Thực trạng chăn nuôi và một số đặc điểm dịch tễ, khả năng đáp ứng miễn dịch của vacxin H5N1 phòng bệnh cúm gia cầm tại Thái Nguyên - Pdf 85


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------

NGUYỄN THẾ TĨNH THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ,
KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH CỦA VACCIN H5N1 PHÕNG
BỆNH CÖM GIA CẦM TẠI THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP


LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Hƣớng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN QUANG
TS HOÀNG VĂN DŨNG
Thái Nguyên, năm 2008

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu do tôi trực tiếp làm
dưới sự hướng dẫn của Tiến sỹ Nguyễn Văn Quang và Tiến sỹ Hoàn Văn
Dũng. Các số liệu và kết quả trình bầy trong luận văn này là hoàn toàn trung
thực, được rút ra từ tình hình thực tế hiện nay tại tỉnh Thái Nguyên và chưa hề
được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành
luận văn này đều đã được cảm ơn. Các thông tin và tài liệu trình bầy trong

Nguyên.
Những người Thầy uyên bác, mẫu mực, tận tình và chu đáo đã luôn cổ
vũ, động viên, hướng dẫn và chỉ bảo giúp tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
và hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới tập thể Cán bộ Công chức của Chi
cục Thú y tỉnh Thái Nguyên và Trạm Thú y huyện Định Hoá, Trạm Thú y
Thành phố Thái Nguyên, Trạm Thú y huyện Phú Bình đã luôn cộng tác và
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
Xin trân trọng cảm ơn tập thể Cán bộ Công chức của Viện Thú y Quốc
Gia và Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung Ương nơi tôi phân tích mẫu đã
cộng tác giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài này.
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới tập thể Cán bộ Công chức Khoa Chăn
nuôi Thú y, Khoa Sau Đại Học - Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu của mình.
Tôi xin trân thành cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp gần xa và những
người thân trong gia đình đã cùng chung lo và luôn cổ vũ động viên tôi hoàn
thành tốt công trình nghiên cứu khoa học này.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5

Với những kiến thức ít ỏi của bản thân cùng với những yêu cầu rất lớn
của đề tài, đặc biệt là nội dung nghiên cứu còn khá mới mẻ ở nước ta hiện nay
nên trong quá trình nghiên cứu và những kết quả thu được của đề tài ắt hẳn
còn nhiều thiếu sót. Kính mong các Thầy cô giáo, các Nhà khoa học và các
bạn bè đồng nghiệp tham gia đóng góp ý kiến để đề tài của tôi được hoàn
chỉnh hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn !

Tác giả

> Lớn hơn.
≥ Lớn hơn hoặc bằng.
≤ Nhỏ hơn hoặc bằng.
(+) Dương tính.
(%) Tỷ lệ phần trăm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1. Tình hình chăn nuôi gia cầm ở một số huyện, thành của
tỉnh Thái Nguyên

46
Bảng 3.2. Quy mô đàn gà nuôi trong các nông hộ. 48
Bảng 3.3. Quy mô đàn vịt nuôi trong các nông hộ. 49

Bảng 3.19. Tỷ lệ phát hiện kháng thể ở gà sau khi tiêm vaccin H5N1
21 ngày theo đàn và theo cá thể.

81
Bảng 3.20. Hiệu giá kháng thể ở gà sau tiêm vaccin H5N1 21 ngày. 83

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8

Bảng 3.21. Khả năng bảo hộ đàn gà chống cúm của vaccin H5N1. 84
Bảng 3.22. Tỷ lệ phát hiện kháng thể ở vịt sau khi tiêm vaccin H5N1
21 ngày theo đàn và theo cá thể.

