Nghiên cứu thực trạng chăn nuôi và chế biến các sản phẩm từ cá sấu, đà điểu và đề xuất mô hình khai thác tối ưu nguồn cá sấu và đà điểu trong nước - Pdf 13


Bộ công thơng
Viện nghiên cứu da giầy Báo cáo tổng kết
đề tài nghiên cứu khoa học Nghiên cứu thực trạng chăn nuôi và
chế biến các sản phẩm cá sấu, đà điểu và
đề xuất mô hình khai thác tối u nguồn
cá sấu và đà điểu trong nớc
Chủ nhiệm đề tài: Ks. Nguyễn Hữu Cung
dụng hình thức này nên việc phát triển, mở rộng sản xuất sẽ còn gặp nhiều
khó khăn trong thời gian tới. Mặt khác hiện nay các sản phẩm đà điểu chủ
yếu đợc tiêu thụ dới dạng sản phẩm thô và sơ chế, nhất là đối với sản
phẩm da đà điểu nên hiệu quả kinh tế cha cao. Đồng thời do giá thành sản
phẩm thịt và các sản phẩm khác còn quá cao so với thu nhập của ngời tiêu
dùng nên các sản phẩm đà điểu cha thành phổ biến và cha thực sự trở
thành quan tâm của ngời chăn nuôi và ngời tiêu dùng.

2
Thực tế trình bày ở trên đòi hỏi phải có nghiên cứu về thực trạng của
việc gây nuôi, chế biến, tiêu thụ cá sấu đà điểu để từ đó có thể đề ra định
hớng cho việc phát triển bền vững của việc nuôi và khai thác cá sấu.
Thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học đợc Bộ giao, trong thời
gian một năm qua nhóm chủ nhiệm đề tài đã tiến hành thu thập các thông tin
trong và ngoài nớc đồng thời tiến hành điều tra, khảo sát thực trạng chăn
nuôi cá sấu, đà điểu trong phạm vi cả nớc. Trên cơ sở các kết quả nghiên
cứu tìm hiểu thực trạng và tham khảo nhiều mô hình chăn nuôi ở các nớc,
nhóm chủ nhiệm đề tài đã đề xuất mô hình chăn nuôi, khai thác cá sấu, đà
điểu một cách tối u phù hợp với điều kiện thực tế của nớc ta hiện nay. Hy
vọng những đề xuất của đề tài sẽ đợc áp dụng vào thực tế, góp phần năng
cao hiệu quả của việc chăn nuôi và nâng cao gía trị các sản phẩm từ cá sấu
và đà điểu.
khó khăn tồn tại lớn sau:
Đầu t vốn lớn
Chăn nuôi đà điểu cần vốn đầu t lớn và vì vậy việc phát triển chăn
nuôi đà điểu gặp không ít khó khăn. Hiện nay giá con giống quá cao do số

4
lợng con giống còn quá ít, nguồn nhập khẩu con giống cũng hạn chế, không
đủ cung ứng cho thị trờng. Mặt khác chăn nuôi đà điểu cần đầu t chuồng
trại, diện tích đồng cỏ chăn nuôi lớn vì chăn nuôi đà điểu là chăn nuôi hàng
hoá, chứ không phải là sản xuất tự cấp, tự túc. Đó là lý do vì sao chỉ có các
trang trại, doanh nghiệp có đủ tiềm lực mới có thể đầu t chăn nuôi kinh
doanh. Ngời chăn nuôi nhỏ, chăn nuôi nông hộ khó tiếp cận, áp dụng hình
thức này nên việc phát triển, mở rộng sản xuất sẽ còn gặp nhiều khó khăn
trong thời gian tới.
Công nghiệp chế biến, thị trờng cha phát triển
Hiện các sản phẩm đà điểu chủ yếu đợc tiêu thụ dới dạng sản phẩm
thô và sơ chế, nhất là đối với sản phẩm da đà điểu nên hiệu quả kinh tế cha
cao. Đồng thời do giá thành sản phẩm thịt và các sản phẩm khác còn quá cao
so với thu nhập của ngời tiêu dùng nên các sản phẩm đà điểu cha thành
phổ biến và cha thực sự trở thành quan tâm của ngời chăn nuôi và ngời
tiêu dùng.
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Khảo sát thực trạng gây nuôi, chế biến, tiêu thụ sản phẩm cá sấu, đà điểu
- Định hớng phát triển gây nuôi, chế biến, tiêu thụ sản phẩm cá sấu, đà
điểu.
1.4 Đối tợng, phạm vi và nội dung nghiên cứu của đề tài
1.4.1 Đối tợng nghiên cứu
Cá sấu, đà điểu; việc nuôi, chế biến, tiêu thụ cá sấu, đà điểu và các sản
phẩm từ chúng.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Việc nghiên cứu về con cá sấu, đà điểu đã đợc tiến hành trớc đây nhiều
năm, tuy nhiên cá sấu, đà điểu chỉ đợc nuôi tại các cơ sở nghiên cứu, và tại
một số vờn thú phục vụ cho nhu cầu giải trí của khách tham quan.

