I HC THI NGUYấN
TRNG I HC S PHM
----------------------------
NGUYN ANH HNG Điều tra tiềm năng thức ăn cho chăn nuôi đại gia súc của xã
bắc sơn (móng cái) và đề xuất mô hình khai thác nguồn thức ăn
Chuyờn ngnh: Sinh thỏi hc
Mó s: 60-42-60
LUN VN THC S SINH HC
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS Hong Chung
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thư viện trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
và Trung tâm học liệu - Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
1. Hoàng Chung, Nguyễn Anh Hùng (2008), Tiềm năng thức ăn chăn nuôi đại
gia súc của xã Bắc Sơn (Móng Cái) và đề xuất mô hình khai thác nguồn thức ăn,
Tạp chí Khoa học kỹ thuật Chăn nuôi, số 8, Hà Nội.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu, kết quả
nghiên cứu trong lụân văn là trung thực và chưa có ai công bố.
Tác giả
Nguyễn Anh Hùng
GTCT: Giá trị chăn thả
T
o
: Giá trị chăn thả tốt
TB: Giá trị chăn thả trung bình
Ke: Giá trị chăn thả kém
H
o
: Không có giá trị chăn thả
ĐVTĂ: Đơn vị thức ăn
UBND: Uỷ ban nhân dân
Nxb: Nhà xuất bản
DANH MỤC CÁC BẢNG Trang
Bảng 1.1. Sản lượng VCK và chất lượng những loại cỏ trên vùng đất thấp
vào 45 ngày cắt
32
Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu khí hậu của thị xã Móng Cái năm 2007
1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên MỤC LỤC Trang
Mục lục
1
MỞ ĐẦU
1.6. Phân vùng kinh tế nông nghiệp
19
1.6.1. Vấn đề phân vùng kinh tế nông nghiệp trên thế giới
20
1.6.2. Vấn đề phân vùng kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam
21
2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1.7. Những nghiên cứu về thành phần loài, dạng sống và năng suất
24
1.7.1. Những nghiên cứu về thành phần loài
24
1.7.2. Những nghiên cứu về dạng sống
26
1.7.3. Năng suất đồng cỏ
26
1.8. Những nghiên cứu về thoái hoá đồng cỏ do chăn thả và vấn đề sử
dụng hợp lý đồng cỏ miền Bắc Việt Nam
27
1.8.1. Những nghiên cứu về thoái hoá đồng cỏ do chăn thả
27
1.8.2. Vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam
29
1.9. Những nghiên cứu về đồng cỏ trồng và cây thức ăn gia súc
30
1.9.1. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn chăn nuôi trên thế giới
30
2.1.2. Tình hình xã hội Thị xã Móng Cái
38
2.2. Điều kiện tự nhiên và xã hội xã Bắc Sơn
39
2.2.1. Điều kiện tự nhiên
39
2.2.1.1. Vị trí địa lý, địa hình
39
2.2.1.2. Khí hậu thuỷ văn
40
2.2.1.3. Đất đai
41
2.2.1.4. Thảm thực vật
42
2.2.2. Điều kiện xã hội
42
CHƢƠNG III: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
44
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
44
3.2. Phương pháp nghiên cứu
44
3.2.1. Điều tra cơ bản vùng nghiên cứu qua số liệu thứ cấp tại địa
phương
44
3.2.2. Điều tra ngoài thực địa
44
3.2.3. Trong phòng thí nghiệm
44
4.3.2. Thảm cỏ trong đồi cỏ tự nhiên
62
4.3.2. 1. Thành phần loài
63
4.3.2.2. Thành phần dạng sống
70
4.3.2.3. Năng suất cỏ trong các đồi cỏ tự nhiên
73
4.3.3. Thảm cỏ dưới tán rừng
74
4.3.3.1. Thành phần loài
74
4.3.3.2. Thành phần dạng sống
81
4.3.3.3. Năng suất các thảm cỏ dưới tán rừng
84
4.4. Thực trạng lao động và mức sống hiện nay của người dân xã Bắc
Sơn
85
4.5. Phương hướng sử dụng các tiểu vùng
87
4.6. Mô hình khai thác thức ăn
89
4.6.1. Đánh giá một số tình hình chăn nuôi hiện nay
89
4.6.2. Đề xuất mô hình khai thác thức ăn
90
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
93
1. Kết luận
trồng cỏ thâm canh. Nông dân chưa có tập quán xây dựng vùng nguyên liệu thức
ăn cho gia súc, chủ yếu dựa vào bãi chăn thả tự nhiên và thức ăn tận dụng. Bên
cạnh đó, các địa phương cũng chưa có chính sách khuyến khích, hỗ trợ chuyển
đổi diện tích đất trồng trọt sang trồng cỏ và thức ăn xanh. Tình trạng thiếu thức
ăn thô xanh cho chăn nuôi là một trong những nguyên nhân làm cho ngành chăn
nuôi phát triển chưa tương xứng với tiềm năng.
Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Cao Đức Phát cho rằng, ngành chăn nuôi nước ta vẫn phát triển chậm so với nhu
6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên cầu. Có nhiều nguyên nhân, trong đó bên cạnh yếu tố dịch bệnh, việc thức ăn
chăn nuôi tăng giá với mức 20-30% là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng
đến tốc độ phát triển của ngành. Hiện nay, thị trường thức ăn chăn nuôi của
nước ta phụ thuộc lớn vào thị trường thế giới, trong khi đó hiện giá dầu mỏ tăng
cao, một số quốc gia đã chuyển hướng dùng ngô để chế biến Ethanol. Vì vậy,
sản lượng ngô chế biến thức ăn chăn nuôi sụt giảm, dẫn đến giá thành tăng cao.
Dự báo xu hướng này vẫn còn tiếp diễn và có thể ở quy mô cao hơn. Do đó,
ngành chăn nuôi tiếp tục phải đối mặt với vấn đề giá thức ăn chăn nuôi ở mức
cao.
Theo Bộ trưởng Cao Đức Phát, giải quyết tình trạng này, ngành chăn nuôi
phải có sự điều chỉnh cơ cấu chiến lược, trong đó đẩy mạnh phát triển chăn nuôi
gia súc ăn cỏ được coi là hướng chính. Chủ trương phát triển sản xuất thức ăn
thô xanh là chủ trương mới và rất quan trọng của ngành chăn nuôi trong giai
đoạn hiện nay. Đối với những vùng phát triển mạnh chăn nuôi gia súc ăn cỏ, cỏ
phải được coi là cây trồng chính, phải là hàng hóa, trồng cỏ phải được coi là
hướng chuyển dịch hướng tới thâm canh và xuất hiện được nghề trồng cỏ, buôn
bán cỏ và sản phẩm cỏ chế biến như: đóng bánh, ủ chua…
chăn nuôi để khai thác thảm cỏ tự nhiên và nâng cao đời sống cho người dân địa
phương, nhưng kết quả đem lại còn rất hạn chế. Mục đích đề tài nhằm phân chia
các tiểu vùng sinh thái, đánh giá mức độ khai thác của các tiểu vùng xã Bắc Sơn,
qua đó đề xuất phương hướng sử dụng hợp lý các tiểu vùng để góp phần nâng
cao thu nhập cho người dân địa phương đồng thời tránh được những suy thoái
về môi trường.
CHƢƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái niệm về phân vùng, các dạng phân vùng
1.1.1. Khái niệm vùng (Region)
8
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên “Vùng” thường được dùng để chỉ một lãnh thổ có phổ biến một hiện tượng
nào đó về mặt không gian được đặc trưng bởi sự thống nhất về các đặc điểm
khác nhau. Lãnh thổ đất nước được chia thành những vùng khí hậu, thổ nhưỡng,
các vùng kinh tế lớn và nhỏ, các vùng cải tạo đất, các vùng hoang mạc, rừng...
[26, tr.5].
Theo Lê Bá Thảo “Vùng là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia có một sắc
thái đặc thù nhất định, hoạt động như một hệ thống do có những mối quan hệ
tương đối chặt chẽ giữa các thành phần cấu tạo nên nó cũng như mối quan hệ
có chọn lọc với không gian các cấp bên ngoài” [39, tr.281].
