua đề tài “Hằng số sinh học người Việt Nam” do giáo
sư Nguyễn Tấn Gi Trọng làm chủ biên.
1
Đến năm 1986, số đo nhân trắc của người Việt Nam lần thứ hai được thu
nhập và trình bày trong “Atlat nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi
lao động” do giáo sư Võ Hưng và cộng sự biên soạn.
Từ năm 1992, các số đo nhân trắc tham khảo lần thứ ba cũng được ra
đời, mở đầu với công trình cấp bộ “Nghiên cứu điều tra cơ bản một số chỉ tiêu
nhân trắc để đánh giá tình trạng thể lực, dinh dưỡng và sự tăng trưởng của
incrementum corporis animalis limitantes) bảo vệ ngày 5/11/1754.
Về phương diện thực hành, ông đã mô tả một số kỹ thuật và mốc đo (như
chiều cao đứng, cân nặng, chiều dài chi, vòng cánh tay, vòng ngực qua núm
vú ) và sử dụng cơ số 12 thay vì hệ thập phân để cuối cùng tạo nên các bảng
mô tả kích thước nhân trắc theo tuổi và theo giới. Tuy nhiên công trình của
ông không được người ta biết tới sau một thời gian dài.
Đến năm 1885, theo Georges Olivier [32] thì đến cuối thế kỷ XIX,
Topinard trong cuốn “Các yếu tố nhân trắc học đại dương” (Elements d
Anthropologie generale) mới là người đầu tiên đã đưa thuật ngữ “Nhân trắc
học cơ thể”(Anthropologie physique) đã đánh dấu một mốc quan trọng trong
lịch sử nghiên cứu nhân trắc học.
Năm 1891, Bowditch đã công bố mẫu tăng trưởng [31], sử dụng các
đường cong biểu diễn dựa trên các bách phân vị của Galton. Galton là người
3
đầu tiên tìm ra các bách phân vị để mô tả sự phân phối các chỉ tiêu nhân trắc
của 9337 người được điều tra thống kê và công bố.
Năm 1914, nhà nhân học người Đức tên là Rudolf Martin đã cho ra đời
cuốn “Giáo trình nhân học”, tác giả này được coi là người đặt nền móng cho
khoa học nhân trắc hiện đại [29].
Cũng trong tác phẩm “Giáo trình về nhân học” này, Martin đã đề xuất và
hoàn chỉnh một số hệ thống dụng cụ đo đạc, các ứng dụng toán thống kê sinh
học rất có giá trị.
Càng về sau này, sự phát triển về nghiên cứu nhân trắc càng phong phú
và đa dạng hơn, song song với sự phát triển nhân chủng học. Tuỳ vào mục
đích nghiên cứu mà người ta chia ra: Nhân trắc nhân chủng học, chuyên
nghiên cứu hình thái các chủng tộc loài người; Nhân trắc học đường, nghiên
cứu thể lực và các tiêu chuẩn kiểm tra sức khoẻ học sinh; Nhân trắc y học,
nghiên cứu sự phát triển cơ thể trẻ em theo từng lứa tuổi, phân loại tình trạng
thể lực và dinh dưỡng, xác định thay đổi hình thái do bệnh lý [20], [29].
1.1.2 Tình hình nghiên cứu nhân trắc thể lực và khuynh hướng tăng
Năm 1967-1972, có 2 hội nghị toàn miền Bắc về hằng số sinh vật học ở
người Việt nam bình thường đã được triệu tập. Trong hai hội nghị này, hàng
chục công trình nghiên cứu về nhân trắc học đã được tổng kết trong tập
“Hằng số sinh học của ngươì Việt nam” do Nguyễn Tấn Gi Trọng làm chủ
biên (1975) [24]. Đây là những kết quả nghiên cứu được xem là chuẩn mực
tham khảo đầu tiên của người Việt nam ở hai thập kỷ 60 và 70. Các kết quả
nghiên cứu ở giai đoạn này đã xây dựng thang số phân loại các kích thước cơ
thể và các chỉ số thể lực người Việt nam trong giai đoạn đó [8], [20], [22].
5
1.1.2.3 Từ sau 1975
* Ở miền Bắc:
- Trong những năm 1975-1976: Nguyễn Quang Quyền và Lê Gia Vinh
đã tiến hành nghiên cứu tầm vóc thể lực của 2100 người (trong đó có 816 nam
và 1284 nữ), tuổi từ 16-70 [22], theo những kỹ thuật và phương pháp tiêu
chuẩn trong nhân trắc học.
