NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG THỂ LỰC VÀ DINH DƯỠNG
CỦA SINH VIÊN MỚI VÀO TRƯỜNG
CỦA ĐẠI HỌC HUẾ
Lê Đình Vấn, Nguyễn Quang Bảo Tú
Trường Đại học Y khoa, Đại học Huế
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sinh viên là một lực lượng nòng cốt của xã hội, lực lượng chính của sự
nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Chăm sóc sức khỏe của sinh
viên là một việc làm cần thiết trong đó đánh giá tình trạng thể lực và sức khỏe
trước khi vào trường Đại học là công việc không thể thiếu của bất cứ trường Đại
học nào. Đại học Huế cũng không thể nằm ngoài quy luật đó, vì vậy, chúng tôi
tiến hành đề tài “Nghiên cứu tình trạng thể lực và dinh dưỡng của sinh viên mới
vào trường của Đại học Huế” nhằm mục đích:
- Có được số liệu một số chỉ tiêu nhân trắc phổ biến của sinh viên giai đoạn
đầu thế kỷ 21
- Đánh giá tình trạng thể lực sinh viên mới trúng tuyển Đại học dựa vào
thang phân loại của Bộ Y tế.
- Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của sinh viên mới trúng tuyển theo chỉ số
khối cơ thể. II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Đối tượng: Sinh viên trúng tuyển kỳ thi đại học chính quy năm 2003 của
Đại học Huế.
- Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu ngang
- Mẫu nghiên cứu: chọn mẫu ngẫu nhiên các sinh viên đến khám sức khỏe
vào các buổi sáng. Số lượng mẫu nghiên cứu của chúng tôi là 2284 sinh viên.
Chiều
cao (cm)
Cân
nặng
(kg)
Vòng
ngực
(cm)
Rất khỏe
160 47 80 152 43 75
Khỏe
156 -
159
45 - 47 77 - 79
149 -
151
42 - 43 73 -74
Trung bình
152 -
155
41 - 45 74 - 76
145 -
148
40 - 41 71 -72
Yếu
149 -
151
39 - 40 71 - 73
142 -
Nghệ thuật
% 53,4 46,6 100,0
N 283 142 425
Nông lâm
% 66,6 33,4 100,0
N 102 338 440
Sư phạm
% 23,2 76,8 100,0
N 133 105 238
Y khoa
% 55,9 44,1 100,0
N 1083 1201 2284
Tổng
% 47,4 52,6 100,0
52.6%
47.4%
NU
NAM
Biểu đồ 1: Tỷ lệ đối tượng theo giới
Mẫu nghiên cứu gồm có 2284 sinh viên trong đó có 1083 sinh viên nam
(47,4%) và 1201 sinh viên nữ (52,6%) (bảng 3). Tuổi trung bình của mẫu nghiên
cứu là 19,40 tuổi với SD là 1,26 năm, trong đó tuổi trung bình của nam sinh viên
là 19,65 tuổi và nữ sinh viên là 19,18 tuổi
3.2. Các chỉ tiêu nhân trắc:
Bảng 4: Chiều cao đứng, cân nặng, VNTB và BMI
Giới N
Khỏe
Trung
bình
Yếu Rất yếu Tổng N 1524 429 242 63 26 2284
Cao đứng
% 66,7 18,8 10,6 2,8 1,1 100,0
N 1585 316 269 76 38 2284
Cân nặng
% 69,4 13,8 11,8 3,3 1,7 100,0
N 1444 443 267 92 38 2284
VNTB
% 63,2 19,4 11,7 4,0 1,7 100,0
Kết quả cho thấy theo thang phân loại của Bộ Y tế đa số sinh viên thuộc
loại rất khỏe (66,7% theo chiều cao đứng, 69,4% theo cân nặng và 63,2% theo
vòng ngực trung bình), còn các loại khác tỷ lệ giảm dần từ khỏe đến yếu.
