153
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 67, 2011
ĐẶC TÍNH SINH TRƯỞNG VÀ DINH DƯỠNG CỦA CÁ BỐNG LÁ TRE
Acentrogobius viridipunctatus (Valenciennes, 1837)
Ở HỆ ĐẦM PHÁ THỪA THIÊN HUẾ
Lê Thị Nam Thuận, Tống Thị Nga
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
TÓM TẮT
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu về đặc tính sinh trưởng và dinh dưỡng của cá
Bống lá tre Acentrogobius viridipunctatus (Valenciennes,1837) ở đầm phá Thừa Thiên Huế.
Tương quan chiều dài và trọng lượng của cá được xác định theo phương trình Berverton–Holta
là W = 3,0311 x 10
-8
x L
2,7573
, phương trình sinh trưởng Von Bertalanffy về chiều dài và trọng
lượng là L
t
= 188,46 x [1- e
-0,157( t +0,5245)
]; W
t
= 45,18 x [1- e
0,0266(t + 0,0782)
]
2,7573
. Phổ thức ăn của
b
[3]. Xác định tốc độ tăng trưởng theo Rosa Lee (1920), viết
phương trình sinh trưởng của cá Bống lá tre theo Pravdin [4]. Xác định phổ thức ăn của cá
theo Pravdin và các khóa phân loại thông dụng [1], [3], [4], [7], [8]. Xác định cường độ bắt
mồi của cá dựa vào độ no dạ dày và ruột theo thang 5 bậc (từ bậc 0 đến bậc 4) của
Lebedep [4] .
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Đặc điểm sinh trưởng và cấu trúc chủng quần của cá Bống lá tre
3.1.1. Tương quan giữa chiều dài và khối lượng
Trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cá và các động vật khác nói chung,
sự gia tăng về chiều dài và khối lượng cơ thể thường có mối liên hệ với nhau. Phân tích
339 mẫu về mối tương quan giữa này của chủng quần cá Bống lá tre được trình bày ở
bảng 1.
Từ bảng 1 cho thấy, chủng quần cá Bống lá tre được khai thác ở đầm phá Thừa
Thiên Huế có kích thước dao động trong khoảng 30-171mm tương ứng với khối lượng 3
- 38g phân bố ở 5 nhóm tuổi. Nhóm tuổi 0
+
chiếm 11,2%, có chiều dài dao động từ 30 –
96mm, khối lượng tương ứng từ 3-15g; nhóm tuổi 1
+
chiếm 23,0% với chiều dài dao
động từ 30-118mm, khối lượng tương ứng 3-21g; nhóm tuổi 2
+
nhiều nhất, chiếm 31,4%,
với chiều dài từ 67-162mm, khối lượng tương ứng là 6-30g; nhóm tuổi 3
+
có chiều dài
dao động từ 90-169mm, ứng với khối lượng từ 13-33g và nhóm tuổi 4
+
ít nhất, chiếm
Juv
30-96
102,2
0,15
3-15
16,3
0,01
38
11,2
1
+
Juv
30-109
82,9
0,01
3-21
10,7
0,12
31
9,1
Đực
60-115
88,4
0,01
5-17
11,2
0,03
20
5,9
3
+
Đực
90-169
124,4
0,13
13-33
23,7
0,13
47
13,9
Cái
90-167
117,6
0,15
13-31
21,1
0,02
42
12,4
4
+
Đực
112-171
134,4
0,21
18-35
36,1
Từ hình 2 cho thấy, sự tăng trưởng về chiều dài và khối lượng của cá Bống lá tre có
0
10
20
30
40
50
60
0
50
100
150
200
W = 3.0311x 10
-8
x L
2,7573
R
2
= 0,9603
W(g)
L(mm) 156
mối tương quan chặt chẽ với nhau, nghĩa là khi chiều dài tăng thì khối lượng của cá cũng
tăng theo. Tuy nhiên, đồ thị cho thấy sự tăng trưởng về chiều dài và khối lượng của cá Bống
lá tre không đều nhau. Cụ thể, ở giai đoạn đầu (tuổi 0
+
, 1
+
Ở mỗi loài cá, dạng vòng năm có những đặc điểm riêng tùy thuộc vào môi
trường sống và tình trạng bản thân cá. Quan sát vảy của cá Bống lá tre cho thấy, vòng
năm chỉ biểu hiện dưới dạng vân sinh trưởng dày thưa xen kẽ, sắp xếp dày sít nhau hình
thành vòng năm trên vảy cá (hình 4).