86
Bảng 3.23. Hiệu giá kháng thể ở vịt sau khi tiêm vaccin H5N1 21
ngày.
87
Bảng 3.24. Khả năng bảo hộ đàn vịt chống cúm của vaccin H5N1. 89
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10 CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐƢỢC CÔNG BỐ CỦA ĐỀ TÀI

Tên công trình: “Lưu hành virus cúm và đáp ứng miễn dịch vacxin
phòng cúm của gia cầm tỉnh Thái Nguyên”.
Tên tác giả: Nguyễn Thế Tĩnh, Nguyễn Văn Quang, Hoàng Văn Dũng.
Công trình đã được duyệt và sẽ đăng trên Tạp chí khoa học kỹ thuật thú
y số 4/2008 (có giấy xác nhận của Ban biên tập kèm theo).
lông vũ như gà, vịt, ngan, ngỗng, đà điểu, các loài chim, một số động vật có
vú và con người. Bệnh có khả năng lây lan rất nhanh và mạnh. Thời gian ủ
bệnh trung bình từ vài giờ đến 3 ngày. Triệu chứng lâm sàng biểu hiện ở
nhiều dạng khác nhau, có dạng tỷ lệ chết rất cao, có dạng không biểu hiện
triệu chứng và tỷ lệ chết có thể lên đến 100% số gia cầm mắc bệnh
(Horimoto, 2001) [43].
Những năm gần đây, bệnh liên tục bùng phát ở nhiều địa phương trong
cả nước với nhiều quy mô khác nhau, trong đó có tỉnh Thái Nguyên, đã làm
chết và tiêu hủy hàng triệu con gia cầm các loại, gây thiệt hại rất lớn về kinh
tế và ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành chăn nuôi gia cầm. Đồng thời
gây lo lắng cho cộng đồng về nguy cơ lây nhiễm dịch cúm A – H5N1 ở
người. Nhiều tác giả cho rằng, sự xuất hiện của bệnh có liên quan và ảnh
hưởng rất lớn từ phương thức chăn nuôi và công tác vệ sinh thú y trong giết
mổ và lưu thông gia cầm. Để tìm hiểu tình hình thực tế ở địa phương nhằm
góp phần nâng cao hiệu quả cho công tác phòng chống dịch cúm gia cầm,
chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng chăn nuôi và một số
đặc điểm dịch tễ, khả năng đáp ứng miễn dịch của vacxin H5N1 phòng
bệnh cúm gia cầm tại Thái Nguyên”.

2. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá về thực trạng chăn nuôi, lưu thông giết mổ gia cầm ở một số
huyện thành của tỉnh Thái Nguyên.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12

- Tình hình dịch cúm gia cầm ở Thái Nguyên từ năm 2004 đến nay.
- Sự lưu hành virus cúm trên đàn gia cầm tại tỉnh Thái Nguyên.
- Xác định hiệu giá kháng thể ở gà và vịt sau tiêm phòng vaccin H5N1
(Trung Quốc).

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình chăn nuôi gia cầm ở Thái Nguyên và định hƣớng
phát triển trong thời gian tới
1.1.1. Tình hình chăn nuôi gia cầm những năm qua
Theo niên giám của Cục thống kê Thái Nguyên thì năm 2005, toàn tỉnh
có 180 xã, phường, thị trấn, 2.370 thôn xóm, khoảng 231.392 hộ và trên 80%
số hộ có chăn nuôi gia cầm. Tổng đàn gia cầm là 4.669.374 con, trong đó có
3.858.317 con gà, 811.057 con vịt, ngan và ngỗng. Có khoảng 86 trang trại
chăn nuôi gia cầm tập trung với quy mô từ 500 con gia cầm trở lên bằng
3,7%, trong đó có 20 trang trại chăn nuôi với quy mô từ 6.000 – 8.000 con gia
cầm một lứa, còn lại hầu hết là chăn nuôi nhỏ lẻ, thủ công thuộc các nông hộ.
Tại thời điểm ngày 1 tháng 8 năm 2007, tổng đàn gia cầm của tỉnh Thái
Nguyên là 5.070.959 con, trong đó có 4.196.808 con gà chiếm 82,8%,
874.151 con vịt và ngan bằng 17,2%. Có khoảng 231.403 hộ trong đó có
khoảng 80% số hộ có chăn nuôi gia cầm và có khoảng trên 200 hộ và trang
trại chăn nuôi với quy mô trên 500 con bằng khoảng 8,6%, chủ yếu ở Thành
phố Thái Nguyên và các huyện phía Nam như Phổ Yên, Sông Công, Phú Bình
và một số huyện khác như Phú Lương, Đồng Hỷ …. Tổng đàn gia cầm lớn
nhất là ở huyện Phú Bình với 1.099.022 con, tiếp theo là huyện Phổ Yên với
747.093 con và thấp nhất là ở Thị xã Sông Công với 268.670 con. Riêng
Thành phố Thái Nguyên có 538.218 con và huyện Định Hoá có 691.528 con.
Trong khi ở nước ta, tổng đàn gia cầm trước dịch cúm gia cầm cuối năm 2003
là 254,06 triệu con nhưng sang năm 2004, sau khi dịch cúm gia cầm xảy ra thì
tổng đàn gia cầm đã giảm đi 14,23% và chỉ còn 218,15 triệu con. Trong đó
miền Nam giảm 25,69% và miền Bắc giảm 6,43%. Trong khoảng 80% hộ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14



