GS.TS.Phạm Thị Minh ðức
1
ðỀ TÀI: NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VÀ THỰC HÀNH
Y ðỨC TRONG NHÂN VIÊN Y TẾ Ở 3 TUYẾN BỆNH VIỆN
(HUYỆN, TỈNH, TRUNG ƯƠNG)
Chủ nhiệm ñề tài: GS. TS Phạm Minh ðức
Người cùng thực hiện: TS. Lê Thị Tài
ThS. Lê Thu Hòa
TS. Trần Thị Thanh Hương
ThS. Nguyễn Ngô Quang
cập cũng như các ñại biểu Quốc hội hay chất vấn lãnh ñạo ngành y tế trong các
kỳ họp Quốc hội và là những nội dung rất quan trọng của y ñức mà người cán
bộ y tế cần tuân thủ.
GS.TS.Phạm Thị Minh ðức
3
Vậy hiểu biết và thực hành y ñức của cán bộ y tế ñang làm việc tại các bệnh
viện như thế nào? Có những yếu tố nào chi phối nhận thức và thực hành y ñức
của cán bộ y tế hiện nay? Làm thế nào ñể nâng cao thực hành y ñức của cán bộ
y tế ? ðây chính là những câu hỏi cần ñược trả lời. Trong hai thập kỷ nay, do
nhu cầu phát triển y học nước nhà, do các ñiều kiện nghiên cứu ñược cải thiện
hơn nhiều so với trước ñây nên nhiều công trình nghiên cứu về y học và y tế
ñược triển khai. Các kết quả nghiên cứu ñã ñược áp dụng vào thực tiễn với mục
ñích nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe. Những công trình này thường tập
trung vào việc phát hiện và dập tắt các vụ dịch, chế tạo các vác xin ñể phòng
bệnh, phát hiện các yếu tố nguy cơ ñối với các bệnh kây truyền và bệnh xã hội
ñể tăng cường giáo dục dự phòng, áp dụng các kỹ thuật chẩn ñoán hoặc ñiều trị
mới và hiện ñại ñể giải quyết một số bệnh hiểm nghèo…Tuy vậy có lẽ do y ñức
là một vấn ñề nhậy cảm nên mặc dù thường xuyên ñược công chúng cũng như
lãnh ñạo ngành Y tế nhắc ñến nhưng hầu như chưa có công trình nào nghiên
cứu về chủ ñề này một cách tương ñối hệ thống ñể trả lời những câu hỏi ñã nêu
trên. Cũng ñã có một số công trình nghiên cứu về lĩnh vực này nhưng chỉ tập
trung vào ñối tượng ñiều dưỡng viên [1], [13], [17], trong khi bác sỹ là những
người hay ñược công luận gắn với những sai sót về cách ứng xử cũng như thực
hành chuyên môn thì chưa có công trình nào nghiên cứu.
Xuất phát từ những lý do trên, ñề tài ñược tiến hành nhằm giải quyết các mục
tiêu sau:
1. Mô tả thực trạng nhận thức và thực hành y ñức của bác sỹ ñang trực tiếp
khám chữa bệnh ở bệnh viện thuộc ba tuyến bệnh viện huyện, tỉnh, trung
ương
cá nhân và xã hội, cốt ñể bảo vệ chế ñộ kinh tế, chế ñộ chính trị”[21].
Theo Từ ñiển Bách khoa Việt Nam thì:
“ðạo ñức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao
gồm những chuẩn mực xã hội ñiều chỉnh hành vi con người trong quan
hệ với toàn xã hội” [20]
Theo từ ñiển Anh-Anh thì:
GS.TS.Phạm Thị Minh ðức
5
“ðạo ñức là những quy tắc về tinh thần, những quy tắc hướng dẫn cách
xử thế của con người”
Theo Hội Y học thế giới thì:
“ðạo ñức là một phạm trù ñề cập ñến giáo lý – sự phản ánh một cách
thận trọng, hệ thống và sự phân tích các quyết ñịnh của lương tâm và
hành vi trong quá khứ, hịên tại hoặc tương lai” [Trích theo 19].
ðạo ñức ñề cập ñến giá trị của mọi quyết ñịnh và hành vi của con người.
Ngôn ngữ của ñạo ñức thường ñược thể hiện bằng những danh từ như: quyền,
nghĩa vụ, trách nhiệm và những tính từ như: tốt, xấu, ñúng, sai, không ñúng.
Như vậy ñạo ñức là một phương thức ñiều chỉnh hành vi của các thành viên
trong một xã hội theo một chuẩn mực nhất ñịnh nhằm mục ñich duy trì các giá
trị ñược xã hội ñề ra.