- Năm 1980: Nguyễn Văn Lực và cộng sự tiến hành nghiên cứu 768 sinh
viên khu vực Thái Nguyên (trong đó có 400 nam và 368 nữ), tuổi từ 16 -25.
Trong đó thể lực nữ sinh viên tốt hơn nam sinh viên cùng lứa tuổi [8].
- Sau năm 1993, Trịnh Văn Minh và cộng sự [15] cũng đã có một công
trình nghiên cứu “Đặc điểm sinh thể con người Việt nam”.
Ngoài ra có một số tác giả khác như Nguyễn Thế Hùng (1992) [5] nghiên
cứu trên học sinh sinh viên Hải Phòng, Bùi Văn Đăng và cộng sự nghiên cứu
trên học sinh sinh viên Thái Bình (1996) đều có nhận xét chung là tầm vóc thể
lực của các nhóm đối tượng nói trên có tốt hơn nhưng không nhiều so với
hằng số sinh học người Việt nam (1975).
* Ở miền Trung:
- Năm 1985, Nguyễn Khải và cộng sự nghiên cứu về tầm vóc thể lực của
882 sinh viên khu vực Huế [10].
- Năm 1986, Nguyễn Khải và cộng sự đã nghiên cứu tầm vóc thể lực của
2836 người tuổi từ 16-60 ở xã Thuỷ Dương Huế.
nam và đã đưa ra các số liệu đánh giá về tình trạng dinh dưỡng cũng như
thang phân loại độ béo, gầy theo các tiêu chuẩn khác nhau.
Cũng trong thập kỷ này, năm 1986, tập “Atlat nhân trắc học người Việt
Nam trong lứa tuổi lao động’’ của viện nghiên cứu bảo vệ lao động do Võ
7
Hưng chủ biên đã được ra đời [29]. Đây là một công trình nghiên cứu được
xem chuẩn mực tham khảo thứ 2, đại diện cho thập kỷ 80.
- Sang thập kỷ 90, một công trình nghiên cứu có tầm vóc lớn đã được
Trịnh Văn Minh và cộng sự tổng kết và được xem là chuẩn mẫu tham khảo
thứ 3 đại diện cho thập kỷ này [14].
Tóm lại, những công trình nghiên cứu về tầm vóc thể lực của người Việt
nam trong thời gian qua có thể nhận thấy :
+ Người Việt nam thuộc loại nhỏ bé so với thang phân loại của thế giới
nhưng thể lực cũng vẫn đủ tốt để đảm bảo sinh hoạt và lao động.
+ Người Việt nam trong lứa tuổi lao động (17-55) có chiều cao và trọng
lượng cơ thể thuộc loại trung bình thấp của thế giới.
+ Sự chênh lệch giới tính (nam và nữ) về chiều cao, các vòng và trọng
lượng là có ý nghĩa thống kê thuộc loại bình thường thường gặp trên thế giới.
Nhiều kích thước cơ thể tăng dần từ miền Bắc vào miền Nam. Sự khác
biệt của một số kích thước giữa các miền theo lớp tuổi trẻ và giảm dần theo
các lớp tuổi là có ý nghĩa thống kê. Mức chênh lệch về các kích thước trong
vòng từ 15-20 năm trung bình là 2cm. Có quy luật gia tăng về tầm vóc cơ thể
theo thời gian trong vòng 15 năm qua (1972-1986).
1.2. TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
1.2.1 Yếu tố ảnh hưởng đến thể lực
Lứa tuổi trước đi học và lứa tuổi học đường có ý nghĩa về mặt dinh
dưỡng, vì đây là thời gian để làm tăng thêm sự tích lũy chất dinh dưỡng của
cơ thể trong việc chuẩn bị cho sự tăng trưởng nhanh của thời kỳ thanh thiếu
niên. Giai đoạn ấu nhi thì phụ thuộc dinh dưỡng và giai đoạn tăng trưởng của
lứa tuổi trước khi học và lứa tuổi học đường là do hormon cung cấp.
9
cộng sự (1987), có một hậu quả xảy ra hoặc tồn tại giữa hai hoặc nhiều thế
hệ, vì chính những đứa trẻ có cân nặng thấp có thể có sự suy giảm về mặt
nhân trắc ở các giai đoạn tuổi sau đó [25], [52].