Vùng sinh thái được hiểu là một bộ phận lãnh thổ cụ thể có chung nguồn
gốc phát sinh và phát triển, đặc trưng bởi sự đồng nhất tương đối về các điều
kiện tự nhiên (địa chất, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, đất) và trên đó phát triển một
phức hợp sinh quần lạc điển hình. Vùng sinh thái bao gồm một tập hợp có quy
luật các đơn vị sinh thái cảnh quan cấu trúc (đơn vị cấp thấp). Mỗi vùng sinh
- Về tính đồng nhất tương đối, thường được áp dụng để phân định các
vùng-cảnh quan, vùng tự nhiên hay vùng văn hoá lịch sử.
- Sự khai lợi và trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trong đó sự gắn kết của
vùng được thể hiện thông qua vai trò của hệ thống các đô thị các cấp, quan trọng
nhất là của thành phố có sức hút và của vùng ảnh hưởng lớn nhất, coi như cực
tạo vùng.
- Tính hữu hiệu của các điều kiện đảm bảo sự quản lý lãnh thổ [39, tr.282].
Trong phần tổng quan chúng tôi chỉ đề cập đến một số dạng phân vùng
như: Phân vùng địa vật lý, phân vùng thổ nhưỡng, phân vùng khí hậu, phân
vùng sinh thái thảm thực vật, phân vùng kinh tế nông nghiệp.
1.2. Phân vùng địa vật lý
Đới địa vật lý là sự phân chia các đai lớn vỏ trái đất theo chế độ nhiệt và độ
ẩm, đặc biệt là theo sự chuyển động lớn có tính chu kỳ của không khí và dòng
hải lưu; đồng thời bởi các quá trình của địa mạo và sinh địa hoá, bởi các thành
10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên phần thảm thực vật và thế giới động vật. Người ta chia ra: Đai xích đạo, đai Bắc
và Nam xích đạo, đai nhiệt đới, đai á nhiệt đới, đai ôn đới, đai á hàn đới, đai Bắc
cực và đai Nam cực. Trong giới hạn của đai các yếu tố khí hậu có biến động ít
nhiều, điều này cho phép phân chia các vùng trong từng đai và vùng phụ. Theo
độ cao của địa hình người ta còn chia ra các đai tương ứng.
Phân vùng địa vật lý đó là hệ thống phân chia bề mặt trái đất, cơ sở để phân
chia và nghiên cứu là tổ hợp các dấu hiệu bên trong và rất đặc trưng cho riêng
nó- thiên nhiên. Người ta có thể phân chia theo từng tổ hợp riêng (như địa hình,
khí hậu, đất...) hoặc phân chia theo cả một tập hợp các yếu tố (phân vùng cảnh
quan).
Khu vực khí hậu cực và cận cực, khu vực khí hậu ôn đới, khu vực khí hậu á
nhiệt đới, khu vực khí hậu nhiệt đới. Nam Mỹ gồm các khu vực khí hậu: Khu
vực khí hậu xích đạo, khu vực khí hậu cận xích đạo và nhiệt đới, khu vực khí
hậu á nhiệt đới, khu vực khí hậu ôn đới.
Châu Đại Dương chia ra các khu vực khí hậu: Khu vực khí hậu nhiệt đới,
khu vực khí hậu nửa hoang mạc, khu vực khí hậu ôn đới.
Châu Nam Cực là một lục địa lạnh [48].
Các tác giả như H.Gaussen, P.Legris, P.blasco (1976) đã nghiên cứu và
thành lập bản đồ sinh khí hậu đối với vùng lãnh thổ Đông Nam Á [57].
Ngoài ra theo độ cao người ta cũng phân ra các đai khí hậu, tuỳ theo từng
vùng mà có sự phân chia khác nhau.
