ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------
---------
HOÀNG ĐẠO TÚ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CỦA
MỘT SỐ LOÀI TRE PHỔ BIẾN TẠI THÁI NGUYÊN
LÀM CƠ SỞ LỰA CHỌN LOÀI PHÙ HỢP CHO TRỒNG RỪNG
NGUYÊN LIỆU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
THÁI NGUYÊN – 2011
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------
---------
HOÀNG ĐẠO TÚ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CỦA
MỘT SỐ LOÀI TRE PHỔ BIẾN TẠI THÁI NGUYÊN
LÀM CƠ SỞ LỰA CHỌN LOÀI PHÙ HỢP CHO TRỒNG RỪNG
Khoa Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng bàn bè đồng
nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn đến tập thể Ban lãnh đạo Chi Cục Phát triển nông
thôn, Chi cục Kiểm Lâm, Chi cục Lâm Nghiệp tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi về cơ sở vật chất trong quá trình làm luận văn.
Cuối cùng cho tôi gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân và bạn bè gần xa
đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành cuốn
luận văn này.
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011
Hoàng Đạo Tú
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng
Tên bảng
Trang
1.1
Tre phân bố ở các vùng tại Việt Nam
6
1.2
Biến động của rừng tre về diện tích và trữ lượng theo thời
49
4.4
Hiện trạng sử dụng một số loài tre nứa tại địa phương
51
4.5
Diện tích trồng tre nứa tại địa phương
52
4.6
Kết quả phân tích phẫu diện đất tại xã Linh Thông, Định Hóa
54
4.7
Chỉ tiêu sinh trưởng một số loài tre tại Linh Thông
55
(D1,3>5cm)
4.8
Trang
2.1
Sơ đồ bố trí ô tiêu chuẩn
21
3.1
Bản đồ hiện trạng rừng tỉnh Thái Nguyên năm 2008
24
3.2
Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng xã Linh Thông huyện
30
Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
3.3
Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng xã Tân Dương huyện
33
Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
3.4
1.2. Nghiên cứu về tre trên Thế giới và Việt nam......................... ............... .................... 7
1.2.1. Trên thế giới....................................................................................................... .7
1.2.2. Ở Việt Nam. ...................................................................................................... 12
Chương 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU .............................................................................................. 19
2.1. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................................. 19
2.1.1. Về lý luận......................................................................................................... .19
2.1.2. Về thực tiễn ..................................................................................................... 19
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................................ 19
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu ...................................................................................... 19
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu .......................................................................................... 19
2.3. Nội dung nghiên cứu......................................................................... ....................... 19
2.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................... 20
Chương 3: TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU .................................................. 24
3.1. Điều kiện tự nhiên.............................................. ...................................................... 24
3.1.1. Vị trí địa lý................................... .................................................................... .24
3.1.2. Địa hình.......................................................................................................... ...25
3.1.3. Địa chất thổ nhưỡng....................................................................................... ...26
3.1.3. Khí hậu, thủy văn........................................................................................... ...27
3.1.3. Địa chất, thổ nhưỡng...................................................................................... ...28
3.2. Kinh tế xã hội........... ............................................................................................... .28
3.2.1. Đặc điểm dân cư, dân tộc............................................................................... ...28
3.2.2. Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp................................................................. 29
3.3. Đặc điểm khu vực nghiên cứu............................................................................. .....30
3.3.1. Xã Linh Thông huyện Định Hóa.......... ........................................................... .30
3.3.2. Xã Tân Dương huyện Định Hóa................. .................................................... ..33
3.3.3. Xã Yên Trạch huyện Phú Lương................. ................................................... ..35
3.4. Đánh giá chung về khu vực nghiên cứu..................................... ........................... ...38
3.4.1. Thuận lợi.. ........................................................................................................ .38
3.4.2. Khó khăn........................................................................................................... 38
trồng rừng mạnh nhất là Trung Quốc. Việt Nam có địa hình kéo dài với hai hệ
thực vật khác biệt rõ rệt: ở miền Bắc là tre liên quan đến phả hệ Trung Quốc,
trong khi miền Nam gắn với phả hệ Indonesia và Malaysia. Giá trị kinh tế của
tre đã được biết đến nhiều trong chế biến thực phẩm, xây dựng, làm hàng nội
thất, thủ công mỹ nghệ... Nhưng giá trị về mặt môi trường còn lớn hơn nhiều,
do khả năng hấp thụ Carbon của Tre là rất cao. Trồng tre thành rừng trên đất
đồi trọc sẽ giúp chống xói mòn, đồng thời có thể ghóp phần giảm khí thải nhà
kính và ghóp phần hạn chế hiện tượng nóng lên toàn cầu.