doanh, lưu thông và giết mổ. Động viên và khuyến khích người chăn nuôi và
các cơ sở chăn nuôi gia cầm đăng ký sản xuất giống, đăng ký tiêu chuẩn chất
lượng và thương hiệu giống của cơ sở mình sản xuất và kinh doanh. Tổ chức
lại thị trường tiêu thụ gia cầm và nâng cao ý thức của người dân trong việc sử
dụng thực phẩm an toàn dịch bệnh.
Nâng cao tỷ lệ tiêm phòng một số bệnh cho đàn gia cầm, đối với bệnh
cúm gia cầm phải tiêm phòng triệt để số gia cầm trong diện tiêm. Tăng cường
và thực hiện nghiêm ngặt công tác vệ sinh sát trùng tiêu độc. Thường xuyên
kiểm tra phát hiện dịch bệnh, bao vây, khống chế và dập tắt dịch bệnh ngay
khi dịch xảy ra ….
1.1.3. Một số giống gia cầm và phương thức chăn nuôi phổ biến ở
Thái Nguyên
Qua quá trình điều tra và thực hiện đề tài, chúng tôi nhận thấy, đàn gia
cầm ở Thái Nguyên hiện nay là rất phong phú về giống loài gia cầm. Trong số
các loài gia cầm phổ biến hiện nay thì gà chiếm đa số với nhiều giống khác
nhau, chủ yếu và phổ biến nhất vẫn là các giống gà địa phương như gà ri, gà
chọi, gà hồ …. Các giống gà nhập nội như gà sao, gà lương phượng, gà ai cập
và một số giống gà khác nhưng số lượng không nhiều. Một số giống vịt phổ
biến hiện nay như vịt cỏ, vịt siêu trứng, vịt khoang tầu, vịt bơ … trong đó vịt
khoang tầu và vịt bơ chiếm đa số do có trọng lượng lớn và khả năng tăng
trưởng nhanh, còn các giống vịt khác như vịt bầu bến, vịt bầu quỳ gần như
không còn. Đối với đàn ngan thì hiện nay chủ yếu và khá phổ biến là giống
ngan pháp, các giống như ngan sen, ngan trâu, ngan ré mặc dù có khả năng
chống chịu bệnh tật tốt hơn nhưng khả năng tăng trưởng chậm và trọng lượng
thấp nên hiện nay hầu như không còn phổ biến.
Cũng giống như nhiều địa phương khác trong cả nước, ở Thái Nguyên
hiện nay ngành chăn nuôi gia cầm phổ biến ở 3 phương thức chăn nuôi chính