12
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Phân vùng khí hậu ngày nay, ngoài việc phân chia ra các đới, vùng còn
phân ra các đơn vị nhỏ hơn với sự giống nhau ít nhiều của các điều kiện khí hậu
chung hay những đặc điểm riêng biệt của khí hậu, nó có giá trị về mặt khoa học
hay kinh tế nông nghiệp. Thí dụ: M.I.Buđưko đã dung tổng nhiệt trong năm để
phân chia, có thể dùng lượng mưa hay lượng bốc hơi... của năm hay mùa nào đó.
M.I.Buđưko đã chia vùng Kratnôđa ra 3 kiểu cơ bản, sau đó theo điều kiện khí
hậu mùa đông, ông chia tiếp ra 4 tiểu vùng (đông tuyết khô - ít, đông tuyết khô,
đông hơi ít tuyết và hơi khô, đông tuyết khô ôn hoà).
Những năm 70, Phạm Ngọc Toàn và Phan Tất Đắc đã đưa ra những sơ đồ
đầu tiên về phân vùng khí hậu miền Bắc Việt Nam [46]. Đến những năm 80, khi
xây dựng Atlat quốc gia, viện khí tượng thuỷ văn cũng đưa ra sơ đồ phân vùng
khí hậu Việt Nam ở tỷ lệ 1/3.000.000.
Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc (1993) đã phân chia lãnh thổ Việt Nam
thành 3 miền khí hậu lớn: Miền khí hậu phía Bắc, miền khí hậu Đông Trường
Sơn và miền khí hậu phía Nam. Ngoài ra còn có thêm một miền khí hậu phụ nữa
là miền khí hậu Biển Đông.
Miền khí hậu phía Bắc được chia thành 5 vùng khí hậu: Khí hậu khu vực
núi Đông Bắc, khu vực núi Việt Bắc - Hoàng Liên Sơn, khu vực núi Tây Bắc,
khu vực đồng bằng Bắc Bộ, khu vực Bắc Trung Bộ. Trong đó khí hậu khu vực
núi (Đông Bắc, Việt Bắc và Tây Bắc) đều được phân chia thành 3 vùng: Vùng
thấp, vùng có độ cao trung bình và vùng núi cao.
Miền khí hậu Đông Trường Sơn có sự phân hoá thành 3 vùng khí hậu:
Vùng khí hậu khu vực Bình - Trị - Thiên, khu vực Trung Trung Bộ (được chia
thành 2 khu vực nhỏ hơn: Quảng Nam - Quảng Ngãi cũ và Bình Định - Phú Yên
cũ), khu vực Nam Trung Bộ.
Miền khí hậu phía Nam chia thành 2 vùng khí hậu sau: Vùng khí hậu khu
vực Tây Nguyên (được phân chia thành 3 khu vực nhỏ hơn: Bắc Tây Nguyên,
Trung Tây Nguyên và Nam Tây Nguyên), khu vực đồng bằng Nam Bộ.
14
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Miền khí hậu Biển Đông chia thành 2 vùng khí hậu: Vùng khí hậu khu vực
phía Bắc Biển Đông, khu vực phía Nam Biển Đông [47].
với các thành phần khác của tự nhiên phục vụ cho nghiên cứu sự phân hoá của
tự nhiên và phân vùng địa lý tự nhiên [28, tr.119].
Vùng được coi là đơn vị phân vùng cơ sở thấp nhất trong hệ thống phân vị
trong phân vùng địa lý thổ nhưỡng. Vùng được chia ra trong phạm vi của khu
địa lý thổ nhưỡng. Vùng được đặc trưng bởi sự đồng nhất tương đối về tất cả các
yếu tố: độ cao, địa hình, địa chất, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng.
1.4.1. Những nghiên cứu về phân vùng thổ nhƣỡng trên thế giới
Để phân loại đất, người ta dựa vào các kiểu đá mẹ, đặc điểm và phẫu diện
của các kiểu đất, độ phì của đất, cấu trúc và chế độ nước, chế độ nhiệt. Nó được
thể hiện trên bản đồ đất.
V.V.Đokutsaev đã căn cứ vào kinh nghiệm và những tài liệu điều tra thổ
nhưỡng trên một đơn vị rộng lớn, đề ra học thuyết về tính địa đới của thổ
nhưỡng: Theo chiều ngang, theo chiều cao, tính địa phương hay tính vùng [38].