1.2.2 Sự tăng trưởng bù của những đứa trẻ còi trong giai đoạn thanh
thiếu niên.
Bị còi trong những năm đầu cuộc sống có thể ảnh hưởng đến sự tăng
trưởng trong giai đoạn thanh thiếu niên. Satyanarayna và cộng sự [64] so sánh
3 nhóm thanh niên Ấn độ 18 tuổi ở nông thôn theo mức độ bị còi lúc 5 tuổi.
Sự tăng thêm về chiều cao trong thời kỳ dậy thì ở nữ, những người bị còi
nhiều lúc 5 tuổi thì lớn hơn có ý nghĩa so với những người ít còi, nhưng chiều
cao cuối cùng lúc 18 tuổi vẫn bị tụt lại phía sau. Sự tăng trưởng bù một phần
cũng xảy ra ở thanh niên Mexico, những trẻ em được ăn bổ sung thì cao hơn
những trẻ cùng tuổi không dược ăn bổ sung. Trong thời kỳ thanh niên, sự
khác nhau thì nhỏ nhưng không biến mất [29]. Mặc dù như thế, một nghiên
cứu ở thanh niên Guatamala cho thấy rằng: những người bị còi trong giai
đoạn sớm của cuộc sống vẫn tiếp tục bị còi cùng mức độ suốt thời kỳ thanh
niên nếu họ vẫn duy trì cùng một môi trường sống [58]. Một kết quả tương tự
được nhận thấy trong một nghiên cứu ở trẻ em Philipin: không có sự tăng
trưởng bù [27]. Ở nông thôn Nigeria, Tây Châu Phi, một cohort trẻ em 5 tuổi
được phân thành 4 nhóm về chiều cao và được theo dõi đến 17 tuổi 46. Sự
khác nhau về chiều cao được giữ lại gần như tương tự trong thời kỳ thanh
niên cả hai giới. Sự tăng trưởng của những cô gái bị còi nhiều thì chậm hơn
hai năm so với những người bị còi ít.
Sự chậm tăng tưởng phổ biến của trẻ em ở các nước đang phát triển
vẫn còn cao, và sự tăng trưởng không bù được hoặc chỉ bù được một phần
trong thời kỳ thanh thiếu niên của những đứa trẻ bị còi đã được tường thuật
trong nhiều nghiên cứu [29], [46], [58], [64]. Tuy nhiên, thông tin vẫn còn
10
giới hạn và đôi lúc trái ngược nhau. Có bằng chứng đáng tin cậy rằng: sự tăng
xã hội của cộng đồng. Do sự phát triển này, WHO đã triệu tập một hội đồng
chuyên gia để đánh giá lại giá trị của các chỉ số nhân trắc ở các độ tuổi khác
nhau trong đánh giá sức khoẻ, dinh dưỡng, và tình trạng xã hội. Hội đồng
chuyên gia đã công nhận những nhu cầu khác nhau và sự ứng dụng của nhân
trắc trong suốt cuộc sống và chú tâm vào những vấn đề này vì chúng liên
quan đến phụ nữ mang thai và cho con bú, trẻ sơ sinh, ấu nhi, thiếu nhi, thanh
thiếu niên, người trưởng thành và người già (từ 60 tuổi trở lên).
Các nhà nhi khoa từ lâu đã sử dụng dự tăng trưởng của trẻ em như một
tham số quan trọng trong việc đánh giá sức khoẻ và tình trạng chung của trẻ.
Trong lĩnh vực dinh dưỡng, chiều cao hoặc và trọng lượng thấp liên quan đến
các dữ liệu tham chiếu đã được sử dụng như những chỉ số có giá trị kinh điển
để đánh giá suy dinh dưỡng đối với các cá thể và các nhóm; tương tự, đánh
giá trọng lượng cơ thể và độ dày của lớp mỡ dưới da đã trở thành những chỉ
số thông dụng của thừa cân hoặc béo phì.
Các chỉ số nhân trắc là sự phối hợp của sự đo lường. Chúng cần thiết
cho ý nghĩa của sự đo lường: đã có bằng chứng rằng, một giá trị trọng lượng
cơ thể đơn độc sẽ không có ý nghĩa trừ khi nó liên kết với tuổi hoặc chiều cao.
