Nghiên cứu thực trạng thị trường và sản xuất lâm sản xuất khẩu tại Công ty Bắc Á - Pdf 25

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do nghiên cứu.
Chính sách nhà nước đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế nói chung và
lâm nghiệp nói riêng đã tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích số lượng lớn
doanh nghiệp đầu tư vốn vào sản xuất và chế biến lâm sản phục vụ nhu cầu
ngày càng tăng trong nước và xuất khẩu. Nền kinh tế nói chung và lĩnh vực
sản xuất lâm nghiệp nói riêng đã và đang tiếp tục vận hành theo sự chi phối
của các quy luật kinh tế thị trường và ngành hàng lâm sản xuất khẩu đang
ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế
quốc dân.
Trong khi đó Việt Nam đã bắt đầu quá trình hội nhập khu vực mậu dịch
tự do AFTA và đang trong lộ trình gia nhập tổ chức thương mại thế giới
WTO. Hội nhập khu vực và thế giới đem lại nhiều cơ hội để tăng trưởng kinh
tế trong nước, thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, làm cho các sản phẩm
của Việt Nam có thể tìm được vị trí xứng đáng trên thị trường trong và ngoài
nước. Các sản phẩm lâm sản của Việt Nam có cơ hội thâm nhập các thị
trường như Nhật Bản, Châu Âu hoặc các thị trường mới như Mỹ một cách
mạnh mẽ với việc rỡ bỏ các rào cản thương mại và các thủ tục pháp lý.
Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi đó thì việc hội nhập quốc tế cũng đặt
ra nhiều khó khăn và thách thức cho nền kinh tế nói chung và ngành chế biến
lâm sản xuất khẩu nói riêng. Các sản phẩm lâm sản của Việt Nam phải tuân
thủ một cách chặt chẽ các các quy định về chất lượng sản phẩm và tiêu chuẩn
môi trường do các nước tiêu thụ quy định, phải cạnh tranh gay gắt với các
nước xuất khẩu đồ gỗ mạnh trong khu vực. Trong khi ngành chế biến lâm sản
xuất khẩu của chúng ta còn bộc lộ nhiều khó khăn chưa giải quyết được như
khó khăn về nguồn nguyên liệu, về thông tin thị trường quốc tế, về công nghệ
và vấn đề thương hiệu..v.v.
1
Do những khó khăn trên nên ngành chế biến lâm sản xuất khẩu của Việt
Nam mặc dù được đánh giá là có lợi thế cạnh tranh hơn các nước khác trong
khu vực nhưng thị phần của hàng lâm sản xuất khẩu nước ta tới các thị trường

- Phân tích vai trò ảnh hưởng của các chính sách hiện hành tới tình hình
thị trường và sản xuất của Công ty Bắc Á hiện nay và trong tương lai.
- Đề xuất được các ý kiến khuyến nghị về mặt chính sách nhằm phát triển
thị trường và nâng cao khả năng cạnh tranh của mặt hàng lâm sản xuất khẩu.
3. Đối tượng và nội dung nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu:
- Thị trường xuất khẩu lâm sản của Công ty Bắc Á trong những năm
gần đây.
- Tình hình sản xuất chế biến lâm sản của Công ty.
Nội dung nghiên cứu:
- Tìm hiểu và rà soát lại các văn bản pháp quy hiện hành có liên quan tới
ngành hàng lâm sản xuất khẩu.
- Thực trạng thị trường và tình hình sản xuất chế biến lâm sản của Công
ty.
- Đánh giá ảnh hưởng của các chính sách đang triển khai trong thực tiễn
đến thị trường và sản xuất lâm sản xuất khẩu của Công ty.
- Đề xuất khuyến nghị về mặt chính sách nhằm phát triển thị trường và
sản xuất chế biến lâm sản xuất khẩu.
4. Phương pháp nghiên cứu.
- Nghiên cứu, kế thừa tài liệu.
+ Sử dụng các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như các tạp chí
và các thông tin báo cáo của các bộ, các ngành.
+ Kế thừa các kết quả của các nghiên cứu khoa học, các khoá luận có liên
quan.
3
+ Sử dụng các báo cáo về kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty.
- Điều tra khảo sát thực tế để thu thập thông tin, số liệu về tình hình thị
trường và sản xuất của Công ty.
- Sử dụng các phương pháp phân tích kinh tế để tổng hợp và phân tích
các số liệu thông tin thu thập được.