Qua bảng 1 và hình 5 cho thấy, chủng quần cá Bống lá tre ở đầm phá Thừa Thiên
Huế có cấu trúc tuổi khá đơn giản, tuổi cá không cao. Đa số cá khai thác tập trung từ tuổi
2
+
trở xuống, ứng với khối lượng 3-30g, chiếm tỉ lệ 71,6%. Đây là nhóm cá có kích thước 157
nhỏ, chất lượng và giá trị thương phẩm không cao, đa số chưa thành thục sinh dục hoặc
chỉ tham gia sinh sản lần đầu, là nguồn bổ sung quan trọng cho đàn cá bố mẹ trong thời
gian tới, nhằm đảm bảo quá trình tái sản xuất chủng quần của đàn cá trong tự nhiên. Với
tình trạng khai thác như hiện nay, sẽ làm giảm nguồn giống tự nhiên bổ sung cho chủng
quần.
Hình 5. Biểu đồ thành phần tuổi của cá Bống lá tre
3.1.3. Tốc độ tăng trưởng chiều dài hàng năm của cá Bống lá tre
Dựa trên quan điểm của Rosa Lee, căn cứ vào kết quả phân tích vảy, chúng tôi
thiết lập mối liên hệ giữa sự gia tăng chiều dài thân và kích thước vảy như sau:
L
t
= (L – 9,7) V
t
/ V + 9,7
Qua bảng 2 cho thấy trong tự nhiên, kích thước trung bình của cá Bống lá tre ở
thời điểm một năm tuổi đạt 111,2mm; hai năm tuổi đạt 139,7mm; ba năm tuổi đạt
T
3 (tb)
T
4 (tb)
mm
%
mm
%
mm
%
0
+ 38
1
+
Tuổi 4
+
158
2
+
108,3
121,1 108,3
12,8
3,8
103
3
+
120,1
142,3
145,1
120,1
22,2
0,9
3,2
0,9
339
3.1.4. Phương trình sinh trưởng của cá Bống lá tre
Phương trình sinh trưởng Von Bertalanffy (1954) về chiều dài và về khối lượng
của cá Bống lá tre được thiết lập dựa vào số liệu chiều dài và khối lượng theo nhóm tuổi
ở những mẫu cá thu được. Giá trị các tham số L
∞
, W
∞
, k, t
o
của phương trình được xác
định trong bảng 3. Từ đó, phương trình sinh trưởng về chiều dài và khối lượng của cá
Bống lá tre theo Von Bertalanffy được viết như sau:
L
t
= 188,46 x [1- e
-0,157( t +0,5245)
]
W
t
= 45,18 x [1- e
0,0266(t + 0,0782)
]
2,7573
Bảng 3. Các tham số sinh trưởng theo chiều dài và khối lượng của cá Bống lá tre
Tham số sinh trưởng
Kết quả nghiên cứu cho thấy cá Bống lá tre có phổ thức ăn khá rộng. Phân tích 159
ống tiêu hoá của cá, chúng tôi bắt gặp 27 loại thức ăn thuộc 6 ngành động thực vật khác
nhau. Trong các loại thức ăn, chủ yếu là tảo silic chiếm 36% tiếp đến là tảo lục và động
vật có xương sống chiếm 19%, chân khớp 11% và một lượng lớn mùn bã hữu cơ. Nhóm
cá nhỏ có 14 loại thức ăn được tìm thấy, trong đó phần lớn là tảo silic và động vật không
xương sống và một số động vật có xương sống có kích thước bé. Nhóm cá kích thước
vừa có 20 loại thức ăn được tìm thấy, gồm động vật không xương sống và động vật có
xương sống có kích thước nhỏ. Nhóm cá kích thước lớn, thức ăn chủ yếu là cá, tép. Các
nhóm cá đều bắt gặp tảo trong ống tiêu hoá. Điều này có lẽ liên quan đến sự hiện diện rất
nhiều của các ngành tảo này trong môi trường nước vùng đầm phá.
Như vậy, nguồn thức ăn chính của cá Bống lá tre là các loại tảo, cá nhỏ và tép.
Đặc biệt trong ống tiêu hoá của cá Bống lá tre thỉnh thoảng còn tìm thấy cá Bống con,
điều này cho thấy cá Bống lá tre có hiện tượng ăn lẫn nhau. Cá Bống lá tre có phổ thức
ăn mở rộng dần theo mức tăng kích thước. Việc phân hoá thức ăn theo kích thước giúp
cá Bống lá tre làm giảm mức độ cạnh tranh về dinh dưỡng trong cùng loài, đảm bảo
nguồn thức ăn cho cá con.