3.4. Phân chia thành hai loại (yếu và bt) theo ba kích thước chiều cao,
trọng lượng và vòng ngực trung bình:
Bảng 6: Phân loại thể lực theo hai loại yếu và bình thường
Giới Tổng
Chỉ tiêu
Nam Nữ N %
N % N %
Tình trạng dinh dưỡng
Nam Nữ
Tổng
N 0 1 1
Béo
% 0,0 0,1 0,05 N 5 6 11
Thừa cân
% .5 .5 0,5
N 734 724 1458
Trung bình
% 67,9 60,5 64,0
N 267 342 609
Gầy nhẹ
% 24,7 28,6 26,7
N 58 105 163
Gầy
% 5,4 8,8 7,2
N 17 19 36
Quá gầy
% 1,6 1,6 1,6
N 1081 1197 2278
Tổng
% 100,0 100,0 100,0
Kết quả cho thấy 64% có tình trạng dinh dưỡng bình thường, 0,55% sinh
một trong ba tiêu chuẩn chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình không đạt thì
kết luận không đạt về thể lực, kết quả cho thấy 87,9% sinh viên thuộc loại thể lực
bình thường, trong đó, nam chiếm 88,6% và nữ chiếm 87,3%.
Tuy nhiên, theo chúng tôi, không nên sử dụng danh từ “khỏe, rất khỏe )
để xác định các giá trị của chiều cao cũng như cân nặng hay vòng ngực trung
bình. Cũng không cần phải phân chia thành nhiều loại mà chỉ cần chia thành hai
loại là đạt hay không đạt mà thôi.
4.3. Tình trạng dinh dưỡng theo BMI:
Chỉ số khối cơ thể đã trở thành phổ biến trong những năm gần đây để
đánh giá một cách sơ bộ tình trạng dinh dưỡng của cộng đồng đặc biệt là người
trưởng thành. Theo thang phân loại quốc tế cho thấy có 64,55% có BMI trên
ngưỡng kết luận suy dinh dưỡng (18,5 kg/m
2
). Có 35,45% thuộc nhóm suy dinh
dưỡng trong đó chủ yếu là suy dinh dưỡng nhẹ. Tỷ lệ suy dinh dưỡng này là khá
cao, các trường đại học cần chú ý đến tình trạng dinh dưỡng của sinh viên nhiều
hơn vì tình trạng dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng học tập cũng như khả năng sáng tạo của sinh viên rất nhiều. Chỉ có 0,55% có BMI nằm ở mức thừa
cân và béo phì, tỷ lệ này không đáng quan tâm.
5. KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu một số chỉ tiêu nhân trắc của 2284 sinh viên mới trúng
tuyển đại học năm 2003 chúng tôi có một số kết luận như sau:
- Chiều cao đứng của nam sinh viên 163,17 5,86 cm, nữ là 152,83
5,39cm
- Cân nặng của nam là 51,47 5,69 kg và nữ là 44,80 5,03 kg
- Vòng ngực trung bình của nam sinh viên là 79,37 4,63cm nữ sinh viên là
77,17 3,80cm
- BMI của nam sinh viên là 19,31 1,70 và của nữ sinh viên là 19,18 1,89
sinh viên có thể lực bình thường, theo phân loại dinh dưỡng theo BMI cho thấy
35,45% sinh viên năm thứ nhất bị suy dinh dưỡng và 0,55% thừa cân.
THE STUDY ON THE HEALTH AND NUTRIITION OF THE FRESHMEN OF HUE UNIVERSITY
Le Dinh Van, Nguyen Quang Bao Tu
College of Medicine, Hue University
SUMMARY
The aim of this study was to determine the robusticity and mutrition of the
new students in Hue University. Base on the section study of on 2284 students
(1083 males and 1201 females) age 19.4
1.26 years
Height, weight, thoracic circumferences are measured and and body mass
index (BMI) are calculated for each sexes.
The result showed that:87.9% students have the normal robusticity depend
on the classification of the health ministry, there are 34.55% student is
malnutrition and 0.55% student is overweight.