tỷ USD hàng gỗ được cung ứng từ các nhà xuất khẩu nước ngoài. Họ chỉ
muốn giao dịch tập trung ở một, hai nhà cung cấp với số lượng lớn, thường sử
dụng đồ gỗ có thêm những chi tiết bằng vật liệu khác như kim loại, nhựa, da,
vải. Người tiêu dùng Mỹ có tính cách: không chờ đợi lâu, quyết định mua bán
nhanh theo ngẫu hứng, không thích các hàng hoá đại chúng dễ bắt chước, chỉ
thích các loại hàng mang vẻ độc đáo, thể hiện cá tính của người mua và coi
trọng đến giá cả.
2
1
Báo đầu tư, 13/10/2004
2
Báo đầu tư, 13/10/2004
5
Nhu cầu tiêu thụ đồ gỗ tại Mỹ những năm gần đây không ngừng tăng,
ước tính từ 1996 đến năm 2001 nhu cầu này tăng 33,6% (1996: tiêu thụ
23.622 triệu USD, năm 2001: tiêu thụ 31.552 triệu USD). Do trong nước
không đáp ứng đủ nên đồ gỗ nhập khẩu vào Mỹ liên tục tăng, từ mức 4.988
triệu USD năm 1996 lên 10.200 triệu USD năm 2001. Nói cách khác, đồ gỗ
nhập khẩu hiện chiếm 1/3 thị phần đồ gỗ tại Mỹ.
3
Những mặt hàng đồ gỗ được tiêu thụ chính: đồ làm từ gỗ (chiếm 44% thị
phần) gồm giường ngủ, bàn ăn, đồ gỗ phòng khách, bếp; đồ gỗ nhồi (bọc)
chiếm 37,8%, chủ yếu là salông, sôpha; đồ bọc nệm (mattress) chiếm 12,5%;
đồ làm từ kim loại chiếm 5,8%, chủ yếu là đồ ngoài trời và nhà bếp, phòng
ăn.
Vào năm 1996, Canada là nước dẫn đầu về xuất khẩu đồ gỗ vào Mỹ, đến
năm 2001 Trung Quốc đã nhảy lên vị trí thứ nhất với thị phần 33%, tiếp theo
là Canada (18%), Ý (11%), Mexico (7%), Đài Loan (5%). Sản phẩm từ Trung
Quốc gồm đồ bằng gỗ và kim loại, của Canada là bằng gỗ và của Ý chủ yếu là
loại gỗ bọc da, nệm…

tỉ USD năm 1998 và chiếm gần một nửa nhập khẩu đồ gỗ thế giới. Trong đó,
đồ làm từ gỗ chiếm gần ½. Ba Lan là nước dẫn đầu về xuất khẩu đồ gỗ vào
EU (1,3 tỉ USD năm 2000), chiếm 20% tổng nhập khẩu. Tiếp theo là
Indonesia (555 triệu USD), Trung Quốc (348 triệu USD, gấp đôi mức 1998),
Malaysia (219 triệu USD, tăng 70% so 1998)….
Trong những năm gần đây, khi chất lượng sản phẩm đồ gỗ của các
nước Châu Á được nậng cao thì thị phần của ngành sản xuất đồ gỗ ở Châu Âu
bị thu hẹp do giá thành sản xuất cao, thị phần đồ gỗ nội thất Châu Âu gần như
đang bỏ ngỏ cho hàng nhập khẩu.
6