Cây tre đã đi vào văn hoá Việt Nam như một hình ảnh bình dị mà đầy sức
sống, dẻo dai chống chịu thiên tai, gió bão và giặc ngoại xâm. Tre đã gắn liền
với đời sống của rất nhiều người dân. Đây là nhóm loài có tiềm năng lớn
trong việc cung cấp nguyên liệu cho nghành chế biến lâm sản. Không thể kể
hết tính đắc dụng của tre đối với người nông dân Việt Nam: Trong xây dựng:
cây tre dùng để làm nhà, lợp mái...Trong công nghiệp: cây tre dùng để sản
xuất ra giấy, chất đốt diesel có thể lấy từ cây tre...Trong nông nghiệp: cây tre
làm ổn định đất trồng và bón phân cho đất...Trong y học: lá tre dùng để chữa
một số bệnh như bệnh ngứa, bệnh chảy máu, bệnh hen suyễn...Trong thực
phẩm: búp non của cây tre có thể ăn được gọi là măng.Trong âm nhạc: cây tre
dùng để làm ra các nhạc cụ âm nhạc như: đàn tơ-rưng, sáo, đàn gió...Trong
thủ công mỹ nghệ: cây tre dùng để làm ra các sản phẩm trang trí nhà cửa rất
đẹp và tiện dụng như: khung tranh ảnh, bát, đĩa, khay, bàn, ghế, giường,
tủ...Và cuối cùng, cây tre là nguồn thu nhập của rất nhiều người trên toàn thế
giới. So với các loài cây gỗ, Tre có ưu điểm đặc biệt là tăng trưởng nhanh,
tuổi khai thác sớm, có thể khai thác 5-6 năm sau khi trồng với năng suất khá
cao (4-12 tấn/ha/năm) và luân kỳ khai thác ngắn. Hàng năm Việt Nam tiêu
thụ khoảng 400-500 triệu cây tre nứa cho các mụ đích khác nhau.
Theo công bố về hiện trạng rừng toàn quốc của Bộ Nông Nghiệp và Phát
Triển Nông Thôn năm 2009, diện tích rừng gỗ là 8.235.838 ha, như vậy trong
1
2
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về đối tượng nghiên cứu
* Đặc điểm nhận biết
Tre là tập hợp của các loài thực vật thuộc họ Hòa thảo (Poaceae) hay có khi
còn gọi là (Gramineae). Tre thường có đặc tính sinh trưởng giống như cây
thân gỗ, tuy nhiên có đặc trưng là thân thường rỗng, có hệ thân ngầm, phân
cành khá phức tạp và hệ thống mo thân. Đặc điểm phân biệt với các loài song
mây hoặc cau dừa là hầu hết các loài song mây, cau dừa đều có thân đặc và
mềm dẻo, còn tre nói chung có thân rỗng (trừ một số loài ngoại lệ như giang
đặc). Do không có cấu tạo tượng tầng nên tre không hình thành vòng năm
như ở cây gỗ. Có một thân chính hình trụ, thẳng và thường cong ở phần ngọn
[17].
* Đặc điểm sinh học và sinh thái học
Do tre không có một thân chính như thân cây gỗ nên thân ngầm là một bộ phận
đặc biệt của cây, nơi giữ cho cây đứng vững, ổn định và là nơi tạo nên các thân
cây mới, Thân ngầm có cấu tạo cơ bản giống như thân khí trên mặt đất, chỉ khác
là có lóng ngắn, vách rất dày hoặc thân đặc hoàn toàn, hệ rễ phát triển và các bộ
phận thường có mầu trắng [17].