ðạo ñức có nhiều chức năng quan trọng như chức năng giáo dục, chức năng
ñiều chỉnh hành vi, chức năng nhận thức [19]. Với các chức năng này, chuẩn
mực ñạo ñức là những tiêu chí, những mục tiêu rèn luyện phấn ñấu cho mỗi cá
thể nhằm làm tăng tinh thần trách nhiệm với cộng ñồng và có lối sống phù hợp
với yêu cầu của xã hội. Do vậy, ñối với mỗi người thì ñạo ñức cần ñược rèn
luyện ngay từ khi còn nhỏ ñể tạo lập ñược những thói quen, những hành vi ñúng
ñắn. Rèn luyện ñạo ñức cho các cá thể là trách nhiệm của từng cá nhân, gia
ñình, nhà trường và xã hội.
1.1.2. Các yếu tố chi phối ñạo ñức
Với ñịnh nghĩa về ñạo ñức như ñã trình bày ở trên thì ñạo ñức không phải
1.1.1.3. Tôn giáo
Tôn giáo là một yếu tố chi phối ñạo ñức. Ngoài những chuẩn mực chung mà
bất cứ một công dân nào cũng cần tuân thủ ñể ñược thể chế xã hội/cộng ñồng
mà họ ñang sống công nhận thì họ còn có những chuẩn mực ñạo ñức riêng do
tôn giáo của họ quy ñịnh. Ví dụ người theo ñạo Thiên chúa giáo sẽ có một số
ñòi hỏi về chuẩn mực ñạo ñức khác với người theo ñạo Phật giáo hay Hồi giáo.
1.1.2.4. Tuổi
GS.TS.Phạm Thị Minh ðức
7
Mỗi thế hệ trong cộng ñồng ngoài việc thừa hưởng những giá trị ñạo ñức từ
thế hệ trước, sẽ có những giá trị ñạo ñức riêng cho chính thế hệ mình. Lớp
người cao tuổi có những chuẩn mực ñạo ñức khác với lớp người trẻ tuổi trong
cùng xã hội. Do vậy có thể có những hành vi ñược cộng ñồng thừa nhận với lớp
tuổi này nhưng nếu xảy ra vói lớp tuổi khác thì lại bị coi là thiếu ñạo ñức.
1.1.2.4. Giới
Chuẩn mực ñạo ñức cũng chịu ảnh hưởng của giới, mặc dù sự khác biệt này
không nhiều ở các nước có nền kinh tế-xã hội phát triển. Tuy nhiên, ở những
nước chưa hoặc ñang phát triển do trình ñộ dân trí còn hạn chế nên sự phân biệt
về giới vẫn còn nặng nề. Ở những nước này, ñòi hỏi của cộng ñồng về chuẩn
mực ñạo ñức với nữ thường khắt khe và nặng nề hơn so với nam.
1.1.2.5. Nghề nghiệp
Có thể nói nghề nghiệp chi phối một cách rõ rệt ñến ñạo ñức. Ngoài những
quy ñịnh chung về chuẩn mực ñạo ñức cho mỗi quốc gia hoặc cộng ñồng thì
mỗi ngành nghề ñều có những quy ñịnh riêng về ñạo ñức mà những người làm
việc trong những ngành nghề ñó buộc phải tuân thủ như: ðạo ñức của người
thầy thuốc, ñạo ñức của nhà giáo, ñạo ñức của công an, ñạo ñức của luật sư, ñạo
ñức của cha cố
1.1.2.6. Học vấn
Trình ñộ học vấn cũng là một yếu tố chi phối ñạo ñức con người. Nói chung,
khi có trình ñộ văn hóa cao, tầm hiểu biết rộng thì suy nghĩ và hành vi thường
nói chung do vậy hầu hết các yếu tố chi phối ñạo ñức nói chung thì cũng là
những yếu tố chi phối ñạo ñức y học. Những hiểu biết về các yếu tố chi phối
ñạo ñức nhằm giúp những người hành nghề y có ñược những hành vi phù hợp
với mọi loại ñối tượng người bệnh/khách hàng có tuổi/tôn giáo/giới/phong tục
tập quán/nghề nghiệp/học vấn khác nhau trong khi giao tiếp hoặc ra các quyết
ñịnh chuyên môn. Tuy nhiên trong thực tế, những người hành nghề y cũng gặp
nhiều khó khăn và thách thức về những ñiều kiện cơ sở vật chất-trang thiết bị
phục vụ cho việc hành nghề, các chính sách ñảm bảo cuộc sống cho người hành
nghề, nhất là ở những quốc gia có nền kinh tế chưa phát triển và mức sống
chung của người dân còn thấp. Những khó khăn/thách thức này ñã ảnh hưởng
không ít ñến thực hành ñạo ñức y học trong khi hành nghề.
1.3. Sơ lược về sự ra ñời của ñạo ñức y học
GS.TS.Phạm Thị Minh ðức
9
ðạo ñức y học ñã có lịch sử khoảng 2500 năm tính từ thời Hyppocrate.