Nhìn chung, các nước Ðông Âu và Châu Á chiếm thị phần lớn nhất tại
EU. Ðồ gỗ nhập khẩu tập trung vào các mặt hàng dành cho phòng ngủ và các
lĩnh vực khác, trừ đồ gỗ nhà bếp vốn là thế mạnh của các cơ sở tại EU. Ðồ
làm từ gỗ cao su chiếm 70% tổng lượng nhập khẩu do có kết cấu mịn, màu
sáng, dễ nhuộm màu và xử lý để giống như gỗ sồi, gỗ óc chó, gỗ anh đào…
Ngoài ra gỗ cao su còn đáp ứng được các quy định về môi trường nghiêm
nhặt của Châu Âu.
5
Báo Sài Gòn tiếp thị.
6
Báo dầu tư, 13/10/2004
7
Những yếu tố mà người tiêu dùng EU quan tâm nhất là chất lượng, tính
bền, công năng và tiện lợi. Ngoài ra đồ gỗ làm từ gỗ sồi, gỗ thích, gỗ tếch (giá
tị) và các loại gỗ màu đen khác cũng được chuộng do khuynh hướng hoài cổ
của người tiêu dùng.
Hiện nay mặt hàng đồ gỗ chưa được EU bảo hộ, nên các yêu cầu về
mặt hàng này chưa quá khắt khe, đặc biệt là vấn đề thuế theo chế độ ưu đãi
thuế quan phổ cập. Song EU cũng đòi hỏi các nước xuất khẩu phải trình

chính đối với thị trường đồ gỗ. Do sở thích người tiêu dùng thay đổi cùng với
sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu đã khiến cho các doanh nghiệp chế biến gỗ
bản địa phải thu hẹp dần sản xuất, vốn chỉ tạo ra sản phẩm kém cạnh tranh do
chi phí lao động cao hơn.
Trung Quốc: Trong những năm gần đây, Trung Quốc đang là một hiện
tượng mới, một đối tác lớn trên thị trường lâm sản thế giới. Các sản phẩm gỗ
của Trung Quốc có sức cạnh tranh lớn do chất lượng tốt, giá bán rẻ, phù hợp
với thị hiếu khách hàng và được đánh giá là thân thiện với môi trường. Hiện
nay sản lượng ván gỗ nhân tạo của Trung Quốc đạt khoảng 21 triệu m
3
, đứng
thứ hai trên thế giới. Sản lượng ván sợi MDF đạt 5,3 triệu m
3
năm 2001 đang
dẫn đầu thế giới. Ngành sản xuất giấy và bìa các tông cũng chỉ đứng sau Mỹ,
với sản lượng đạt được năm 2001 là 32 triệu tấn. Trong khi đó ngành công
nghiệp đồ gỗ đang giữ mức tăng trưởng hàng năm là 15%. Nhiều xí nghiệp
chế biến gỗ tư nhân đã nhập lại với nhau và trở thành lực lượng chủ đạo trong
ngành công nghiệp rừng Trung Quốc do ưu thế cạnh tranh lớn.
1.2.Thị trường nguyên liệu thế giới.
Trong những năm gần đây, nguồn cung cấp gỗ nhiệt đới cho thị trường
thế giới là khu vực Đông Nam Á (Malaysia, Indonesia, Myanmar), Amazon
(Brazil, Peru), Châu Phi (Ghana, Gabon, Congo, Liberia và cộng hoà Trung
Phi) và nguồn cung cấp gỗ ôn đới là chủ yếu là Nga, Canada, vv...
Tình hình xuất nhập khẩu gỗ tròn, gỗ hộp trên thế giới những năm vừa
qua có những biến quan trọng. Trong khi các nước xuất khẩu chủ yếu như
Mỹ, Malaysia đang có xu hướng giảm xuất khẩu các mặt hàng này thì những
nước đang khôi phục lại nền kinh tế sau một thời gian dài trì trệ như Liên
bang Nga lại có xu hướng tăng lượng xuất khẩu hàng năm nên một cách rõ
rệt. Giá trị xuất khẩu gỗ của Liên bang Nga đã tăng từ 945,296 triệu USD