6
- Trong những năm gần đây, một số doanh nghiệp ở phía Nam đã tiến hành
gây nuôi, chế biến và tiêu thụ sản phẩm cá sấu, đà điểu và đã thu đợc nhiều
kiến thức cũng nh lợi ích từ việc nuôi cá sấu, đà điểu.
- Ngoài các cơ sở nói trên một số cơ sở t nhân ở cả hai miền cũng đã tiến
hành gây nuôi, chế biến và tiêu thụ sản phẩm cá sấu, đà điểu
- Viện Nghiên cứu Da-Giầy đã hợp tác với Trung tâm nghiên cứu gây nuôi
và phát triển cá sấu Hải Phòng cũng nh một số cơ sở phía Bắc trong việc
thuộc và chế biến sản phẩm từ da cá sấu. Viện cũng đã và đang hợp tác với
công ty Thuỵ Phơng trong nghiên cứu thuộc da đà điểu để từng bớc nâng
cao giá trị của loại da đặc biệt này.

1.5.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nớc
ở nớc ngoài cá sấu, đà điểu đã đợc nghiên cứu rất kỹ lỡng, đặc
biệt ở các nớc có điều kiện nuôi và phát triển đàn cá sấu, đà điểu nh ở úc,
Mỹ, Thái Lan, v.v. Ngoài ra nhiều nớc khác cũng đã có rất nhiều kinh
nghiệm và kiến thức trong thuộc da cá sấu, đà điểu và chế biến ra nhiều sản
phẩm có giá trị kinh tế rất cao từ da của các loại động vật hoang dã này.
vật, tấn công cả ngời. Thức ăn chủ yếu của cá sấu là các loại động vật ( cá,
chuột, ). Cá sấu phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới; sống ở sông , hồ, ao,
đầm; số ít sống ở ven bờ biển. Cá sấu thích nghi đợc với nhiều điều kiện
môi trờng. Chúng thích đầm mình dới nớc và phơi nắng ở trên cạn. ở trên
cạn cá sấu thờng bò chậm chập, thậm chí nằm im phơi nắng cứng đờ nh

8
một cây gỗ. Cá sấu trở nên hung dữ hơn khi tìm mồi ở dới nớc. Vào ban
đêm cá sấu hoạt động mạnh hơn.
2.2 Phân loại cá sấu
Cá sấu thuộc Bộ Bò sát ở nớc (cá sấu là một loại bò sát, chứ không
phải là cá). Các loài cá sấu còn đến hiện nay là nhóm cuối cùng của những
cá sấu cổ đại đã xuất hiện từ hơn 150 triệu năm trớc đây lúc đó chúng có tới
15 họ với hơn 100 giống và nhiều loài. Đến đầu đại Tân sinh đa số những cá
sấu này đã bị tuyệt chủng. Hiện nay việc phân loại cá sấu về mặt khoa học
tuy cha thật hoàn toàn thống nhất nhng ít nhất các nhà khoa học đã thống
nhất có 3 họ chính: Alligatorridae, Crocodiliae v Gavialidae trong ú phõn
thnh 7 ging v 21 loài.
Cỏc c im phõn bit gia 3 h ny đợc da vo hỡnh mừm,
kớch thc c th, s sp xp ca rng, tp quỏn v v trớ phõn loi ca
chỳng.
2.2.1 H cỏ su chớnh thc (Crocodiliae) gm 3 ging:
Ging Crocodiliae
: cú 11 loi
a. Chõu v Chõu i Dng: cú 5 loi
- Crocodylus porosus (cỏ su hoa c hay cũn gi l cỏ su nc l)
phõn b t ấn n o Fiji v min bc Australia, n c Philippine,
chỳng cựng loi vi cỏ sấu hoa c Vit Nam. Loi ny cú kh nng i xa
b bin n 1000 km, l loi cỏ hung d nht, thng tn cụng ngi, chiu
di cỏ su cú th t n 8,5m.

