nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và sinh trưởng của cá đục sillago sihama (forsskal, 1775) ở vùng biển khánh hòa - Pdf 25


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG HỒ SƠN LÂM
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH SẢN VÀ
SINH TRƯỞNG CỦA CÁ ĐỤC Sillago sihama (Forsskal, 1775) Ở
VÙNG BIỂN KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SỸ

VÙNG BIỂN KHÁNH HÒA

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Chun ngành: Ni Trồng Thủy Sản
Mã số: 60 62 03 01

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS. HUỲNH MINH SANG
TS. LÊ ANH TUẤN

Nha Trang - 2013 i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này được hoàn thành dựa trên những kết quả nghiên
cứu của tôi và các kết quả này chưa được dùng trong bất cứ luận văn cùng cấp nào
khác.


giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn Thạc sĩ.
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên Hồ Sơn Lâm
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vi
CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG BÁO CÁO vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Vị trí phân loại, phân bố và đặc điểm hình thái 3
1.1.1. Vị trí phân loại 3
1.1.2. Phân bố địa lý 3
1.1.3. Đặc điểm về hình thái 4
1.2. Tình hình nghiên cứu cá đục trên thế giới 5
1.2.1. Một số đặc điểm sinh học 5
1.2.1.1. Đặc điểm sinh thái và môi trường sống 5
1.2.1.2. Đặc điểm dinh dưỡng 6
1.2.1.3. Đặc điểm sinh trưởng 7
1.2.1.4. Đặc điểm sinh sản 8
1.3. Tình hình nuôi cá đục 9

3.2. Đặc điểm sinh sản 23
3.2.1. Tỷ lệ đực cái 23
3.2.2. Các giai đoạn phát triển của tinh sào và buồng trứng. 24
3.2.3. Mùa vụ sinh sản 28
3.2.3.1. Tỷ lệ thành thục theo tháng 28
3.2.3.2. Hệ số thành thục 29 v
3.2.4. Kích thước thành thục lần đầu 31
3.2.5. Sức sinh sản 33
3.3. Thảo luận chung 35
1. Kết luận 38
1.1. Đặc điểm sinh trưởng 38
1.2. Đặc điểm sinh sản 38
2. Đề xuất ý kiến 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
PHỤ LỤC .
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Kích thước của cá đục theo độ tuổi của một số nghiên cứu 22
Bảng 3.2: Kích thước trứng cá đục qua các giai đoạn phát triển (n = 30). 27
Bảng 3.3: Mùa vụ sinh sản của một số loài cá biển tại Việt Nam 31
Bảng 3.4: Sức sinh sản tuyệt đối của cá đục tại một số vùng biến Ấn Độ 33

DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Bảng đồ phân bố cá đục trên thế giới . 4

Giai đoạn
W:
Trọng lượng
L:
Chiều dài
Lt:
Chiều dài tại thời điểm t năm.
*:
Phép nhân
T:
Tháng
M:
Trung Bình
SD:
Độ lệch chuẩn
m:
Số mẫu
1
MỞ ĐẦU
Hiện nay ở Việt Nam, nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên đã bị khai thác quá mức, đặc
biệt là nguồn lợi thủy sản gần bờ. Những loài thủy sản được khai thác có giá trị kinh tế
cao đang giảm nhanh. Đồng thời, những loài thủy sản có giá trị thấp đã tăng lên nhưng
sản lượng chung đang cạn kiệt dần [12]. Nhiều ngư dân đã chuyển sang khai thác bằng
lưới có kích thước mắt lưới nhỏ hơn hoặc từ bỏ nghề [12]. Việc đánh bắt bằng lưới có
kích thước mắt lưới nhỏ là một hình thức khai thác mang tính hủy diệt. Một số ngư dân đã
chuyển sang khai thác xa bờ. Tuy nhiên, khai thác xa bờ cần có vốn đầu tư lớn đồng thời
cũng đang đối diện với nhiều rủi ro [12]. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình

Mục tiêu của đề tài:
Xác định các thông số sinh học sinh sản và sinh trưởng của cá đục ở vùng biển
Khánh Hòa làm cơ sở đề xuất biện pháp khai thác hợp lý loài cá này và cung cấp dẫn liệu
cho nghiên cứu sinh sản nhân tạo.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ làm cơ sở khoa học cho những định hướng khai
thác bền vững loài cá đục ở vùng biển Khánh Hòa.
Thông tin từ kết quả nghiên cứu sẽ làm dẫn liệu khoa học để xây dựng qui trình
sinh sản nhân tạo, tạo con giống để phát triển đối tượng nuôi mới.
Nội dung nghiên cứu:
- Xác định đặc điểm sinh học sinh trưởng
+ Mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng.
+ Hệ số béo.
+ Các thông số trong phương trình Von Betalanffy áp dụng cho cá đục.
- Xác định đặc điểm sinh học sinh sản
+ Các giai đoạn phát triển buồng trứng.
+ Tỷ lệ đực cái.
+ Mùa vụ sinh sản: hệ số thành thục, tỷ lệ thành thục theo tháng.
+ Kích thước thành thục lần đầu.
+ Sức sinh sản.
3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Vị trí phân loại, phân bố và đặc điểm hình thái
1.1.1. Vị trí phân loại
Theo Shamsan (2008) [74], cá đục có vị trí phân loại như sau:
Ngành có Dây sống: Chordata
Lớp cá xương: Osteichthyes

(Ghi chú: Màu vàng, hồng, đỏ là sự phân bố của cá đục theo mật độ tăng dần)
Cá đục đã được ghi nhận phân bố ở vùng Địa Trung Hải, bờ biển Labenon [61] và
Thổ Nhĩ Kỳ [34]. Cá đục được tìm thấy ở vùng biển của châu Phi [62], vùng biển của
Trung Quốc [45], Nhật Bản [49] và Phi-líp-pin [48]. Tại Ấn Độ dọc theo bờ biển phía Tây
và bờ biển phía Đông [20].
Họ Sillaginidae sống ở vùng nông có đáy cát ở bờ biển, con lạch, vịnh và cửa sông.
Chúng ít xuất hiện ở các quần đảo ngoài đại dương và môi trường rạn san hô, mặc dù ít
nhất hai loài được tìm thấy ở rạn san hô trong đó có cá đục [82].
1.1.3. Đặc điểm về hình thái
Cá đục Silago sihama có cơ thể thon dài, mõm nhọn, phía trên của đầu hơi lồi,
miệng nhỏ. Vây lưng đầu tiên cao hơn so với vây lưng thứ hai. Vây lưng thứ nhất có 11
gai; vây lưng thứ hai có 1 gai và 20 - 23 tia mềm. Đường bên có 50 đến 84 vảy; có 5 đến
6 hàng vảy ở trên đường bên và 9 đến 10 hàng vảy dưới đường bên. Lưng có màu nâu
nhạt, hai bên sườn bụng nhạt hơn, bụng màu trắng bạc và không có vệt đen. Cả hai vây
lưng và đuôi có màu sẫm, các vây khác nhạt màu hơn [74].

5

Hình 1.2: Cá đục sillago sihama [84].
1.2. Tình hình nghiên cứu cá đục trên thế giới
1.2.1. Một số đặc điểm sinh học
1.2.1.1. Đặc điểm sinh thái và môi trường sống
Một số nghiên cứu nhằm xác định đặc điểm sinh học sinh thái và môi trường của
cá đục đã được thực hiện. Cá đục là loài sống gần bờ thường xuyên thâm nhập vào các
cửa sông. Cá đục cũng đã được ghi nhận xuất hiện ở khu vực nước ngọt [35, 55]. Chúng
phân bố dọc theo bãi biển, bãi cát, suối rừng ngập mặn và cửa sông, nhưng rất hiếm khi bị
bắt bởi tàu đánh cá. Điều này là do tập tính sinh học của cá đục, vì chúng có thể chôn