Thân được chia làm ba loại chính: Thân ngầm mọc cụm thân rất ngắn không thể
bò lan ra, chồi từ thân ngầm sẽ phát triển thành cây mới mọc gần nhau tạo thành
các bụi, các khóm. Thân khí sinh thường có hình trụ và nhiều lóng rỗng, độ dài
của các lóng trên thân không giống nhau và thường có màu xanh hoặc xanh lục,
nhạt hoặc thẫm... Cành có cấu tạo giống như thân khí sinh, đốt thân là nơi phát
sinh cành. Sự hình thành cành trên các đốt kế tiếp thường theo hướng đối xứng
hoặc so le nhau
Lá có hai loại phục vụ cho hai mục tiêu khác nhau. Loại thứ nhất làm nhiệm vụ
membranaceus),vỏ quả mỏng, dính liền với vỏ hạt, phôi nhũ chưa nhiều tinh
bột, vị trí phôi nằm ở phía dưới phôi nhũ, đối diện phía ngoài, bên kia là rốn
hạt dạng máng.
Hạt các loài tre, bất kể là loại quả thóc hay loại phi quả thóc Hạt loại quả kiên
(một phần), quả mọng không có phôi nhũ. Vỏ hạt các loài tre đều rất mỏng,
thường chỉ có 1 lớp tế bào. Hạt các loại tre thuộc 2 nhóm có phôi nhũ và
không có phôi nhũ. Hạt loại quả thóc thường có phôi nhũ rõ rệt [16].
* Phân bố địa lý
Tuy diện tích, trữ lượng và số loài có khác nhau nhưng nơi nào ở Việt Nam
cũng có tre. Diện tích Tre phân bố trong các vùng ở Việt Nam được thể hiện ở
bảng 1.1
4
Bảng 1.1.Tre phân bố ở các vùng tại Việt Nam
Diện tích
(ha)
Vùng
Đông bắc
Tây bắc
Đồng bằng S. Hồng
Bắc Trung Bộ
Tây nguyên
Duyên hải miền trung
Đông nam Bộ
Tổng cộng
Rừng tự nhiên
Tổng số
Rừng
trồng
Chi tre
chủ yếu
13.695
8.665
11
51.040
0
0
105
73.516
1,2,3,4
1,2,3,4
1,2
1,2,3,4,5
1,5
1,5
1,2,5
(Nguồn số liệu kiểm kê rừng Việt Nam năm 1999)
Nhìn vào bảng 1.1. Tre phân bố ở các vùng tại Việt Nam, xếp theo thứ tự diện
tích và trữ lượng thì đáng quan tâm nhất là vùng Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ,
Đông Bắc, Đông Nam Bộ rồi đến Tây Bắc. Một số loài tre phổ biến cho các
vùng được thể hiện ở bảng 1 (xem phụ lục).
* Giá trị
một nửa dân số thế giới liên quan với nhóm tài nguyên này. Tre thuộc phân
họ Tre (Bambusoideae), họ Cỏ (Poaceae) với khoảng 1300 loài thuộc 70 chi
phân bố trên toàn thế giới. Theo thống kê có trên 14 triệu ha rừng tre phân bố
từ 510 vĩ Bắc đến 470 vĩ Nam đều có tre sinh trưởng. Nhiều loài tre có đặc
tính mọc thành rừng.
Nước nhiều tre nhất là Trung Quốc, với khoảng 50 chi và 500 loài và diện
tích 7 triệu ha rừng tre. Nước nhiều tre thứ hai là Nhật Bản với 13 chi, trên
230 loài và diện tích 0,1 triệu ha rừng tre.Tiếp đó là các nước Ấn Độ, các
nước Nam và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam (Trần Ngọc Mão và nhóm
tác giả, 2006).
Về mặt địa lý, phân bố của tre trên toàn thế giới có thể chia làm 3 vùng: Vùng
tre Châu Á - Thái Bình Dương, Châu Mỹ và Châu Phi. Trong mỗi vùng hay
mỗi nước có thể chia thành nhiều vùng phụ tuỳ theo khí hậu và các dạng tre.