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17

Các công trình nghiên cứu có hệ thống và chi tiết về bệnh này cũng lần
lượt được công bố ở nhiều nơi trên Thế giới như Úc năm 1975, Anh năm
1979, Mỹ năm 1983 – 1984, AiLen năm 1983 – 1984 và nhiều Quốc gia khác.
Việc các vụ dịch liên tục bùng nổ ở khắp các Châu lục trên Thế giới đã
thôi thúc Hiệp hội các nhà chăn nuôi gia cầm tổ chức Hội thảo lần đầu tiên
vào năm 1981 về chuyên đề Bệnh Cúm Gà. Hội thảo tiếp tục được tổ chức lần
hai tại Ailen năm 1987 và lần ba cũng tại Ailen năm 1992. Từ đó đến nay
bệnh ngày càng xảy ra với quy mô lớn hơn và nguy hiểm hơn nên luôn được
coi là một trong những nội dung đặc biệt quan trọng trong các Hội nghị về
dịch tễ ở khắp nơi trên Thế giới.
Bệnh được tổ chức Dịch tễ Thế giới (OIE) liệt vào danh sách một trong
bốn bệnh đỏ đặc biệt nguy hiểm đối với ngành chăn nuôi trên toàn Thế giới
do bệnh ngày càng trở nên phổ biến và gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người
chăn nuôi đồng thời làm chết nhiều gia cầm và hạn chế thương mại giữa các
nước. Đặc biệt nguy hiểm là bệnh có khả năng lây nhiễm sang con người và
cả một số loài động vật có vú khác như lợn, hải cẩu, cầy hương.
Tại Pakistan tháng 10/1994, Newe.C.W và cộng sự đã công bố dịch
cúm do virus H7 gây ra ở gà từ 7-66 tuần tuổi, làm chết 63% gà trong ổ dịch.
Năm 1997, dịch cúm gia cầm xảy ra tại Hồng Kông – Trung Quốc có
thể coi là một đại dịch trong chăn nuôi gia cầm và gây thiệt hại to lớn về mọi
mặt cho đặc khu này với hàng chục người bị tử vong do dịch cúm gà. Cũng
như vậy, tại Italia năm 2001 đã có gần 400 cơ sở chăn nuôi gia cầm bị dịch,
làm chết và tiêu huỷ 14 triệu con gia cầm các loại.
1.2.2. Tình hình bệnh cúm gia cầm
* Tình hình trong nước
Tại Việt Nam, dịch cúm gia cầm xuất hiện lần đầu tiên vào cuối tháng
12 năm 2003 tại tỉnh Hà Tây, Tiền Giang, Long An sau đó nhanh chóng phát



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19

mắc bệnh, chết và tiêu huỷ là 103.094 con, trong đó có 13.622 con gà và
89.472 con vịt ngan. Dịch xảy ra ở quy mô nhỏ lẻ, chủ yếu ở vịt dưới 3 tháng
tuổi do ấp nở gia cầm trái phép chưa được tiêm vaccin, ngoài Cà Mau và Bạc
Liêu thì hầu hết các tỉnh chỉ xảy ra ổ dịch ở quy mô rất nhỏ (1 hoặc 2 hộ) nên
đã ngay lập tức được dập tắt. Đợt 2, dịch xảy ra vào tháng 5 năm 2007 tại
Nghệ An rồi lây lan ra 167 xã phường của 70 quận huyện, thuộc 23 tỉnh
thành, làm chết và tiêu huỷ 294.849 con gia cầm, trong đó có 21.525 con gà
bằng 7,31%, 264.549 con vịt bằng 89,71% và 8.775 con ngan bằng 2,98%.
Nặng nhất là Nam Định với 26 xã phường thuộc 6 huyện thành và Nghệ An
26 xã phường thuộc 5 huyện thành. Riêng tỉnh Đồng Tháp, dịch đã 3 lần xuất
hiện trên đàn gia cầm (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2007) [3].
Năm 2008, chỉ tính đến tháng 2 đã có 17 tỉnh thành trong cả nước xuất
hiện dịch, làm chết hàng triệu con gia cầm.
* Tình hình dịch cúm tại Thái Nguyên
Riêng tỉnh Thái Nguyên, đến nay dịch cúm gia cầm đã 4 lần xuất hiện
và ở những quy mô khác nhau. Lần đầu tiên vào ngày 27 tháng 01 năm 2004
tại xã Kha Sơn, huyện Phú Bình sau đó lây lan rất nhanh ra 8/9 huyện thành
thị trong tỉnh, với tổng số 1.258 hộ có dịch, thuộc 163 xóm ở 48 xã. Làm chết
và tiêu huỷ 172.288 con gia cầm các loại chiếm 3,58% so với tổng đàn và
13.760 quả trứng. Ngày 08/4/2004 tỉnh Thái Nguyên đã công bố hết dịch cúm
gia cầm trên địa bàn toàn tỉnh. Năm 2005 dịch đã tái phát trở lại ở tỉnh Thái
Nguyên với 5 điểm có dịch thuộc 5 xóm ở 5 xã tại hai huyện là Phú Lương và
Thị xã Sông Công. Làm chết và tiêu huỷ 12.513 con gia cầm các loại. Đến
ngày 17/12/2005 dịch cúm đã được khống chế trên địa bàn toàn tỉnh. Từ đó
đến tháng 7 năm 2007, do làm tốt công tác phòng chống và tiêm phòng vaccin
nên dịch cúm gia cầm đã tạm thời được khống chế, đặc biệt là năm 2006 dịch