Bảng 4. Thành phần thức ăn của cá Bống lá tre
Nhóm
STT
Tên loại thức ăn
Nhóm chiều dài của cá (mm)
65 – 85
86 – 115
116 – 150
I
Cyanophyta- Ngành Tảo lam
+
6
Coscinodiscus
+
+
+
7
Amphiphora +
8
Ampora
+ 9
Cyclotella +
10
Pinularia
+
+
15
Spyrogyra
+ 16
Zygnema
+ 17
Netrium +
18
Chaetomorpha
+
+
IV
Nemathelminthes
19
Chromaderida
+
24
Cyprinidae
+
+
25
Eugraulidae
+
+
26
Labridae
+
+
+
27
Eleotridae
+
+
+
VI
Mùn bã hữu cơ
+
+
+
Tổng số
10
12
14
16
XI/08 XII/08 I/09 II/09 III/09 IV/09 V/09 VI/09 VII/09 VIII/09 IX/09 X/09
Bậc 0
Bậc 1
Bậc 2
Bậc 3
Bậc 4
Hình 7. Biểu đồ độ no của cá Bống lá tre theo các tháng nghiên cứu
0
2
4
6
8
10
12
0+ 1+ 2+ 3+ 4+
Bậc 0
Bậc 1
Bậc 2
Bậc 3
Bậc 4
Hình 8. Biểu đồ độ no theo nhóm tuổi của cá Bống lá tre
Nhìn chung, cường độ bắt mồi qua các tháng của cá ít có sự thay đổi. Các mẫu
cá thu được trong quá trình nghiên cứu đều có chứa thức ăn trong ruột và dạ dày. Đáng
lưu ý là trong các tháng, độ no bậc 0 không biểu hiện, đồng thời ngay cả trong các tháng
3,19mm (0,9%) và năm thứ 4 chỉ tăng thêm 3,23mm (0,96%). Thời gian về sau tốc độ
sinh trưởng theo chiều dài của cá càng chậm dần.
Phương trình sinh trưởng về chiều dài và khối lượng của cá Bống lá tre theo Von
Bertalanffy có dạng:
L
t
= 188,46 x [1 – e
-0,157( t + 0,5245)
]; W
t
= 45,18 x [1 - e
0,02666(t + 0,0782)
]
2,7573
4.1.3. Cá Bống lá tre có phổ thức ăn khá rộng, gồm 27 loại thuộc 6 ngành động
thực vật khác nhau. Trong các loại thức ăn, chủ yếu là tảo silic chiếm 36%, động vật
không xương chiếm tỉ lệ 19%; tảo lam chiếm 13,04%, tảo lục chiếm 10,87% và một
lượng lớn mùn bã hữu cơ. Loại thức ăn xuất hiện với tần suất cao gồm tôm, các loại tảo.
Cá bắt mồi tích cực quanh năm, nhất là nhóm có kích thước nhỏ. Nhờ vậy, cá có sự phân
hoá thức ăn theo kích thước, giúp giảm cạnh tranh về dinh dưỡng trong cùng loài.
4.2. Đề nghị
Cá Bống lá tre là loài có giá trị làm tăng tính đa dạng sinh học trong vùng đầm
phá Thừa Thiên Huế nên cần tiếp tục nghiên cứu đầy đủ hơn các đặc điểm sinh học của
loài cá này, nhằm khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn lợi lâu dài.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Trương Ngọc An, Phân loại tảo Silic phù du biển Việt Nam, Nxb. Khoa học và Kỹ
thuật, Hà Nội, 1993.
[2]. Trần Kiên, Sinh thái động vật, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1978.
[3]. Võ Văn Phú, Những phương pháp nghiên cứu sinh học của cá xương vùng nhiệt đới
W = 3,0311 x 10
-8
x L
2,7573
, Von Bertalanffy growth equation on the length and weight were L
t
=
188,46 x [1- e
-0,157( t +0,5245)
] ;W
t
= 45,18 x [1- e
0,0266(t + 0,0782)
]
2,7573
. Its food specstrum included 27
taxon groups (categories) belonging to 6 phyllums of plant and animal, within Bacillariophyta
was predominant with 36%, invertebrate was 19%, Cyanophyta was 13,04%, Chlorophyts was
10,87% and a large amount of biodetritus. Kind of food appearing with high frequency included
agars and arthropoda/shrimps. This fish had perennially prey–catching, especially group of fish
had small size. Thus, there was a decline in the level of conspecific competition.