Tên thờng gọi-
Tên khoa học
Kích
thớc
tối đa
(m)
Phân bố địa lý Mức độ
nguy
cơ bị
tiêu
diệt
Loài tổ
đẻ
Các đặc
điểm về da
1.Cá sấu
philippine
(Crocodylus
mindorensis)
2. Cá sấu Papua
Niu Ghinê
(C.novaequineae)
3. Cá sấu đầm
3
3,5 Vẩy trung

10
lầy (C.palustnis)

4. Cá sấu nớc lợ
(C.porosus)
5. Cá sấu Xiêm
(C.siamensis) 6. Cá sấu mõm
dài giả
(Tomistoma
schlêgl) 6

4
5
Đông Nam á

Đông ấn Độ,
Đông Nam á

trung bình Vảy lớn

2.2.2 H cỏ Ngc (Alligatorridae)
Gm cú 4 ging: Alligator, Caiman, Melanoschus v Palaeosuchus bao gm
7 loi, sng min Nam Trung Quc.
Ging Alligator: cú 2 loi
- Alligator Mississpiensis: l loi cỏ su Bc M di trờn 3 m
- Alligator Chinensis: cỏ su Trung Quc sng sụng Dng t, cú
kh nng chu c mựa ụng lnh, di t 1,2 n 2 m
Ging Caiman: cú 2 loi
- Caiman crocodylus (cũn gi l cỏ su eo kớnh): sng Nam M.
- Caiman latirostus: sng Chõu M.
Hai loi ny cú kớch thc nh di 2 m
Ging Palaeosuchus
: cú 2 loi
- Palaeosuchus palperbrosus.
- Palaeosuschus trigonatus.
Hai loi ny sng vựng Amazon Chõu M, chiu di trung bỡnh 1,5 m.
2.2.3 H cỏ su mừm di (Gavialidae)
Ch cú 1 loi sng n gi l cỏ su sụng Hng (Gavialidae
gangeticus), chiu di trung bỡnh 6 m.

11

2.3 Mt s c im sinh hc ca cỏ su:
Cá sấu có nhiều loại nhng chúng đều có những đặc điểm sinh học
khá giống nhau.
12
Não của cá sấu có kích thước nhỏ như các loại bò sát khác nhưng phát
triển đầy đủ hơn. Cá sấu nhận biết mùi rất thính, ở đáy họng cá sấu có 2
tuyến xạ và 2 tuyến khác nữa ở trong lỗ huyệt. Nhờ tuyến này mà cá sấu có
thể giao tiếp và nhận biết nhau qua mùi.
Tai cá sấu khá thính, lỗ tai ở ngay sau mắt và đều có nắp che, cá sấu
bố mẹ thường lắng nghe và đáp lại tiế
ng gọi của đàn con.
Mắt của cá sấu có cấu trúc giúp cho nó có thể nhìn rõ ban ngày lẫn
ban đêm, vị trí của mắt giúp cho cá sấu có góc nhìn lớn cả chiều ngang và
chiều thẳng đứng, cũng giống như chim, cá sấu có một “mí mắt thứ ba”
trong suốt, gặp ánh sáng mạnh đồng tử lập tức co lại theo một khe thẳng
đứng.
Ngoài ra cá sấu còn có những nhú vị giác ở trên lưỡi và nhú xúc giác
ở trên hàm; khác với loài bò sát khác, chỉ riêng cá sấu ở
dưới răng mới có
những cơ quan nhạy cảm với áp lực (Trần Văn Vỹ - 2001)
2.3.4 Dinh dưỡng, sinh trưởng.
Cá sấu là loài ăn thịt, thức ăn chủ yếu là ếch nhái, chim, cá hay thú
nhỏ. Có khi cá sấu tấn công các loài thú lớn, kể cả thú rừng rồi dùng hàm và
chân trước xé xác con mồi. Răng cá sấu có hình côn, hơi cong vào phía
trong và cắm sâu vào trong hàm, răng mới được tạo ra liên tục ở chân răng
cũ để
thay thế vì vậy không thể dựa vào răng để định tuổi cho cá sấu.
Cá sấu tiêu hóa thức ăn khá nhanh, quá trình tiêu hóa kéo dài khoảng
70 giờ. Dạ dày có vách khỏe và dày, cá sấu có thể ngừng ăn khi bị hoảng sợ.
Chúng có thể nhịn ăn trong nhiều tháng mà vẫn sống nhưng yếu đi rõ rệt,
lượng thức ăn cho cá sấu ăn hàng ngày xấp xỉ 1/70 trong lượng thân và có