người và động vật (Lê Văn Năm, 2004) [18]. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu
cũng đã tìm thấy virus cúm type A ở người, lợn, ngựa và một số động vật có

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21

vú khác. Theo Nguyễn Tiến Dũng (2006) [12] thì virus cúm thuộc họ
Orthomyxoviridae được chia làm 5 giống khác nhau dựa trên cấu trúc kháng
nguyên của hai loại protein NP và M, đó là Influenza A, Influenza B,
Influenza C, Thogotovirus và Isavirus.
Virus cúm có kích thước trung bình, đường kính 80-120nm, dài 200-
300nm, trọng lượng phân tử 4,6 – 6,4dal, trên kính hiển vi điện tử tương phản
âm có dạng gần như hình cầu hoặc hạt mỏng, một số ít virus có dạng hình sợi
có thể dài một vài naromet (nm), vỏ bọc là Glycoprotein gồm protein gây
ngưng kết hồng cầu (kháng nguyên bề mặt) - Haemagglutinin (viết tắt là H)
và protein enzim có thụ thể - Neuraminidae (viết tắt là N). Đây là kháng
nguyên có vai trò quan trọng trong miễn dịch bảo hộ và có tính đa dạng cao.
Hình thái vi cấu trúc của căn nguyên bệnh được Kawaoka (1988) và
Murphy mô tả khá chi tiết và nhấn mạnh rằng ARN của virus là một sợi đơn,
âm và chia thành 8 đoạn kế tiếp nhau mang 10 mật mã cho 10 loại virion
protein khác nhau là HA, NA, NP, NS1, NS2, M1, M2, PB1, PB2 và PA.
Đoạn NS1 và NS2 dễ dàng tách được ở tế bào bị nhiễm. Tất cả 8 đoạn của sợi
ARN có thể tách và phân biệt rõ ràng thông qua biện pháp điện di
polyacrilamid gel. Các protein có vỏ bọc nhân nối 8 đoạn này với nhau, được
bọc bên ngoài bằng các protein và có màng lipid ở ngoài cùng. Thành phần
chính protein của virus chủ yếu là glycoprotein. Lipid tập trung ở màng virus
và chủ yếu là lipid có gốc phospho, số còn lại là cholesterol, glucolipid và
một số ít hydrocacbon gồm các loại men như galactose, mannose, ribose,
fructose, glucosamin.
Người ta lấy hai loại protein bề mặt là H (Haemagglutinin) và N

không như vậy thì virus sẽ bị rời ra khỏi tế bào.
Thành phần hoá học của virus gồm: ARN chiếm từ 0,8-1,1%, protein
chiếm 70-75%, lipid 20-24% và 5-8% là hydrocacbon. Lipid tập trung ở màng
virus và chủ yếu là lipid có gốc phospho. Số còn lại là cholesterol, glucolipid

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23

và một ít hydrocacbon gồm các men như galactose, mannose, ribose, fructose
và glucosamin. Thành phần chính protein của virus chủ yếu là glycoprotein.
Acid nhân của virus gồm 8 đoạn gen có cấu tạo là RNA chuỗi đơn âm.
Chính vì bản chất các đoạn gen của virus cúm là RNA do đó không có cơ chế
tự sửa chữa khi sao chép sai lệch nên chúng rất rễ bị biến đổi. Đây là điểm
đặc biệt nguy hiểm cho chăn nuôi gia cầm và đe dọa sức khoẻ con người.
Theo Voyles (2002) 50 thì có 8 đoạn ARN sợi đơn, có chiều âm, đặc
tính này cho phép sự tổ hợp di truyền trong một tế bào bị nhiễm hai hay nhiều
virus và tạo ra nhiều loại virus mới khác với virus ban đầu.

