199
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 73, số 4, năm 2012 NGHIÊN CỨU SINH TRƯỞNG VÀ DINH DƯỠNG CỦA CÁ ĐỤC SILLAGO
SIHAMA (FORSSKAL, 1775) Ở VÙNG VEN BIỂN QUẢNG TRỊ
Lê Thị Nam Thuận, Võ Văn Thiệp
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
Tóm tắt. Bài báo nghiên cứu những đặc điểm sinh học sinh trưởng và dinh dưỡng
của cá Đục Sillago sihama (Forsskal, 1775), một loài cá có giá trị kinh tế và chất
lượng thực phẩm thơm ngon ở vùng ven biển Quảng Trị [1], [2]. Các phương trình
sinh trưởng và phổ thức ăn của cá Đục đã được xác lập cho thấy có mối quan hệ
chặt chẽ giữa điều kiện sinh thái và cơ sở thức ăn tự nhiên của vùng phân bố của cá.
1. Đặt vấn đề
Trong nhiều năm trở lại đây, nguồn lợi khai thác cá biển đã góp phần đưa đời
sống ngư dân vùng ven biển Quảng Trị ngày càng được cải thiện và phát triển. Trong số
thành phần các loài cá mà ngư dân khai thác, không thể không nhắc đến loài cá Đục.
Đây là loài cá thường gặp ở vùng đầm phá, cửa sông và ven biển. Cá Đục tuy có kích cỡ
trung bình nhưng có giá trị thương phẩm cao, là thực phẩm được nhiều người ưa thích.
Tuy nhiên, các nghiên cứu về sinh trưởng và dinh dưỡng của cá Đục chưa được quan
tâm đầy đủ. Bài báo này mong muốn đóng góp bước đầu những nghiên cứu về cá Đục ở
vùng biển tỉnh Quảng Trị, từ đó có thể đề xuất giải pháp bảo vệ nguồn lợi cá hiệu quả.
2. Phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cá Đục Sillago sihama (Forsskal, 1775) (họ
Sillaginidae, bộ Perciformes) [3, 6] ở vùng ven biển tỉnh Quảng Trị.
-8
.L
2,89
Bảng 1. Tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá Đục
Chiều dài L (mm) Khối lượng W (g) N
Tuổi Giới tính
L
dđ
L
tb
W
dđ
W
tb
n %
Juv 87-130 103,17 5-15,6 7,87 34 9,09
Đực 101-137 120,87 6.4-21 12,31 33 8,82
0+
Cái 110-133 120,83 7,5-16 12,53 17 4,55
Đực 135-184 153,25 19-46 24,50 118 31,55
1+
Cái 135-172 150,95 19-36 24,20 90 24,06
Đực 181-238 200,2 42-86,5 54,94 24 6,42
2+
Cái 167-219 201,88 30-69 60,85 26 6,95
Đực 230-261 238,69 78-140 91,28 14 3,74
3+
Cái 230-272 245,5 78-168 107,1 18 4,82
Hình 1. Đồ thị tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá Đục
3.2. Tốc độ tăng trưởng chiều dài hàng năm của cá Đục
Dựa vào kết quả thu được về chiều dài và kích thước vảy tương ứng để giải
phương trình thực nghiệm Rosa Lee (1920) [6, 7], chúng tôi xác định được hệ số a là
13,45. Nghĩa là cá đạt kích thước 13,35 mm mới bắt đầu có vảy.
Mối liên hệ giữa sự gia tăng chiều dài thân và sự gia tăng kích thước vảy như
sau:
L
t
= (L – 13,45)
V
V
t
+ 13,45
Dựa vào mối liên hệ giữa sự gia tăng chiều dài thân và sự gia tăng kích thước
vảy chúng tôi xác định được mức tăng kích thước cá Đục hàng năm ở bảng 2.