Thức ăn chủ yếu của cá đục tại vịnh Manaar, Ấn Độ chủ yếu của cá đục là giun
nhiều tơ (Marphysa, Perinereis, Nereis), tôm (Penaeus), một số loài giáp xác (Ocypoda,
Alpheusand Gonodactylus) và amphipods [24,25]. Cá đục nhỏ thường ăn tảo sợi. Theo
nghiên cứu được tiến hành tại vùng vịnh Sillaginid Palk và vịnh Mannar, Ấn Độ thì các
mẫu ruột cá đục thường chứa các loại giun nhiều tơ và giáp xác nhỏ [43]. Nghiên cứu của
Shamsan (2008) [74], chỉ ra rằng giáp xác là nguồn thức ăn quan trọng nhất so với các
loại thức ăn khác trong dạ dày của cá đục vùng Zuari Estuary, Ấn Độ. Nghiên cứu này
phù hợp với nghiên cứu của Gowda & cs (1988), tại vùng Mangalore, Ấn Độ. Kết quả
nghiên cứu đó cho thấy copepoda là thức ăn chủ yếu của cá đục trong mùa xuân, cua là
thức ăn chủ yếu trong mùa hè. Sự khác biệt đó có lẽ là do sự phong phú của nhóm chân
chèo và cua trong giai đoạn này [33]. Điều này cho thấy, nguồn thức ăn tự nhiên của cá
chịu ảnh hưởng bởi những thay đổi sinh học theo thời gian, làm thay đổi cấu trúc của
chuỗi thức ăn trong năm. Và như là một hệ quả tất yếu thường thì chế độ ăn của cá thay
đổi theo mùa [46]. Taghavi Motlagh & cs (2012) [77], đã tiến hành nghiên cứu về thành
phần thức ăn trong dạ dày của cá đục ở vùng phía Bắc vịnh Ba Tư. Kết quả nghiên cứu
này cho thấy cá đục ăn các loài tảo (tảo khuê, tảo lam) và trùng hai roi là nguồn thức ăn
chính có nguồn gốc thực vật. Trong đó tảo khuê là thức ăn thích hợp nhất có nguồn gốc
thực vật, nó chiếm đến 59,5% trong tổng số 60,8% tổng số thức ăn có nguồn gốc thực vật.
Các loài giáp xác bao gồm cua, ấu trùng cua, tôm, nhóm chân chèo, trứng và ấu trùng các
loại là những thành phần thức ăn được tìm thấy trong dạ dày của cá đục có nguồn gốc
động vật. Sở dĩ nguồn thức ăn chính của cá đục ở mỗi khu vực có sự sai khác là do cá đục
thuộc loài ăn tạp đồng thời điều kiện tự nhiên của mỗi vùng khác nhau điều này kéo theo
lượng thức ăn chính của cá đục ở mỗi khu vực nghiên cứu có sự sai khác.
Từ các kết quả nghiên cứu cho thấy nguồn thức ăn của cá đục là sinh vật phù du,
sinh vật đáy và một số loài giáp xác. Thức ăn chủ yếu của cá đục là các loài giáp xác bao
7
gồm cua, ấu trùng cua, tôm, nhóm chân chèo, trứng, ấu trùng các loại; giun nhiều tơ

L
t
= 388 * [1- e
-0,1526 * (t- (-1,6))
] [74].
Theo các thông tin thu thập, đặc điểm sinh trưởng của cá đục đã được nghiên cứu
tương đối nhiều ở Ấn Độ về mối tương quan chiều dài – khối lượng cũng như các thông
số sinh trưởng của phương trình Von Betalanffy. Tuy nhiên, thông tin này còn rất hạn chế
tại một số khu vực ở Châu Úc và phía Đông Châu Á trong đó có Việt Nam. Vì vậy, tiến
8
hành nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh trưởng cá đục vùng biển Khánh Hòa là rất cần
thiết.
1.2.1.4. Đặc điểm sinh sản
Hiện nay, cá đục đã được nghiên cứu tương đối nhiều ở Ấn độ về sinh học, nguồn
lợi và sinh sản nhân tạo. Palekar và Bal (1961), Gowda & cs (1988), đã nghiên cứu một
số đặc điểm về sinh học sinh sản của loài cá này [33, 65]. Kumai & Nakamura (1978), đã
nghiên cứu cho sinh sản S. sihama trong phòng thí nghiệm, nghiên cứu này chỉ ra rằng
khả năng sinh sản có thể xảy ra ở tần số gần như bằng nhau không phân biệt kích thước
của cá đẻ trứng. Tuy nhiên, tổng số lượng trứng trong thời kỳ sinh sản phụ thuộc chủ yếu
vào kích thước hay tuổi [51]. Palekar và Bal (1961), tiến hành nghiên cứu về sự thành
thục, mùa vụ sinh sản, sức sinh sản và tuổi thành thục lần đầu của cá đục ở vùng Karwar,
Ấn Độ [65]. Gowda & cs (1988), đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sinh sản của S.
sihama ở Ấn Độ, kết quả cho thấy cá đục có sức sinh sản tốt nhất khi chiều dài đạt 150
mm đối với cá đực và 250 (mm) đối với cá cái. Khả năng sinh sản của S. sihama liên quan
đến tổng chiều dài, khối lượng cơ thể và khối lượng của buồng trứng đã được ghi nhận
bởi Reddy (1991) thực hiện tại vùng Karwar [71]. Jayasankar (1991), đã có báo cáo về
quá trình thành thục sinh dục và đẻ trứng của cá đục bạc tại 2 vịnh Sillaginid Palk và vịnh