Ví dụ, sự đo lường trọng lượng và chiều cao có thể kết hợp lại để tạo nên chỉ
số khối cơ thể hoặc chỉ số trọng lượng, hoặc trọng lượng cơ thể có thể kết hợp
với chiều cao qua việc sử dụng các dữ liệu tham chiếu. Ở trẻ em, có ba chỉ số
nhân trắc thông dụng nhất là: trọng lượng theo chiều cao, chiều cao theo tuổi,
và trọng lượng theo tuổi; các chỉ số khác được sử dụng cho các nhóm tuổi
sinh lý khác, như trọng lượng đạt được của phụ nữ trong thời kỳ mang thai.
12
Nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích đo các biến đổi về kích thước
và cấu trúc cơ thể theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng. Quá trình lớn là kết quả
tổng hợp của các yếu tố di truyền và ngoại cảnh, trong đó các yếu tố về dinh
dưỡng có vai trò rất quan trọng. Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy yếu tố
dinh dưỡng hầu như giữ vai trò chi phối chính trong sự phát triển của trẻ em,
ít nhất đến 5 tuổi. Vì vậy, thu nhập các kích thước nhân trắc là bộ phận quan
dưỡng thể lực và là cơ sở để thiết kế sức chịu nén của các dụng cụ, phương
tiện học tập, lao động có liên quan [12]. Trọng lượng cơ thể tuy không nói lên
tầm vóc nhưng nó liên quan với nhiều kích thước khác, cho nên trong tất cả
các công trình nghiên cứu về dinh dưỡng đều nghiên cứu về trọng lượng cơ
thể [16]. Tuy nhiên mức độ chính xác không cao lắm, nó thay đổi tuỳ thuộc
vào thời điểm đo đạc.
Người ta nhận thấy tình trạng quá nhẹ cân hay thừa cân liên quan đến tỷ
lệ mắc bệnh và tử vong [6] và thường sử dụng chiều cao và cân nặng cùng với
một số chỉ số khác để đánh giá tình trạng dinh dưỡng cộng đồng [16].
1.3.1.3 Vòng ngực bình thường
Chỉ số, này phản ánh hình dạng lồng ngực phần nào cho ta biết khái niệm
về thể lực. Chỉ số số này càng nhỏ thì chứng tỏ người đó thể lực càng yếu và
ngược lại người khoẻ thì lồng ngực càng nở nang. Tuy nhiên phải loại trừ
những trường hợp bệnh lý như còi xương, hen phế quản.
1.3.1.4 Vòng cánh tay trái duỗi
Vong cánh tay trái duổi dùng để chỉ sự phát triển của cơ, sự tích mỡ
nên thường dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng, đặc biệt là trẻ em [12],
[33], [36].
1.3.1.5. Chỉ số PIGNET
Chỉ số PIGNET thường được được sử dụng để đánh giá thể lực nhưng lại
ít chính xác. Chỉ số càng nhỏ thì thể lực càng tốt và người thấp, béo thì lợi
14
hơn người cao. Sau này người ta khuyên dùng chỉ số này để đánh giá dinh
dưỡng hơn là thể lực [18 ].
1.3.1.6. Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index: BMI )
Chỉ số BMI có liên quan chẽ đến khối lượng mỡ trong cơ thể, do đó BMI
là một chỉ số được Tổ chức Ytế Thế giới khuyến nghị để đánh giá mức độ
béo, gầy [1 ], [11].
1.3.1.7. Chỉ số QUETELET
Chỉ số này cho biết sức nặng của một đơn vị chiều cao (dm) của một
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng phuơng pháp điều tra ngang.
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
Mẫu toàn bộ: chọn theo tiêu chuẩn nghiên cứu là có: 788 học sinh
Trong đó:
- Nam : 408
- Nữ : 380
Theo Cole T.J.[31], trong các nghiên cứu về nhân trắc học với cỡ mẫu
100 cho mỗi giới sẽ cho kết quả rất tốt. Trong nghiên cứu này, số lượng đối
tượng cho mỗi nhóm tuổi của mỗi giới cũng đạt gần đến cỡ mẫu nêu trên.
2.2.3. Dụng cụ đo đạc
- Thước đo chiều cao: thước đo này được mô phỏng theo thước đo của
Martin: thước gỗ được dán thước kim loại của Trung Quốc với độ chính xác
tính bằng milimét, kèm theo thanh trượt thẳng góc.
16
- Cân nặng: Sử dụng cân đứng UNICEF cung cấp thường dùng để cân trẻ
em với độ chính xác tính bằng 0,5 kg.
- Thước dây nhựa của Trung Quốc dùng để đo các vòng với độ chính xác
tính bằng milimét.