SFI(26%).
10
Về mặt địa lý, hơn 90% tổng diện tích rừng có chứng chỉ nằm ở Bắc
bán cầu trong đó một nửa ở tại Châu Âu và 41% ở Bắc Mỹ. Các nước đang
phát triển chỉ chiếm không quá 10% tổng diện tích có chứng chỉ chủ yếu do
FSC cấp, trong đó Brazil có diện tích lớn nhất (1,12 triệu ha, trong đó 61% là
rừng trồng), Bolivia có 0,9 triệu ha và Nam Phi có toàn bộ 0,81 triệu ha được
cấp chứng chỉ là rừng trồng. Riêng Công gô có 1,15 triệu ha do Keurhout cấp
chứng chỉ. Sự thay đổi nhanh chóng này chỉ diễn ra trong vòng 2 năm sau khi
Châu Âu và Bắc Mỹ áp dụng các hệ thống chứng chỉ rừng mới, làm cho tỷ
9
Nguyễn Nghía Biên 2003, Tổng quan ngành hàng lâm sản Việt Nam, trang 27.
10
Nguyễn Nghía Biên 2003, Tổng quan ngành hàng lâm sản Việt Nam, trang 28.
10
trọng của các nước đang phát triển đã giảm từ 70% năm 1996 xuống mức như
hiện nay.
Các nước cung cấp lâm sản có chứng chỉ quan trọng nhất hiện nay là
các nước Bắc Âu (Thụy điển, Phần lan), Tây Âu (Ý, Áo, Anh, Đức), Baltic,
Canada và Châu Á. Thị trường về lâm sản có chứng chỉ lại chủ yếu tập trung
ở các nước Tây Âu (Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Bỉ), Nhật. Bản và Mỹ.
11
1.3.Chi phí sản xuất.
Năm 2004 cũng đánh dấu sự gia tăng về giá gỗ nguyên liệu mà nguyên
nhân chủ yếu là do: Giá dầu mỏ làm cho cước phí vận tải tăng lên đáng kể,
phí bảo hiểm tăng, sự biến động của những đồng tiền mạnh (USD, Yên), sự
thay đổi trong chính sách của những nước xuất khẩu nguyên liệu và chi phí
cấp chứng chỉ rừng cũng làm giá gỗ tăng.
Chi phí sản xuất trong ngành chế biến lâm sản vì vậy đều tăng lên do
tác động của các yếu tố kể trên (Hình 1). Điều này xảy ra ngay cả ở các nước

430
567.2
1200
0
200
400
600
800
1000
1200
năm
1996
năm
1997
năm
1998
năm
1999
năm
2000
năm
2001
năm
2002
năm
2003
năm
2004
Triệu USD
kinh ngạch xuất khẩu (đơn vị tính: triệu USD)