Các kết quả nghiên cứu về sức sinh sản tuyệt đối của cá đục có sự khác biệt giữa
các tác giả: Palekar và Bal (1961), thực hiện nghiên cứu tại vùng Karwar, Ấn Độ cho rằng
sức sinh sản tuyệt đối của cá đục dao động trong phạm vi 16.682 – 166.130 (trứng/cá cái)
[65], kết quả nghiên cứu của Jayasankar (1991) thì chỉ số này dao động trong phạm vi
6.956 – 48.373 (trứng/cá cái) đối với cá đục vịnh Sillaginid Palk và Mannar [43], còn kết
quả nghiên cứu được thực hiện tại vùng Mangalore, Ấn Độ của Gowda (1988) thì sức
sinh sản tuyệt đối của cá đục dao động trong khoảng 31.678 - 288.000 (trứng/cá cái) [33].
Thông tin về đặc điểm sinh học sinh sản của cá đục được nghiên cứu tương đối
nhiều ở Ấn Độ. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về các đặc
điểm sinh học sinh sản cá đục vùng biển Khánh Hòa được công bố.
1.3. Tình hình nuôi cá đục
Theo các thông tin sinh học nghiên cứu bởi Bal và Rao (1984), cá đục có khả năng
thích nghi được trong phạm vi rất rộng về độ mặn [20]. Vì thế, cá đục là đối tượng nuôi
phù hợp trong cả nước mặn, nước lợ và nước ngọt [74]. Trong thời gian qua, cá đục đã
được xem xét nuôi trong cả hai hệ thống nước mặn [29, 39, 40, 42, 74] và nước ngọt [18].
James & cs (1976), đã tiến hành thử nghiệm nuôi và cho sinh sản S. sihama trong vùng
nước lợ ở miền Nam Kanara, Ấn Độ [39].
Lợi thế của việc nuôi cá đục là có thể tận dụng được nguồn thức ăn tự nhiên đồng
thời có thể nuôi ghép với một số đối tượng khác. Chúng có thể sử dụng nhiều loại thức ăn
khác nhau và có thể được cung cấp trực tiếp từ môi trường [74]. Cá đục không thuộc loài
cá dữ nên nó có thể được nuôi ghép với các loài cá khác. Một số thí nghiệm đã được thực
10
hiện để nuôi ghép đối tượng này. Tại Mangalore, Ấn Độ, cá đục được nuôi với cá măng
(Chanos Chanos), cá đối (Liza macrolepis), và tôm he Ấn Độ. Kết quả thu được tăng
trưởng trung bình hàng tháng là 10,6; 57,4; 28,2 (mm) tương ứng được ghi nhận. Tại
Tuticorin, Ấn Độ cá măng (Chanos Chanos), cá đối (Valamugil seheli) và cá đục đã được
nuôi ghép và có tăng trưởng trung bình hàng tháng được ghi nhận là 22,7; 26,9 và 16,8

+

có chiều dài tương ứng là 69,34; 103,3; 119,3; 126,8 và 130,3 (mm). Võ Văn Quang & cs
(2007) [11], đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng của cá lầm tròn nhẳng
Spratelloides gracilis ở vùng biển Khánh Hòa. Theo đó, mối tương quan giữa chiều dài -
khối lượng và phương trình sinh trưởng Von Betalanffy của cá lầm tròn nhẳng lần lượt có
dạng:
L = 48*10
-4
*W
3,27

Lt = 94,5*[1-e
-4,2*(t-to)
]
Thông tin từ nghiên cứu của Phạm Quốc Hùng (2010), cá chẽm mõm nhọn sinh
trưởng tương đối chậm. Trong cùng thời gian và điệu kiện môi trường sống thì con cái
11
sinh trưởng nhanh hơn con đực. Chiều dài trung bình của con cái ở độ tuổi 2
+
và 4
+
lần
lượt là 243 và 269 (mm) trong khi con đực chỉ là 223 và 247 (mm) tương ứng [1].
1.4.2. Đặc điểm sinh sản.
Năm 1995, Võ Ngọc Thám đã tiến hành điều tra một số đặc điểm sinh học sinh sản
của cá Chẽm Lates calcarifer ở đầm Nha Phu, Khánh Hòa. Theo thông tin điều tra, cá