khoác. Từ mảnh da đã thuộc và trau chuốt có thể làm ra nhiều sản phẩm có
giá trị rất cao. Giá một đôi giầy có da cá sấu khoảng 1000 đô la, một ví da nữ
giá 5000 đô. Tuy nhiên đây mới chỉ là những đồ dùng nhỏ. Năm 1957 ở

14
Paris ngời ta thậm chí đã bán một quán rợu nhỏ lu động đợc bọc bằng
da cá sấu với giá 7.500 đô la Mỹ.
Tổng lợng da đợc buôn bán trên toàn thế giới là 1.318.060 tấm
(2000), 1.329.487 tấm (2001) và 1.085.195 tấm (2002), giảm gần 25 %.
Hiện nay hàng năm thị trờng da cá sấu cần đến 2 triệu tấn da cá sấu cỡ 3-4
tuổi và 20.000 tấn thịt, thị trờng chủ yếu là Trung Quốc, Mỹ và EU. Nhu
cầu về sản phẩm da cá sấu rất lớn và có giá bán cao, từ 5,5 đến 12 USD/cm.
Thịt cá sấu
Mục đích chính của việc nuôi cá sấu là lấy da, nhng trong nhiều
trờng hợp việc bán các sản phẩm phụ, nhất là thịt đôi khi cũng thu đợc kết
quả rất đáng kể. Thịt cá sấu trắng hồng, thớ sợi tơng tự nh thịt lợn, bê.
Loại thức ăn cá sấu ăn có ảnh hởng đến mùi vị của thịt cá sấu Nếu đợc
nuôi bằng thức ăn là cá, ít nhiều thịt sẽ có mùi vị của cá. Cá sấu thờng có
lớp mỡ rất dày, nhất là ở đuôi và đặc biệt ở những cá sấu nuôi nhốt trong
chuồng. Lợng đạm trong thịt cá sấu khá cao, tỷ lệ phần trăm của mỡ cũng
khá cao Để có thể thấy đợc tỷ lệ các thành phần trong thịt của cá sấu có thể
so sánh với thành phần của thịt lợn. ở thịt lợn thành phần trung bình của các
chất nh sau: đạm 13 %, mỡ 20 %, nớc 57 %.
Bảng 2. Thành phần của thịt cá sấu nuôi (theo Moody và CTV, 1980)

Thịt lấy ở Đạm thô (%) Mỡ thô (%) Nớc (%) Tro (%)
Đuôi
Ngực
Hàm
Chân

kiểu khác nhau chẳng hạn rán giòn hoặc luộc. Hiện tại trên thị trờng thịt cá
sấu đợc đóng hộp cùng với thảo dợc. Nó có hàm lợng Protein cao song ít
chất béo. Mỡ cá sấu cũng rất hữu ích. Ngời Trung quốc và ngời Singapore
sử dụng mỡ làm dầu hoặc xoa bóp vết thâm tím và bỏng. Mỡ cá sấu cũng là
một thành phần trong kem chống nắng của Australia. Ruột cá sấu đợc sử
dụng trong y học Trung quốc truyền thống.
Theo dữ liệu của CITES tổng lợng thịt cá sấu đợc buôn bán toàn thế
giới từ năm 1997 tới năm 2002 đã đạt mức trung bình gần 400 tấn mỗi năm,
dao động từ 250 tới 504 tấn. Sau thời kỳ tăng đều từ 1997 đến 2001 lợng
thịt xuất khẩu năm 2002 giảm xuống bằng mức 1998. Sự suy giảm thịt cá sấu
các loại ngoại (trừ cá sấu Crocodylus porosus của Australia) là rất rõ ràng.
Từ năm 1998 có sự dao động lớn về kim ngạch xuất khẩu của các nớc cũng
nh các loài cá sấu liên quan . Cho tới năm 1992 Mỹ là nớc xuất khẩu thịt
cá sấu Aligator mississippiensis lớn, đặc biệt là tới Đài Loan. Tuy nhiên kể
từ năm 1993 xuất khẩu thịt cá sấu Crocodylus niloticus từ Nam Phi, Zambia
và Zimbabwe đã tăng đều từ cha tới 2 tấn năm 1992 lên gần 300 tấn năm