kim ngạch nhập khẩu của EU, 0,86% của Mỹ và 7,3% của Nhật Bản. Nghĩa là
giới hạn an toàn phát triển thị trường còn rất rộng (xấp xỉ 20% thị phần mới bị
các nước nhập khẩu dè chừng.
15
Thị trường Mỹ: Năm 2004 cũng đánh dấu một bước ngoặt quan trọng
đối với xuất khẩu lâm sản của Việt nam vào thị trường Mỹ, từ 11,9 triệu USD
năm 2001 lên 73,2 triệu USD vào năm 2002, 147 triệu USD năm 2003 và
trong năm 2004, giá trị đồ gỗ nội thất chiếm 6,6% trong tổng số 5 tỷ USD
xuất khẩu sang Mỹ, tức là khoảng 300 triệu USD. Xuất khẩu vào thị trường
Mỹ tăng mạnh một phần cũng là do Bộ Thương mại Hoa Kỳ đang điều tra
việc bán phá giá đồ gỗ của Trung Quốc ở Mỹ, làm cho các nhà nhập khẩu
14
Trần Đức Sinh, Báo Nông nghiệp và phát triển Nông thôn só 1/2005.
15
Võ Nguyên Huân, Báo Nông nghiệp và phát triển Nông thôn só 11/2004.
13
Hoa Kỳ chuyển hướng quan tâm sang khu vực sản xuất đồ gỗ Việt nam. Tuy
nhiên, đây chỉ là tín hiệu đáng mừng trước mắt mà chưa hẳn là lâu dài do việc
xuất khẩu vào thị trường Mỹ khá mạo hiểm. Một điều có thể rút ra là các
doanh nghiệp Mỹ có thể khiếu kiện bất kỳ một doanh nghiệp nước ngoài nào
về cái gọi là “bán phá giá” lên Bộ Thương mại Mỹ, giống như đã xảy ra với
mặt hàng thuỷ sản của các nước và đồ gỗ của Trung quốc. Không ai dám đảm
bảo chắc chắn rằng đồ gỗ của Việt nam lại không bị kiện trong tương lai
gần.
16
Thị trường EU: Trong tổng kim ngạch xuất khẩu, thị trường EU là một
thị trường lớn và cũng là một thị trường tiềm năng của Việt Nam. Xét về thị
phần, nếu tính riêng trong các nước EU, thị trường xuất khẩu đồ gỗ của Việt
Nam sang Pháp là lớn nhất: 29,1%, tiếp theo là Anh: 248% và đứng thứ 3 là
thị trường Ý: 12,6%. Theo đánh giá của các chuyên gia thì Việt Nam đang

tác của nhau thì có thể kỳ vọng những đơn hàng lớn và một mối quan hệ kinh
doanh lâu dài và tốt đẹp.
2.2. Thị trường nguyên liệu.
Nguồn nguyên liệu cho sản xuất sản phẩm gỗ xuất khẩu từ chỗ dựa
vào rừng tự nhiện trong nước là chính nay đã chuyển sang chuyển sang dựa
vào nguồn gỗ nhập khẩu và gỗ rừng trồng là chính. Nếu như năm 1990, chúng
ta khai thác bình quân từ rừng tự nhiên 1,8 triệu m3/năm thì từ năm 2000 đến
nay chúng ta khai thác bình quân 300.000m3 gỗ rừng tự nhiên, năm 2004 là
200.000m3. Theo dự định con số này sẽ giảm xuống còn 150.000m3 vào năm
2005. Để bù đắp sự thiếu hụt nguyên liệu, hàng năm chúng ta nhập khẩu
khoảng gần 1 triệu m
3
gỗ từ các nước và tăng cường sử dụng gỗ rừng trồng để
sản xuất.
18

Với tình hình hiện nay thì nguyên liệu đang là một vấn đề khó khăn
của nước ta mà Nhà nước phải quan tâm trong chiến lược phát triển ngành
lâm sản xuất khẩu. Theo tính toán cứ 500 triệu USD xuất khẩu cần có 1,3
triệu m3 gỗ tròn nguyên liệu, trong khi chính phủ chỉ cho phép khai thác
chừng 1 triệu m3 gỗ một năm (kể cả rừng tự nhiên và rừng trồng). Để bù đắp
cho sự thiếu hụt này các doanh nghiệp phải tiến hành nhập khẩu gỗ nguyên
liệu bằng nhiều cách khác nhau. Các năm 2002-2003 tỷ trọng nguyên liệu và
phụ liệu gỗ nhập khẩu trong tổng kinh ngạch xuất khẩu chiếm khoảng trên
18
Trần Đức Sinh, Báo Nông nghiệp phát triển Nông thôn- Kì 1- Tháng 1/2005.
15
dưới 40%, với đà gia tăng xuất khẩu như hiện nay tỷ trọng này phải vượt lên
trên 60%.
19