6
Về mặt phân loại, cho đến nay việc phân loại tre vẫn chưa thực sự chính xác,
nguyên nhân là do tính đa dạng về loài, cũng như đặc tính ra hoa không
thường xuyên của nhiều loài tre. Năm 1868 Munro lần đầu tiên đã đưa ra hệ
thống phân loại tre với 120 loài thuộc 21 chi, chúng được chia làm 3 nhóm.
Cơ sở của hệ thống phân loại này là số lượng nhị hoa và cấu trúc quả. Late
Bentham (1883) đã đưa cơ sở vào hệ thống phân loại của Munro và bổ sung
thêm một số tiêu chuẩn khác như: Cấu trúc bông hoa, cụm hoa cũng như kiểu
phát sinh hoa, để xây dựng bảng phân loại tre của mình với 4 nhóm phụ là:
Arundinarieae, Bambuseae, Dendrocalameae và Melocanneae. Đây là hệ
thống phân loại tre phổ thông nhất và đặt nền móng cho các bước phát triển,
hoàn thiện việc phân loại tre sau này. Các nước phát triển ngày càng coi trọng
cây tre và ưa thích các loại sản phẩm chế biến từ tre. Ở các nước Đông Á, nơi
được coi là quê hương của cây tre, đang có xu hướng quay trở lại sử dụng loại
rồi nung trong nồi đất kín trong một khoảng thời gian xác định thu được một
hỗn hợp. Hỗn hợp này hiện còn được chế biến, đưa cả vào kem đánh răng.
Indonesia, đất nước có nhiều tương đồng với VN về văn hoá. Một số nơi ở
nước này, như ở đảo Bali đang phát triển trồng và chế biến tre. Tre đã được sử
dụng để làm những căn nhà cao tới 8 m (dùng kèm với các loại vật liệu nhẹ
khác) - một dạng nhà kính khung tre, và một số đồ nội thất khác như bàn máy
tính bằng tre. Một tổ chức có tên là Tre bảo vệ môi trường đã ra đời ở đảo
Bali nhằm cổ vũ cho việc trồng tre và sử dụng sản phẩm từ tre trong đời sống.
Tổ chức này hiện có hơn 80 giống tre đã và đang cung cấp rất nhiều cây giống
tới nhiều vùng ở Indonesia, cùng với phương pháp chăm sóc tre với những ưu
điểm là giá thành thấp, có khả năng chống côn trùng, nấm mốc cho tre. Tổ
chức này tin rằng mình đang đi đúng hướng, khi mà hiện nay nhu cầu tiêu thụ
gỗ toàn thế giới đang lớn hơn mức cung, và cứ mỗi ngày lại có thêm nhiều
cánh rừng biến mất. Cũng dùng tre để làm nhà, nhưng ở Hồng Kông còn có
những ngôi nhà cao tới 40 tầng đã được dựng với vật liệu chủ yếu là tre.
Trong tương lai gần ở Hồng Kông sẽ mọc lên nhiều ngôi nhà có khung bằng
tre đã qua xử lý đặc biệt.
Nước nhiều tre nhất là Trung Quốc, với khoảng 50 chi và 500 loài và diện
tích 7 triệu ha rừng tre. Nước nhiều tre thứ hai là Nhật Bản với 13 chi, trên
230 loài và diện tích 0,1 triệu ha rừng tre.Tiếp đó là các nước Ấn Độ, các
8
nước Nam và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam (Trần Ngọc Mão và nhóm
tác giả, 2006).
Thái Lan có nhiều nhà máy chế biến sản phẩm tre. Sản phẩm phụ của một số
nhà máy như thế lại trở thành nguyên liệu cho dân trong vùng nơi có nhà máy
chế tạo đồ thủ công mỹ nghệ và đồ dùng sinh hoạt hàng ngày. Tre cũng được
trồng từ lâu ở Nepan, ấn Độ, và ngày càng được coi trọng vì độ bền và tính
hiệu dụng trong cuộc sống người dân ở đây. Nước ta cũng như một số nước
được khai thác và các cây tái sinh mới được hình thành từ hệ thân ngầm,
phương thức đơn giản này có thể áp dụng cho mọi đối tượng hoặc loại rừng.
Chỉ sau khi ra hoa (khuy), thường là sau chu kỳ dài tất cả các thân ngầm đều
bị chết héo, thì Tre tái sinh từ hạt [21].