1.3. Đặc tính sinh học của virus cúm gia cầm
1.3.1. Đặc tính về nuôi cấy và lưu giữ virus
Virus cúm gia cầm phát triển tốt trong xoang niệu nang của phôi trứng
gà ấp 9 - 11 ngày tuổi. Tiêm 0,1 - 0,3ml huyễn dịch bệnh phẩm như não, phổi,
ruột, khí quản vào xoang niệu mô của phôi gà 9 - 11 ngày tuổi, hàn kín lại rồi
tiếp tục cho ấp ở 37
o
C trong 2 - 3 ngày. Một số ít chủng virus có độc lực cao
có thể làm chết phôi trong vòng 18 - 24 giờ, nước trứng thu hoạch để ở 4
o
C
qua một đêm, virus nhân lên trong nước trứng có hiện tượng ngưng kết hồng

kiện lạnh ở 4
o
C virus vẫn giữ được khả năng gây bệnh trong phân tới 30 – 35
ngày và 7 ngày ở nhiệt độ 20
o
C. Virus giữ tính gây bệnh lâu nhất trong vòng
48 giờ trên bề mặt các vật thể (Bean và cộng sự, 1982) [34].
Trong phủ tạng gia cầm, virus tồn tại 24-29 ngày, dưới ánh sáng mặt
trời chiếu trực tiếp sống được 40 giờ, trong điều kiện chiếu ở mức bình
thường sống được 15 ngày. Theo WHO (2004) [52] nghiên cứu gần đây nhất
thấy rằng virus H5N1 phân lập từ vịt có thể sống sót được 6 ngày ở 37
o
C.
Do virus cúm gia cầm có vỏ bọc ngoài là lipid nên chúng rất mẫn cảm
với các chất tẩy rửa như formaldehyde, - propiolacton, ethanol. Sau khi tẩy
vỏ bằng các chất như phenolic, NH
4
+
, natri hydrochlorit, acid loãng và
hydroxylamine có thể phá huỷ virus cúm gia cầm. Người ta thường dùng các
chất này như là các chất sát trùng hữu hiệu để tổng vệ sinh tẩy uế chuồng trại,
dụng cụ và các thiết bị dùng trong chăn nuôi khi cơ sở chăn nuôi có dịch hoặc
có nguy cơ bị đe doạ bởi các loại dịch bênh, đặc biệt là dịch cúm gia cầm.
1.3.3. Độc lực và phân loại virus cúm gia cầm
Độc lực hay còn gọi là khả năng gây bệnh của virus hay của một sinh
vật. Tuy nhiên, cần chú ý phân biệt độc lực với khả năng gây nhiễm và tính dễ
lây ở chỗ độc lực là khả năng gây ra vết thương, các triệu chứng và khả năng
gây nguy hiểm đến tính mạng sống của ký chủ. Virus cúm H5N1 có tính lây
nhiễm cho người thấp nhưng khi ở người đã bị nhiễm thì phát bệnh rất nặng
và có tỷ lệ tử vong cao, tức là nó có độc lực cao đối với con người. Độc lực

nguyên bề mặt H7. Điều này đã gây nhiều tranh cãi giữa các Nhà khoa học.
Để giải quyết một cách khoa học, các Nhà khoa học đã thống nhất dựa vào

Trích đoạn Bệnh lý đại thể Chẩn đoán virus học Điều trị bệnh Error! Bookmark not defined. Tỷ lệ tiêm phòng một số loại dịch bệnh trên đàn gia cầm Thực trạng kinh doanh, lưu thông và giết mổ gia cầm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status