20
Nguyễn Nghĩa Biên1/2005, Báo cáo năm 2004 ngành hàng lâm sản.
21
Báo Người lao động, 1/8/2004.
16
thị trường xuất khẩu để giảm thiểu rủi ro và tìm kiếm nguồn nguyên liệu tập
trung.Giá thành nhập khẩu gỗ nguyên liệu tập trung sẽ giảm đáng kể (10-
12%) so với việc nhập khẩu riêng lẻ của từng doanh nghiệp với số lượng
nhỏ.
22
2.3. Công nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam.
Về cơ sở vật chất: Theo thống kê tính đến đầu tháng 10/2003 cả nước
có khoảng 2000 doanh nghiệp chế biến gỗ, trong đó có hơn 300 doanh nghiệp
sản xuất đồ gỗ xuất khẩu. Trong số các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ xuất
khẩu có 60 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thu hút hơn 170.000 lao
động trên cả nước, với nhiều nghệ nhân có trình độ tay nghề cao.Một số trung
tâm như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Bình Định, Đồng Nai
đã hình thành các khu liên hợp chế biến gỗ lớn. Bên cạnh các doanh nghiệp
còn có 342 làng nghề gỗ mỹ nghệ tập trung ở một số tỉnh, thành phố như Bắc
Ninh, Hà Tây, Nam Hà, Bình Dương, An Giang.
Quy mô và tình độ khoa học kỹ thuật: Theo nhận định chung các
doanh nghiệp chế biến lâm sản nước ta chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ, thiết bị
lạc hậu, sản phẩm còn mang nặng đặc điểm gia công, giá trị thấp, mẫu mã còn
đơn điệu chưa đa dạng, chưa có thương hiệu, rất ít doanh nghiệp xây dựng
được hệ thống quản lý chất lượng ISO.
23
Tại nhiều công ty tình trạng máy
móc thiết bị chế biến gỗ chưa được đầu tư đổi mới nhiều, thiết bị tinh chế
mang tính hiện đại, độ chính xác chưa cao (nhất là các tỉnh phía Bắc và khu 4
cũ)

Luật số 13/2003- QH11 ban hành ngày 26-11-2003 quy định người sử dụng
đất có những quyền sau:
Điều 106 quy định người sử dụng đất có những quyền sau: Quyền
chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền
sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất;
Quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Điều 67 của luật đất đai quy định thời gian cho thuê đất trồng cây hàng
năm cho hộ gia đình cá nhân sử dụng là không quá 20 năm; thời hạn cho thuê
đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng là
không quá 50 năm. thời hạn sử dụng đất sẽ được tiếp tục nếu đất được sử
dụng đúng với quy định của pháp luật.
Chính sách phát triển rừng. Trong những năm gần đây, có 3 chính
sách và chương trình lớn liên quan trực tiếp tới phát triển rừng ở Việt Nam là
Luật bảo vệ và phát triển rừng, Chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc
(Chương trình 327) trong giai đoạn 1993 - 1998, và Chương trình trồng mới 5
triệu ha rừng từ năm 1998 đến nay.
Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004: Luật số 29/2004/QH10 ngày
03 tháng 12 năm 2004 về bảo vệ và phát triển rừng quy định Nhà nước thống
nhất quản lý rừng và đất trồng rừng. Nhà nước giao rừng, đất trồng rừng cho
tổ chức cá nhân để bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng ổn định, lâu dài theo
quy hoạch của Nhà nước. Nhà nước bảo hộ quyền hợp pháp của chủ rừng,
25
Phạm Văn Chương, 2003, Xu hướng phát triển công nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam
18
khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn, áp dụng tiến
bộ khoa học, công nghệ vào việc gây trồng rừng, bảo vệ rừng, khai thác và
chế biến lâm sản theo hướng phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công
nghiệp chế biến. Việc xác định các loại rừng, chuyển mục đích sử dụng từ loại
rừng này sang loại rừng khác do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định.
Quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng số 327 ngày 15-9-1992 về