2.2.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Tại Trường THCS Triệu Thuận, huyện Triệu
Phong, tỉnh Quảng Trị.
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 20/12/2010 - 30 /12/2010
2.2.5. Phương thức tiến hành
Tiến hành đo các chỉ tiêu nhân trắc cơ bản theo mô hình nghiên cứu toàn
quốc. Các chỉ số được đo là:
- Cân nặng.
- Đo chiều cao đứng
- Đo vòng ngực bình thường qua mũi ức.
- Đo vòng cánh tay trái duỗi.
quốc của Trịnh Văn Minh (1993) [16] “Điều tra cơ bản một số chỉ tiêu sinh
học người Việt Nam bình thường ở thập kỷ 90”.
Nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những sai sót trong quá trình thu thập
số liệu, chúng tôi chỉ tổ chức một tổ đo. Trong đó: một người chuyên theo dõi
ghi chép kết quả trên mẫu phiếu in sẵn (mẫu “Danh sách học sinh được điều
tra các chỉ số nhân trắc”), bốn người còn lại được phân công tiến hành đo đạc
bốn chỉ số thể lực cần thu thập (mỗi người chỉ phụ trách đo một chỉ số duy
nhất).
18
2.3. XỬ LÝ SỐ LIỆU
Số liệu được xử lý bằng Phương pháp thống kế y học dùng phần mền
SPSS.
* Phương pháp phân tích:
- Tính các chỉ số hình thái, thể lực, dinh dưỡng:
+ Chỉ số BMI được tính như sau:
BMI=
2T
P
Trong đó: * P: là trọng lượng tính bằng kg
* T: là chiều cao đứng tính bằng m
Mức độ béo gầy được tính như sau:
* Gầy: BMI <18,5
* Bình thường: BMI=18.5-22.9
* Nguy cơ béo phì: BMI
≥
23
+ Chỉ số pignet được tính như sau:
PIGNET= T- (P + VNBT)
Trong đó: * T: là chiều cao tính bằng cm.
* P: là trọng lượng tính bằng kg.
A B
A B
A B
X X
n n
δ δ
−
−
Trong đó:
* n
A
và n
B
là số lần quan sát của mẫu A và B.
*
A
δ
và
B
δ
là độ lệch chuẩn của giá trị trung bình của mẫu A và B.
*
A
X
và
B
X
là hai giá trị trung bình của 2 mẫu A và B bằng nhau
A
X
N % n % n %
12 80 19,6 81 21,3 161 20,4
13 112 27,5 83 21,8 195 24,7
14 110 27,0 117 30,8 227 28,8
15 106 26,0 99 26,1 205 26,0
Biểu đồ 3.1. Phân bố giới theo tuổi
Nhận xét: Tỷ lệ nam và nữ tương đương nhau, nam (51,8%), nữ
(48,2%)
3.2. CÁC CHỈ TIÊU NHÂN TRẮC
3.2.1. Chiều cao đứng của học sinh
22
Bảng 3.2. Chiều cao đứng của học sinh
Giới Nam Nữ
n
X
SD n
X
SD
12 80 134,36 6,78 81 133,49 5,56 > 0,05
13 112 142,98 6,24 83 144,67 6,24 > 0,05
14 110 146,83 5,11 117 145,57 5,82 > 0,05
15 106 155,97 6,94 99 150,58 6,18 > 0,05
Biểu đồ 3.2. Chiều cao đứng học sinh
Chiều cao của 2 giới tăng dần theo nhóm tuổi
- 12 tuổi nam có chiều cao 134,36 ± 6,78 cm, nữ 133,49 ± 5,56 cm
- 15 tuổi nam có chiều cao 155,97 ± 5,56 cm, nữ 150,58 ± 6,18 cm
3.2.2. Cân nặng
23
Tuổi
X±SD (cm)
15 106 69,45 4,82 99 68,26 5,18 > 0,05
Biểu đồ 3.4. Vòng ngực bình thường của học sinh
Vòng ngực bình thường của 2 giới tăng dần theo nhóm tuổi, tất cả lứa
tuổi của nam đều có vòng ngực bình thường cao hơn nữ. Trong đó:
- 12 tuổi nam có 62,00 ± 3,36 cm, nữ 60,54 ± 2,98 cm
- 15 tuổi nam có 69,45 ± 4,82 cm, nữ 68,26 ± 5,18 cm
25
Tuổi
X±SD (cm)