Cuốn kỷ yếu hội thảo quốc tế về Tre tổ chức tại Cochin, Ấn Độ năm 1988 đã
tổng kết nhiều bài báo khoa học về các lĩnh vực: bảo tồn, quản lý tre, sinh
trưởng năng suất và các vấn đề về nhân giống cũng như sâu bệnh hại Tre của
các tác giả Ấn độ và các tác giả trong khu vực có tre nứa (I.V. Ramanuja Rao,
R. Gnanaharan, Cherla B. Sastry, 1988) [30]
Nghiên cứu về vai trò của các loài Tre trong diễn thế thứ sinh sau canh tác
nương rẫy ở vùng thấp Đông Bắc Ấn Độ, K.S. Rao and P.S. Ramakrishna
(2001) thấy rằng Tre là tập đoàn cây chiếm ưu thế trên dạng lập địa này trong
thời gian dài nhờ vào đời sống dài và khả năng sinh trưởng nhanh của chúng.
Các loài Tre phổ biến ở khu vực ĐB Ấn Độ Dendrocalamus hamiltonii,
Neohouzeua dulloa và Bambusa khasiana. Sự thay đổi về mật độ, kiểu sống
và khả năng thích ứng của chúng với điều kiện môi trường giúp chúng có sự
ổn định quần thể. Ái lực mạnh đối với Cation, đặc biệt là kali giúp cho việc
bảo tồn các nhân tố này. Các nghiên cứu nhận thấy rằng Tre đóng vai trò hết
sức quan trọng trong diễn thế rừng đặc biệt giúp bảo tồn nguồn dinh dưỡng,
nhân tố quan trọng trong quản lý rừng phục hồi tại Đông Bắc Ấn [25].
Wang, K. và C. Hsueh. (1994) tóm lược các hiểu biết về sinh thái và môi
trường sống của Tre là yêu cầu cơ bản để phát triển phương thức lâm sinh và
khai thác bền vững nguồn tài nguyên này. Thêm vào đó thông tin về sinh thái
và quần thể cung cấp cơ sở cho những cai thiện về lâm sinh. Tre có 2 loại
10
thân rễ chính là thuộc loại theo cụm hoặc mọc đơn. Thân rễ là cấu trúc tự
nhiên bền vững và được sử dụng để phân loại Tre. Tre nhiệt đới hầu hết thuộc
hệ thống cụm và tre ôn đới thường mọc đơn. Dựa vào các tiêu chí này tác giả
trình Tổng kiểm kê rừng toàn quốc, Việt Nam có 789.221ha rừng tre thuần
loại, 702.871ha rừng hỗn giao tre nứa tự nhiên, cộng với trên 70.000 ha rừng
tre trồng và hàng trăm triệu cây tre trồng phân tán. Tre đựơc sử dụng rộng rãi
trong xây dựng, đặc biệt là ở các vùng nông thôn; từ việc sử dụng làm cọc
móng, giàn dáo, các kết cấu cần chịu lực đến sàn, trần, mái nhà, vách ngăn,
khung nhà để xuất khẩu. . . ước tính số lượng Tre được sử dụng trong xây
dựng chiếm tới 50% sản lượng khai thác hàng năm. Vì vậy trong chương trình
trồng mới 5 triệu ha rừng, nhóm Tre có vị trí được quan tâm. Kết quả hội thảo
"Xác định loài cây trồng rừng và chọn loài ưu tiên" tại các vùng lâm nghiệp
cũng đã chọn "Tre" là loài cây trồng ở tất cả các vùng (Nguyễn Tử Ưởng,
1995).
Quá trình khảo sát đã phát hiện ra một số chi được coi là mới đối với nước ta
là chi Giang (Maclurochloa) với 17 loài, chi Tre quả thịt (Melocalamus) với
10 loài, chi Tre Bidoup (Kinabaluchloa) có 1 loài. Một số loài mới được phát
hiện là Tre lông Bidoup (Kinabaluchloa) có đặc điểm ngoại hình giống loài
cùng chi ở Malaixia (Wong, 1995); trúc dây Bidoup (Ampelocalamus) có
ngoại hình giống như trúc dây Ba Bể; nhiều loài nứa (Schizostachyum), le
(Gigantochloa) và lồ ô (Bambusa). Một số chi có nhiều loài là chi Tre
(Bambusa) có 55 loài, chi Luồng (Dendrocalamus) có 21 loài, chi Le
(Gigantochloa) có 16 loài, chi Nứa (Schizostachyum) có 14 loài và chi Vầu
đắng (Indosasa) có 11 loài.