dự án lâm nghiệp nêu trên thuộc diện hưởng thuế suất 15% và 20%); được
miễn thuế từ 2 đến 4 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế, được giảm 50%
thuế từ 2 đến 9 năm tiếp theo (thời gian cụ thể tuỳ thuộc từng địa bàn thực
hiện dự án).
Để khuyến khích các nhà đầu tư tham gia trồng rừng, đất sử dụng cho
các dự án trồng cây công nghiệp được áp dụng mức giá cho thuê đất thấp nhất
trong khung giá qui định đối với từng loại đất sử dụng. Bên cạnh đó, nhiều
chính sách miễn, giảm tiền thuê đất được áp dụng cho các dự án đầu tư nước
ngoài thuộc lĩnh vực trồng rừng: miễn toàn bộ tiền thuê đất trong thời gian
chưa cho sản phẩm và còn được giảm đến 90% tiền thuê đất tuỳ theo từng loại
đất do Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) và Bộ
Tài chính xác định.
Chính sách đầu tư - tín dụng
26
. Nội dung các chính sách đầu tư và tín
dụng được ban hành trong giai đoạn đổi mới đều nhằm khuyến khích ngành
lâm nghiệp phát triển và tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ gia đình nghèo
thuộc ngành lâm nghiệp. Quyết định 264/CT ngày 22/7/1992 của Chủ tịch
Hội đồng Bộ trưởng qui định rõ: chủ rừng được vay vốn tín dụng đầu tư trong
chu kỳ đầu với lãi suất ưu đãi bằng 30-50% lãi suất bình thường (tuỳ theo loài
cây và đặc điểm sinh thái từng vùng) để trồng các loài cây có chu kỳ sản xuất
dưới 20 năm được quy hoạch để cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp. Sau
chu kỳ đầu chủ rừng phải hoàn trả cả vốn lẫn lãi, từ chu kỳ thứ 2 trở đi nếu
thiếu vốn thì được vay với lãi suất bình thường. Nhà nước đầu tư vốn ngân
sách cho các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng sản xuất gỗ lớn, gỗ quý có
26
Nguyễn Nghĩa Biên, 2003, Tổng quan ngành hàng lâm sản Việt Nam, trang 10.
20
chu kỳ sản xuất trên 20 năm, ngay khi khai thác sản phẩm, chủ rừng phải
hoàn trả vốn cho Nhà nước đã đầu tư, như vậy thực chất là áp dụng lãi suất

Chính sách khai thác sử dụng tài nguyên rừng.Trong điều 56 và điều
57 của luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 quy định: Đối với rừng sản
xuất là rừng tự nhiên và rừng trồng từ vốn ngân sách thì việc khai thác của
phải có hồ sơ thiết kế khai thác được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét
duyệt. Đối với rừng sản xuất mà chủ rừng tự bỏ vốn gây trồng, nuôi dưỡng,
chăm sóc, bảo vệ thì được tự quyền quyết định việc khai thác.
Quy chế về khai thác gỗ, lâm sản còn được cụ thể hóa tại Quyết định số
04/02/2004/QĐ-BNN ban hành ngày 02/02/2004 của Bộ nông nghiệp và Phát
triển nông thôn. Quyết định này quy định khai thác gỗ rừng tự nhiên phải tuân
thủ theo phương án điều chế rừng và thủ tục khai thác theo quy định và hạn
mức khai thác hàng năm được Bộ NN&PTNT trình Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt. Điều 5 chương 2 quy định rừng tự nhiên thuộc rừng sản xuất và rừng
phòng hộ đã được cấp có thẩm quyền giao cho các tổ chức, hộ gia đình cá
nhân để sản xuất, kinh doanh phải thực hiện khai thác theo phương án điều
chế. Rừng của hộ gia đình, cá nhân được giao để quản lý, bảo vệ và được
hưởng lợi theo Quyết định 178 thì không cần xây dựng phương án điều chế.
1.1.2.Chính sách phát triển ngành chế biến gỗ và xuất khẩu sản phẩm gỗ.
Ngày 1/6/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số
19/2004/CT-TTg về một số giải pháp phát triển ngành ngành chế biến gỗ và
xuất khẩu sản phẩm gỗ. Thủ tướng Chính phủ chỉ thị các Bộ, ngành, uỷ ban
nhân dân tổ chức sản xuất trong nước và nhập khẩu đáp ứng kịp thời nhu cầu
nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, sản xuất sản phẩm gỗ tiêu dùng trong
nước và xuất khẩu. Thực hiện mục tiêu này là trách nhiệm và quyền hạn của
Bộ NN&PTNT và UBND các tỉnh, thành phố. Bộ thương mại chủ trì phối
hợp với các Bộ, ngành liên quan, Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam, trên cơ sở
nhu cầu nhập khẩu gỗ nguyên liệu, hướng dẫn, hỗ trợ các doanh nghiệp trong
việc tìm kiếm, lựa chọn thị trường nhập khẩu; rà soát, sửa đổi, bổ sung cơ
22
chế, chính sách và tổ chức, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhập khẩu cung
cấp đủ gỗ nguyên liệu, nhất là gỗ rừng tự nhiên cho sản xuất sản phẩm gỗ.