12
51,13 ± 4,29 (cm); 2,50 ± 0,28 (kg/con). Cá hồng bạc có sức sinh sản tương đối là 165,98
± 603,72 (trứng/gam), sức sinh sản tuyệt đối dao động trong khoảng 583.209 - 4.857.650
(trứng/cá cái). Mùa vụ sinh sản của loài cá này tại vùng biển Khánh Hòa bắt đầu từ tháng
4 đến tháng 9, trong đó thời gian cá đẻ tập trung là từ tháng 6 đến tháng 9. Kết quả nghiên
cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của loài cá này đã làm cơ sở dữ liệu cho tác giả
tiến hành thử nghiệm thành công trong sinh sản nhân tạo loài cá hồng bạc ngay sau đó.
Điều này cho thấy vai trò quan trọng của việc nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của
một loài cá là hết sức cần thiết để làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo, đặc biệt là
cơ sở bước đầu để tiến hành sinh sản nhân tạo.
Tuy nhiên, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào về đặc điểm sinh học sinh sản và
sinh trưởng của cá đục silago sihama ở vùng biển Khánh Hòa. Vì vậy, việc nghiên cứu
các đặc điểm sinh học sinh sản và sinh trưởng của cá đục là cần thiết nhằm cung cấp dẫn
liệu cho các nghiên cứu tiếp theo để xây dựng quy trình sinh sản nhân tạo và đề xuất các
giải pháp khai thác hợp lý loài cá này.

13
Chương 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Cá đục Silago sihama (Forsskal, 1775).
Thời gian: Từ tháng 06/2012 - 05/2013.
Địa điểm nghiên cứu: Viện Hải dương học.
Địa điểm thu mẫu: Đầm Nha Phu thuộc tỉnh Khánh Hòa.
2.2. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

giai
đoạn
phát
triển
của
tinh
sào và
buồng
trứng

-Mùa vụ
sinh sản:
hệ số
thành
thục, tỷ
lệ thành
thục theo
tháng

- Sức
sinh
sản

-Kích
thước
thành
thục
lần
đầu


đến 0,1 (mm). Chiều dài toàn thân của cá được đo từ mút mõm đến hết vây đuôi dài nhất.
Khối lượng cá, cá đã bỏ nội quan và tinh sào và buồng trứng được xác định bằng
cân điện tử TE412 của Canada có độ chính xác đến 0,01 (g).
2.4.2. Phân tích tinh sào và buồng trứng
2.4.2.1. Phương pháp xác định và mô tả các giai đoạn của tinh sào và buồng
trứng
Các giai đoạn phát triển của tinh sào và buồng trứng cá đục được xác định dựa vào
hình thái bên ngoài, theo thang 6 bậc theo phương pháp của Nikolsky (1963) [9, 63].
Tổ chức học của tinh sào và buồng trứng được mô tả theo phương pháp của Xakun
và Buskaia (1968) [16].
2.4.2.2. Phương pháp làm tiêu bản trên tổ chức mô học tinh sào và buồng trứng
Tiêu bản mô học tinh sào và buồng trứng được tiến hành theo phương pháp của
Patki & cs (1989) [66], gồm các bước chính sau:
- Cố định mẫu tinh sào và buồng trứng
- Chuẩn bị mẫu
- Đúc parafin
- Cắt lát mẫu
- Nhuộm Hematoxylin và Eosin
- Làm trong mẫu
15
Mỗi giai đoạn của tinh sào và buồng trứng được làm 3 tiêu bản, tổng số tiêu bản là
33. Các tiêu bản được quan sát dưới kính hiển vi Olympus CX 31 và được chụp bằng máy
ảnh Canon Powershot A2200.
2.4.2.3. Xác định kích thước trứng và số lượng trứng giai đoạn IV
Kích thước trứng qua các giai đoạn được đo bằng kính hiển vi Olympus BX41.
Mỗi giai đoạn đo 30 trứng. Giai đoạn I, II được quan sát dưới vật kính x10 và thị kính
x10. Giai đoạn III, IV và V được đo quan sát dưới vật kính x4 và thị kính x10.



 
Trong đó:
Q: Hệ số béo.
W: Khối lượng toàn thân (g).
L: Chiều dài của cá đo từ mút mõm đến hết vây tia đuôi dài nhất (mm).
2.5.1.3. Lập phương trình sinh trưởng Von Bertalanffy [47] về chiều dài của cá
L
t
= L

* [1 – e
-k*(t-to)
]
Trong đó:
to: Thời gian lý thuyết ở chiều dài cá bằng 0.
t: Thời gian (năm).
L

: Chiều dài cực đại của cá.
b: Hệ số tương quan theo phương trình của Berton –Holt.
k: Hệ số đường cong của phương trình.
Các giá trị L

, k và to của phương trình được xác định trên cơ sở xử lý số
liệu thu được qua các phương trình tính toán thực nghiệm.
Các thông số của phương trình sinh trưởng Von Bertalanffy được tính toán bằng
phương pháp ELEFAN I, dựa trên tần số xuất hiện chiều dài.
2.5.2. Sinh học sinh sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status