16
2000. Xuất khẩu thịt cá sấu C.novaeguineae và C.porosus của Indonesia sang
Hong Kong tăng cho tới năm 2000. Tuy nhiên kể từ đó nớc này chỉ xuất
khẩu khoảng 666 kg năm 2001 và 628 kg năm 2002. Xuất khẩu của Papua
new Guinea tăng tới 90 tấn vào năm 2001 song giảm xuống còn 45 tấn năm
2002. Thái Lan hiện là nớc xuất khẩu cá sấu C.siamensis duy nhất vơi 56
tấn năm 2001, 25 tấn trong năm 2002 và với 13 tấn năm 2006. Thái Lan có
17 trang trại cá sấu đăng ký với CITES. Nớc này xuất khẩu 5.459 bộ da cá
sấu năm 1999, 2.417 bộ năm 2000, 4.392 năm 2001 và 3.580 bộ năm 2002.
Các nớc nhập khẩu da chính của Thái Lan là Nhật bản và Hàn Quốc. Tuy
nhiên trong năm 2001 có 2.311 tấm da đợc xuất khẩu sang Italia. Các quốc
gia khác mà Thái Lan xuất khẩu da với số lợng vài trăm tấm là Trung Quốc,
Đức, Singapore và Nam Phi.

cấp, thịt làm thực phẩm, vì lý do đó số lợng cá sấu trong tự nhiên đã giảm
nhanh và có nguy cơ tuyệt chủng do bị săn bắt nhiều. Cách đây 40-50 năm
sau chiến tranh thế giới thứ hai, tất cả các loài cá sấu trên thế giới đều là mục
tiêu để con ngời săn lùng ráo riết. Lúc đó cá sấu bị coi là những con vật có
hại, gây nguy hiểm cho ngời và gia súc nên ở nhiều nơi mọi ngời đợc
phép tự do săn bắt vì vậy chúng ngày một khan hiếm. Thực tế một số loài cá
sấu đã bị tuyệt chủng nh cá sấu sông ở Bắc Mỹ. Vào năm 1971 do nạn săn
bắt, số cá sấu trên thế giới còn ít tới mức các nớc đã nhất trí áp đặt lệnh cấm
xuất khẩu các sản phẩm cá sấu. Cá sấu đợc bảo vệ bằng cách đợc liệt vào
phụ lục 1 của CITES (Công ớc buôn bán quốc tế các loài bị đe doạ). Tuy
nhiên vào năm 1986 chúng đợc đa sang phụ lục II nghĩa là sản phẩm cá
sấu nuôi có thể đợc xuất khẩu.
Để khắc phục tình trạng săn bắt cá sấu trong tự nhiên, việc nuôi cá sấu
có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển loài động vật hoang dữ
nhng có nhiều lợi ích này. Để bảo tồn, phát triển cũng nh khai thác lợi ích

18
của cá sấu, ở một số nớc nh Thái Lan, Cămpuchia, Malaixia, Cuba, Hoa
Kỳ, Việt Nam, các trại nuôi cá sấu tập trung với số lợng lên đến hàng nghìn
con đã đợc xây dựng. Tại ấn độ và Papua New Guinea, hai dự án đầu tiên
trên thế giới về nuôi cá sấu đã đợc tổ chức Nông nghiệp và Thực phẩm của
Liên hợp quốc (FAO) triển khai vào những năm 70. ở ấn độ ngời ta đã
nuôi thử nghiệm hàng trăm con cá sấu mõm dài sông Hằng (tên khoa học là
Gavialis gangeticus) để cứu loài vật này khỏi bị tuyệt chủng. ở Papua New
Guinea cũng đã tiến hành những biện pháp mới đa cá sấu vào chơng trình
bảo vệ các động vật quí hiếm. Sau hai dự án này, tổ chức FAO còn giúp
nhiều nớc khác ở châu á-Thái Bình Dơng, châu Phi và Mỹ La Tinh cùng
phát triển nghề nuôi cá sấu.
Thái Lan là một trong những nớc nổi tiếng thế giới về nuôi cá sấu.
Trại nuôi cá sấu đầu tiên của Thái Lan và cũng là của châu á do ông Utai