E.N.Ivanova và cộng sự (1962) đã công bố sơ đồ phân vùng địa lý thổ
nhưỡng của Liên Xô. Trong đó lãnh thổ Liên Xô được chia theo các dấu hiệu tự
nhiên thành các dải, miền, đới và tỉnh thổ nhưỡng - khí hậu sinh vật [20].
Ở phía Đông, Đông Bắc Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, từ Bắc xuống
Nam phân bố 3 vùng đất: Vùng đất nâu rừng, vùng đất nâu của các rừng khô và
cây bụi, vùng đất cận nhiệt đới và đất đỏ [23].
Kết quả sự phân bố thổ nhưỡng trên thế giới gồm: Nhóm đất thuộc đới Bắc
cực và đài nguyên (chia thành 5 đới phụ), nhóm đất thuộc đới rừng Taiga, nhóm
đất thuộc đới rừng cây lá rộng ôn đới, nhóm đất thuộc đới thảo nguyên ôn đới,
nhóm đất rừng và rừng cây bụi cận nhiệt đới, nhóm đất thuộc vành đai nhiệt đới
[38].
1.4.2. Những nghiên cứu về phân vùng thổ nhƣỡng ở Việt Nam
Một vùng địa lý thổ nhưỡng là một thành phần cấu tạo lãnh thổ toàn vẹn,
tương đối đồng nhất về cấu trúc lớp phủ thổ nhưỡng bao gồm 2 đến 3 loại đất
16
miền thổ nhưỡng, 16 khu thổ nhưỡng và 142 vùng thổ nhưỡng. Hai miền thổ
17
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên nhưỡng là miền thổ nhưỡng phía Bắc và miền thổ nhưỡng phía Nam. Miền thổ
nhưỡng phía Bắc được chia thành 3 miền á thổ nhưỡng (á miền thổ nhưỡng Bắc
và Đông Bắc Bộ; á miền thổ nhưỡng Tây Bắc; á miền thổ nhưỡng Trường Sơn
Bắc) và 8 khu thổ nhưỡng. Miền thổ nhưỡng phía Nam cũng được chia thành 3
miền thổ nhưỡng (Á miền thổ nhưỡng Đông Trường Sơn Nam, Á miền thổ
nhưỡng Tây Trường Sơn Nam, Á miền thổ nhưỡng Nam và Đông Nam Bộ) và
8 khu thổ nhưỡng. Các khu thổ nhưỡng trên lại được phân chia ra 142 vùng thổ
nhưỡng, trong đó miền thổ nhưỡng phía Bắc có 77 vùng thổ nhưỡng và miền thổ
nhưỡng phía Nam có 65 vùng thổ nhưỡng [17].
1.5. Phân vùng sinh thái thảm thực vật
1.5.1. Những nghiên cứu về phân vùng sinh thái thảm thực vật trên thế
giới
Sinh thái học là khoa học nghiên cứu về các mối quan hệ giữa sinh vật và
môi trường và giữa các sinh vật với nhau. Các yếu tố sinh thái bao gồm ánh
sáng, nhiệt độ, gió, mưa, đất... Trên trái đất khí hậu thay đổi từ lạnh sang nóng,
từ khô sang ẩm. Mỗi loại hình lớn của nó có thành phần thực vật, động vật đặc
trưng - người ta gọi nó là các biomes. Biomes theo trường phái Anh Mỹ đó là hệ
sinh thái xâm chiếm vùng rộng lớn có sự giống nhau về khí hậu và sinh vật.
Cũng có thể coi biomes đó là hệ sinh thái mà ở đó có một số nơi sống cùng tồn
tại.
Xét ở một góc độ nào đó thì phân vùng sinh thái là xác định vùng phân bố
của các biomes trên trái đất. Phân chia và xác định vùng phân bố của các biomes
là dựa trên cơ sở phân định vùng phân bố của thảm thực vật. Những nghiên cứu
đầu tiên về phân vùng sinh thái thảm thực vật mang nặng tính địa lý thực vật.