Qua một số năm điều tra khảo sát (2003-2006), Trần Văn Tiến và Nguyễn
Hoàng Nghĩa (2007) đã xác định được phân tông tre (Bambussinae) ở Việt
Nam hiện nay có 8 chi: chi Tre (Bambusa), chi Le Bắc Bộ (Bonia), chi Luồng
(Dendrocalamus), chi Le (Gigantochloa), chi Tre lông (Kinabaluchloa), chi
Giang (Maclurochloa), chi Tre quả thịt (Melocalamus), chi Tầm vông
(Thyrsostachys) mà các chi này có các loài mới hoặc mới ghi nhận ở Việt
Nam. Dựa trên một số đặc điểm hình thái hoa của 37 loài thuộc 5 chi cũng
như các cơ quan dinh dưỡng nhằm giới thiệu một số đặc điểm dễ nhận biết và
12
sp.nov.,
Bambusa
sinospinosa
McClure, Dendrocalamus minor (McClure), Phyllostachys hetercycla (Carr.)
Mitford, Bambusa bicorniculata sp. nov., Dendrocalamus barbatus Hsuch et
D. Z. Li, Dendrocalamus yunnanicus Hsuch et D. Z. Li,…
Bảng 1.2 Biến động của rừng tre về diện tích và trữ lượng theo thời gian
Rừng tre tự nhiên
Rừng tre trồng
Trữ lượng
(triệu cây)
Diện
tích (ha)
Trữ lượng
(triệu cây)
1983
Diện tích (ha)
Rừng hỗn
Rừng
giao Gỗ thuần loại
Tre
tre
96,074
Năm
kiểm
kê
(Nguồn Báo cáo kiểm kê rừng năm 1983, 1990, 1999)
Theo công bố của Chương trình Tổng kiểm kê rừng toàn quốc năm 2011, Việt
Nam có 789.221 ha rừng tre thuần loại, 702.871 ha rừng hỗn giao tre nứa tự
nhiên, cộng với trên 70.000 ha rừng tre trồng và hàng trăm triệu cây tre trồng
phân tán.
Trong thực tế, nhiều rừng gỗ sau khai thác đã bị tre xâm lấn trở thành rừng gỗ
-tre, nhiều diện tích rừng gỗ - tre trước đây do tiếp tục chặt cây gỗ nên còn lại
thuần loại tre và nhiều diện tích rừng tre bị khai thác tuỳ tiện trở nên nghèo
13
kiệt thậm chí chỉ còn lại đất trống. Vì vậy, các loại rừng tre trong các lần kiểm
kê không những thay đổi về số lượng (diện tích, trữ lượng), chất lượng (sản
lượng, phẩm chất cây) mà còn chuyển đổi về không gian.
Trong những năm gần đây việc trồng tre để kinh doanh đã đựơc đẩy mạnh
hơn nhất là thành phần kinh tế hộ gia đình. Trong tổng số 73.516 ha rừng tre
trồng thì rừng sản xuất là 60.482ha chiếm 82%, có 69.278 ha rừng cấp tuổi
hai chiếm 94% và diện tích do gia đình và tập thể quản lý là 62.905 ha chiếm
85,6 %.