số cá sấu hoang dã. Trung quốc bắt đầu nhập khẩu cá sấu C. Siamensis từ
Thái Lan năm 1997 và có lẽ đã nhập khẩu hơn 100.000 con từ 1997 tới 2002.
Nhập khẩu từ Căm puchia bắt đầu năm 2000 và trên 64.000 con đã đợc xuất
khẩu từ 2000-2002 hoặc trực tiếp từ Cămpuchia hoặc thông qua Việt Nam.
Cămpuchia cũng xuất khẩu 2000 con sang Thái Lan năm 2000 và có 6 trang
trại cá sấu đăng ký với CITES.
2.6.2 Cá sấu ở Việt Nam, tình hình nuôi, giết mổ cá sấu ở trong nớc
Cá sấu hoang dã ở Việt Nam còn rất ít và có nguy cơ bị diệt vong.
Trong tự nhiên có hai loại: cá sấu Xiêm và cá sấu hoa cà. Trc õy cá sấu
Xiêm đợc phát hiện sụng ng Nai, cỏc sui v cỏc h ln Tõy nguyờn,
tuy nhiờn hin nay cũn rt ớt. Cỏ su Xiờm cũn xut hi
n cỏc a im
nh Bu Cỏ Nam Cỏt Tiờn, h Lak Gia Lai Kon Tum v vựng Buụn
Mờ Thut. Cá sấu hoa cà (cá sấu nớc lợ, tên khoa học là Crocodylus
prosus) thng tp trung cỏc ca sụng, đợc phát hiện vựng rng Sỏc

20
chy t Vng Tu qua vnh Thỏi Lan. õy l loi cỏ su hung d, hay tn
cụng ngi, phõn b rng. Hin cú nhiu dc theo vựng b bin Duyờn Hi,
Phỳ Quc, Cụn o v phớa Tõy tnh Tin Giang.
Tháng 12/2004 cá sấu nớc ngọt hoang dã ( wild Siamese crocodile)
đợc phát hiện ở huyện Sông Hinh, tỉnh Phú yên và thông tin này đã đợc
kiểm tra, khẳng định lại vào tháng 6 năm 2005 trong cuộc khảo sát tiến hành
bởi tổ chức bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững vùng sông
Mêkông (MWBP), Viện sinh học nhiệt đới ( ITB), Tổ chức bảo tồn động
thực vật quốc tế ( FFI), chính quyền địa phơng hai nớc Việt Nam và Căm
pu chia. Cuộc khảo sát này khẳng định có một nhóm nhỏ cá sấu nớc ngọt
hoang dã sống ở khu vực nói trên. Đây là một phát hiện quan trọng và có ý
nghĩa đối với Việt Nam bởi vì loại cá sấu này đợc cho rằng đã bị diệt vong
trong tự nhiên và đã đợc liệt vào danh sách loại động vật có nguy cơ bị diệt

- Có trại nuôi sinh sản đợc đăng ký với chi cục kiểm lâm địa phơng
- Có sản phẩm từ thế hệ F2 trở lên ( thế hệ F1 là con của cặp bố mẹ ( FO)
đợc đánh bắt từ tự nhiên và số lợng cá sấu F2 phải trên 10.000 con.
- Trại nuôi có đăng ký với Ban th ký Công ớc CITES , do cơ quan thẩm
quyền quản lý CITES -Việt Nam đề xuất theo đúng quy định của Công
ớc CITES.
- Có Quota xuất khẩu đợc Ban th ký Công ớc CITES phê chuẩn.
- Chủ trại phải có trách nhiệm ghi chép, lập hồ sơ theo 15 tiêu chí của
CITES.