Bảng 2. Tốc độ tăng trưởng chiều dài hàng năm của cá Đục
Sinh trưởng chiều dài trung
bình hàng năm (mm)
Tốc độ tăng trưởng chiều dài trung
bình hàng năm (mm)
T2 T3
Tuổi
L1 L2 L3 T1
mm % mm %
N
0
+
84
13,78 374
Từ kết quả thu được cho thấy, trong tự nhiên, kích thước trung bình của cá Đục
ở thời điểm một năm tuổi đạt 131,33 mm; hai năm tuổi đạt 177,01 mm; ba năm tuổi đạt
216,76 mm. Tốc độ tăng trưởng về kích thước của cá Đục trong năm đầu là cao nhất,
mm
202
đạt 131,33 mm, năm thứ hai tăng thêm 41,21 mm (30,22%), năm thứ ba tăng thêm
26,26 mm (13,78%). Như vậy, vào năm đầu của đời sống cá tăng nhanh về kích thước;
thời gian về sau tốc độ sinh trưởng theo chiều dài của cá càng chậm dần tuân theo quy
luật phát triển chung của cá nhiệt đới .
3.3. Phương trình sinh trưởng của cá Đục
Các thông số của phương trình được xác định trong bảng 3. Từ đó đã viết được
phương trình Von Bertalanffy (1954) về kích thước và trọng lượng của cá Đục .
Bảng 3. Các thông số sinh trưởng theo chiều dài và khối lượng
Thông số sinh trưởng Theo chiều dài Theo khối lượng
L
∞
(mm), W
∞
(g) 350,4 242,67
t
0
- 1,64 - 0,103
k 0,236 0,049
Phương trình sinh trưởng về chiều dài và khối lượng theo Von Bertalanffy
203
6 Navicula x x
7 Tabellaria x
8 Achnanthes x x x
9 Amphipleura x x x
10 Gyrosigma x x
II Heterokontophyta – Ngành tảo Dị roi
11 Amphora x x
12 Diploneis x x x
III Arthropoda – Ngành Chân khớp
13 Portunidae x x
14 Penaeus x
15 Gonodactylus x x
16 Lucifer x x x
17 Amphipoda x x x
18 Copepoda x x
IV Annelida – Ngành Giun đốt
19 Marphysa x x x
20 Perinereis x x x
21 Nereis x x x
V Mollusca – Ngành Thân mềm
22 Litorinidae x x
23 Bivalvia x x
VI Vertebrata – Động vật có xương sống
24 Fish eggs x x
25 Engraulidae x
VII 26 Mùn bã hữu cơ x x x
Tổng 18 21 22
thế chiếm 55,61%, với chiều dài 135-184 mm và khối lượng 19-46g. Nhóm tuổi 3
+
có
số lượng cá thể thấp nhất, chiếm 8,56% với chiều dài 230-272mm, khối lượng tương
ứng 78-168g. Phương trình tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá Đục có dạng: W
= 1189,78.10
-8
.L
2,89
.
4.1.2. Tốc độ tăng trưởng về kích thước cá Đục theo quy luật chung. Năm tuổi
1+ là cao nhất, đạt 131,33 mm, năm thứ hai 41,21 mm (30,22%), năm thứ ba 26,26 mm
(13,78%). Phương trình sinh trưởng về chiều dài và khối lượng theo Von
Bertalanffy có dạng: L
t
= 350,4. [1 – e
-0,236(t+1,64)
] và W
t
= 242,67. [1 – e
-0,049(t +
0,103)
]
2,89
.
4.1.3. Cá Đục có phổ thức ăn khá rộng, gồm 26 loại thuộc 7 nhóm khác nhau.
Trong các loại thức ăn của cá Đục, chủ yếu là các loại thuộc ngành tảo Silic (chiếm
38,46%), tiếp đến là các loại thuộc ngành Chân khớp (chiếm 23,08%), các loài thuộc
206
STUDY ON THE GROWTH AND NUTRITION OF SILLAGO SIHAMA
(FORSSKAL, 1775) IN THE COASTAL ZONE AT QUANG TRI PROVINCE
Le Thi Nam Thuan, Vo Van Thiep
College of Sciences, Hue University
Abstract. The article mentioned the biological characteristics of growth and
nutrition of Sillago sihama (Forsskal, 1775), which is a type of economical fish
with high quality flesh in the coastal zone at Quang Tri province. The equations of
the fish’s growth and nutrition have been established showing the close relation
between ecological conditions and basis of natural food in the distribution areas of
the fish.