Trong kế hoạch 5 năm (1991 đến 1995), đề tài cấp nhà nước mang mã số
KN03-12 do PGS.TS. Nguyễn Đình Hưng làm chủ nhiệm có đề mục "Tài
nguyên tre và song mây", do hạn chế về kinh phí nên chỉ tiến hành điều tra
trên một số điểm ở một số tỉnh trọng điểm tập trung nhiều tre như Phú Thọ,
cứu tre trúc ở nước ta tiếp tục nghiên cứu định danh các loài tre nứa hiện có
của Việt Nam ban đầu đã đưa ra danh sách gồm 194 loài của 26 chi tre trúc
Việt Nam. Phần lớn trong số đó là chưa có tên. Một số chi có nhiều loài là chi
Tre gai (Bambusa) có 55 loài thì có tới 31 loài chưa có tên, chi Luồng
(Dendrocalamus) có 21 loài với 5 loài chưa định tên, chi Le (Gigantochloa)
có 16 loài với 14 loài chưa có tên, chi Vầu đắng (Indosasa) có 11 loài với 8
loài chưa có tên và chi Nứa (Schizostachyum) có 14 loài thì có tới 11 loài
chưa có tên.
Bên cạnh đó, các nhà khoa học Việt Nam đã tìm ra được nhiều chi, loài mới
cho nước nhà. Năm 2005, Nguyễn Hoàng Nghĩa và cộng sự đã công bố 7 loài
nứa mới thuộc chi Nứa (Schizostachyum) như: Khốp Cà Ná (Cà Ná, Ninh
Thuận), Nứa Núi Dinh (Bà Rịa - Vũng Tàu), Nứa đèo Lò Xo (Đắc Glei, Kon
Tum), Nứa lá to Saloong (Ngọc Hồi, Kon Tum), Nứa không tai Côn Sơn (Chí
Linh, Hải Dương), Nứa có tai Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương), Nứa Bảo Lộc
(Bảo Lộc, Lâm Đồng – mô tả để so sánh). Các tác giả đã mô tả chi tiết về đặc
điểm hình thái, sinh thái của từng loài cụ thể.
Đồng thời nhóm nghiên cứu phát hiện ra 6 loài tre quả thịt dựa trên cơ sở cấu
tạo hình thái và giải phẫu hoa quả, sáu loài tre quả thịt đã được mô tả và định
danh để tạo nên một chi tre mới cho Việt Nam, đó là chi Tre quả thịt
15
(Melocalamus). Các loài đã được nhận biết là Dẹ Yên Bái (Melocalamus
yenbaiensis), Tre quả thịt Cúc Phương (M. cucphuongensis), Tre quả thịt Kon
Hà Nừng (M. kbangensis), Tre quả thịt Lộc Bắc (M.blaoensis), Tre quả thịt Pà
Cò (M. pacoensis) và Tre quả thịt Trường Sơn (M.truongsonensis).
Cũng trong đợt khảo sát này, Nguyễn Hoàng Nghĩa và nhóm nghiên cứu đã
phát hiện thêm một loài nứa mới cho Việt Nam có tên là Nứa Sapa
(Schizostachyum chinenseRendle) được tìm thấy trong rừng lá rộng thường
xanh của Vườn Quốc gia Hoàng Liên (tỉnh Lào Cai), tác giả đã mô tả về đặc
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu: Rừng Tre, hỗn giao tre gỗ tự nhiên.
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu:
Theo vào báo cáo tổng kết hàng năm (từ năm 2005 đến năm 2010) của Chi
cục Kiểm Lâm tỉnh Thái Nguyên về việc cấp giấy phép khai thác tre nứa và
lâm sản ngoài gỗ thuộc rừng trồng, rừng tre, rừng hỗn giao tre gỗ tự nhiên tập
trung chủ yếu ở khu vực phía bắc tỉnh Thái Nguyên là huyện Định Hóa,
huyện Phú Lương.
Dựa vào bản đồ quy hoạch 3 loại rừng, bản đồ thiết kế trồng rừng chúng tôi
tiến hành nghiên cứu tại 3 khu vực có rừng tre, hỗn giao tre gỗ tự nhiên gồm
xã Tân Dương huyện Định Hóa, xã Yên Trạch huyện Phú Lương tỉnh Thái
Nguyên.
2.3. Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài đã thực hiện các nội dung nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố tre ở Thái Nguyên.
- Nghiên cứu hiện trạng sử dụng các loài Tre tại khu vực Thái Nguyên.
- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số loài Tre trên
một số điều kiện lập địa khác nhau ở tỉnh Thái Nguyên.
- Kết luận chung về đặc điểm sinh trưởng tre giữa các khu vực nghiên cứu
17