Ngoài cá sấu nớc ngọt, ở Việt Nam hiện còn nuôi 2 loài cá sấu nữa
đó là cá sấu nớc lợ và cá sấu Cuba.
- Cá sấu nớc lợ (còn gọi là cá sấu hoa cà, cá sấu hoa, cá sấu đa sừng, cá sấu
lửa, cá sấu Đồng Nai) có tên khoa học là Crocodylus porosus. Thân có màu
vàng ánh, sắc mầu xanh lá cây, có vẩy đen xen lẫn; đầu dài và thuôn. Con
trởng thành dài 6-8 m. Loài này sống thích hợp ở các vùng nớc lợ cửa sông

22
Mêkông và sông Đồng Nai (Nam bộ) nh Cần giờ ( Hồ Chí Minh). Minh
Hải, Vũng tầu, Côn đảo, Phú Quốc.Cá sấu nớc lợ có kích thớc da lớn,
đầu có hai gờ, có khi tấn công cả ngời, thờng nuôi 2-3 năm là bán đợc.
Bản chất giống này hung dữ, khó thuần hoá.
- Cá sấu Cuba (Crocodylus rhombiefer): thân có màu vàng sẫm pha nâu, có
xen các chấm đen. Đầu dài và hơi thuôn. Con trởng thành dài 2,5 m-3 m
thích hợp với các vùng nớc ngọt. Năm 1985 nhập vào Việt Nam 100 con,
năm 1997 ta lại nhập tiếp 150 con. Cá sấu Cuba hiện nay đang đợc nuôi ở
vờn thú Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang, Minh Hải, TP H Chớ Minh, C Mau
v mt s tnh khỏc và mới đây ở Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ
Phơng (Viện chăn nuôi). Nhiều cơ sở nuôi cá sấu của ta đã cho chúng sinh
sản đợc và đã lai thành công cá sấu Xiêm với cá sấu Cuba. Trại nuôi cá sấu

su t 2.000 3.000 con (trang tri Phng Tho, huyn Phc Long; Tri
ễng ỏn, huyn Giỏ Rai), c bit cú trang tri lng cỏ su nuụi hin cú
n 6.000 con (tri ễng Mai, huyn Phc Long)

Còn tại thành phố Hồ Chí Minh, mặc dù nghề nuôi cá sấu mới phát
triển khoảng 7 năm trở lại đây song đàn cá sấu nuôi tại và xung quanh thành
phố đã phát triển rất nhanh và thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành địa
phơng dẫn đầu cả nớc trong xuất khẩu cá sấu và các sản phẩm từ cá sấu.
Theo Chi cục Kiểm lâm thành phố Hồ Chí Minh tính đến thời điểm tháng
10/2008, thành phố đã xuất khẩu đợc 13.000 con cá sấu sống và 19.662 tấm
da cá sấu (8.570 tấm da muối, 2.292 tấm da thuộc và 8.800 tấm da lng).
Quy đổi ra thành phố HCM đã xuất khẩu đợc khoảng 26.000 con cá sấu
tăng 77 % so với cùng kỳ năm 2007. Trong đó dẫn đầu là Công ty cá sấu Tồn
Phát xuất khẩu tới 6.980 tấm da muối, 300 tấm da thuộc và 2.800 tấm da
lng. Còn công ty lâm nghiệp Sài Gòn thì dẫn đầu xuất khẩu cá sấu sống với

24
6.800 con. Hai doanh nghiệp còn lại trong 4 doanh nghiệp của thành phố
đợc tổ chức CITES cấp hạn ngạch xuất khẩu cá sấu là Công ty cá sấu Hoa
Cà cũng xuất tới 5.200 con cá sấu sống, 1.440 tấm da cá sấu muối và 13 tấm
da thuộc, Công ty du lịch văn hoá Suối Tiên 1000 con cá sấu sống. Nếu năm
2003 Bộ NNPTNT cấp hạn ngạch xuất khẩu cá sấu cho thành phố hơn 9000
con cá sấu nhng các doanh nghiệp chỉ xuất khẩu đợc một số ít sản phẩm ra
các nớc nh Nhật, Hung ga ry, Italia theo hình thức chào hàng, quảng cáo
sản phẩm thì ở thời điểm này với tỷ lệ xuất khẩu nh trên hạn ngạch đã gấp
hơn 4 lần.Ngoài thị trờng xuất khẩu cá sấu truyền thống nh Trung quốc,
các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã thâm nhập đợc vào thị trờng mới đầy
tiềm năng nh Đức, Pháp, Canada, Hàn Quốc với những sản phẩm nh thịt
cá sấu tơi, thịt cá sấu khô, da cá sấu Ngoài lợng cá sấu đã xuất khẩu, hiện
tại các doanh nghiệp xuất khẩu chủ lực còn những hợp đồng xuất khẩu trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status