23
Ngày 16/07/1999 Thủ tướng Chính phủ lại ban hành Chỉ thị 19/CT-
TTg về việc thực hiện các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ gỗ rừng trồng như: i)
cho phép các doanh nghiệp được xuất khẩu các sản phẩm gỗ rừng trồng; ii) áp
dụng ưu đãi về thuế đối với các mặt hàng gỗ xuất khẩu được chế biến từ gỗ
rừng trồng, đặc biệt là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, hàng gỗ gia dụng cao
cấp, và iii) tháo gỡ những vướng mắc về thủ tục cho phép vận chuyển, tiêu
thụ và xuất khẩu gỗ rừng trồng.
Một động thái tích cực nữa là việc bãi bỏ các loại giấy phép trái với
quy định của Luật Doanh nghiệp được nêu trong Quyết định 19/TTg ngày
03/02/2000 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 896/BNN ngày
20/03/2000 của Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn thi hành quyết định
này. Theo quy định mới này, Bộ NN và PTNT bãi bỏ giấy phép chế biến gỗ
và lâm sản đối với các doanh nghiệp và các Sở NN và PTNT cũng bãi bỏ việc
cấp giấy chứng nhận được chế biến gỗ và lâm sản đối với các tổ chức, cá
nhân, hộ gia đình hành nghề chế biến gỗ và lâm sản.
1.1.4.Chính sách xuất nhập khẩu lâm sản
Chính sách xuất nhập khẩu gỗ có lẽ là chính sách quan trọng nhất được
Chính phủ Việt Nam ban hành nhằm giảm lượng gỗ khai thác và tăng diện
tích rừng. Năm 1993, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 624/TTg ngày
29/12/1993 nghiêm cấm xuất khẩu các loại gỗ tròn, gỗ xẻ, gỗ ván sàn sơ chế
và song nguyên liệu, kể cả việc tái xuất các loại gỗ và song nói trên. Ngoài ra,
Nhà nước còn nghiêm cấm xuất khẩu các loại sản phẩm chế biến từ gỗ mà
bên bán ngụy trang dưới các hình thức để xuất khẩu lậu và bên mua có thể lợi
dụng để làm nguyên liệu. Đến năm 1997, qui định tiêu thụ các loại gỗ thậm
chí còn chặt chẽ hơn: i) cấm xuất khẩu gỗ và các loại sản phẩm chế biến từ
gỗ, trừ hàng gỗ thủ công mỹ nghệ; ii) khuyến khích nhập khẩu gỗ, sử dụng
các nguyên liệu thay thế gỗ, tiết kiệm sử dụng gỗ trong sản xuất và tiêu dùng;
iii) đối với các loại gỗ dành cho chế biến để xuất khẩu, Nhà nước quản lý
bằng hạn ngạch.

định cụ thể sau:
28
Nguyễn Nghĩa Biên, 2003, Tổng quan ngành hàng lâm sản Việt Nam, trang 22.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status