Những nguyên tắc hành nghề y dược ñã ñược ñề cập ñến từ rất sớm. Hyppcrate
ñược coi là ông tổ của nền y học thế giới ñã ñưa ra những lời răn dạy những
người hành nghề y dược và những lời răn dạy này ñã trở thành những chuẩn
mực ñạo ñức mà những người tình nguyện cống hiến cả cuộc ñời của mình cho
nghề y ñều tuyên thệ trước khi nhận tấm bằng tốt nghiệp, và noi theo trong suốt Ảnh 1. Hyppocrate 466-377 trước công nguyên
cuộc ñời nghề nghiệp của mình. Mở ñầu Lời thề Hyppocrate nguyên bản có viết
“Tôi xin thề với thần thày thuốc Apollo, Aesculapius, Hygieia và Panacea và
tất cả các nam thần và nữ thần rằng, tôi sẽ tuân theo Lời thề này và các ñiều
GS.TS.Phạm Thị Minh ðức
10
quy ñịnh này tùy theo khả năng của tôi và luật pháp”…Nội dung của lời thề ñề
11
• Những thử nghiệm ở trại tập trung ðức quốc xã: vào những năm 30 của
thế kỷ XX, một số lượng lớn tù nhân ở các trại tập trung của phát xít ðức
ñã trở thành vật thí nghiệm cho các thử nghiệm y học nhằm có ñược sự
hiểu biết về bệnh tật hoặc thử nghiệm phương pháp chữa trị mới. Một số
người ñã bị bắt buộc phải ghép xương, ghép chi. Một số người khác bị cố
tình làm lây nhiễm sốt rét hoặc thương hàn ñể các bác sĩ thử nghiệm
vaccine mới của họ. Một số trẻ em ñã bị tiêm Xanhmethylen vào máu ñể
xem có thể thay ñổi ñược màu mắt không? Những tù nhân này không
ñược biết ñiều gì ñã xảy ra với họ. Sau chiến tranh thế giới, các bác sĩ
ðức tham gia các thử nghiệm này ñã bị bắt và bị kết án là những tội phạm
chiến tranh. Tòa án ñã tuyên bố rằng việc vi phạm ñến con người ñã quá
trầm trọng ñến mức không có kết quả tuyệt vời nào từ những thử nghiệm
ñó có thể biện minh cho cách mà họ ñã sử dụng ñể ñạt ñược kiến thức
như họ ñã làm [20].
1.4. Tính triết học và các nguyên lý cơ bản của ñạo ñức y học
1.4.1. Tính triết học của ñạo dức y học
Nền tảng triết học của ñạo ñức y học chính là quyền ñược sống, nhất là
quyền ñược sống của trẻ em và chất lượng cuộc sống của mỗi con người. ðây
chính là mục tiêu mà các quy ñịnh về ñạo ñức y học ñều nhắm tới với mong
muốn hướng dẫn những người hành nghề y có những hành vi phù hợp ñể giải
quyết hai vấn ñề này. Nói về quyền ñược sống, có 3 thuyết:
• Thuyết sức sống của y học cho rằng cần giữ gìn cuộc sống với bất cứ giá
nào.
• Thuyết bi quan của y học lại cho rằng nên chấm dứt cuộc sống khi dường
như nó trở nên nặng nề, phiền toái, không có ý nghĩa.
• Thuyết trung gian cho rằng cuộc sống mang ý nghĩa tốt nhưng cần phải
chú ý ñến tính giá trị và chất lượng cuộc sống.
Tuy nhiên, trong thực tế có nhiều trường hợp người thày thuốc ñứng trước
một thách thức mà cần có câu trả lời thích ñáng “Cứu sống hay ñể cho
ñồng ý của bệnh nhân trước khi tiến hành một liệu pháp chẩn ñoán hoặc ñiều trị
ñó là:
GS.TS.Phạm Thị Minh ðức
13
• Nếu ñược sự ñồng tình của bệnh nhân/khách hàng thì sẽ tăng hiệu quả
ñiều trị vì họ có niềm tin.
• Nhiều truờng hợp luật pháp quy ñịnh cần có sự ñồng ý của bệnh nhân, ví
dụ bệnh nhân/người nhà bệnh nhân cần phải ký vào giấy chấp nhận phẫu
thuật.
√ Khi nào thì không cần ñến sự ñồng ý của bệnh nhân?
• Nhìn chung tất cả mọi vấn ñề liên quan ñến bệnh nhân/khách hàng ñều
cần có sự ñồng ý của bệnh nhân. Tuy nhiên trong một số trường hợp nếu
chờ ñợi sự ñồng ý của bệnh nhân thì sẽ nguy hiểm ñến tính mạng bệnh
nhân như các trường hợp cấp cứu cần nhanh chóng cứu sống bệnh nhân
hoặc tránh các tổn thương nghiêm trọng, hoặc trường hợp bệnh nhân hôn
mê.
• Một số trường hợp khác không cần ñến sự ñồng ý của bệnh nhân nếu ñó
là quyết ñịnh của tòa án hoặc cảnh sát ñề nghị.
√ ðiều kiện nào ñể có ñược sự ñồng ý có giá trị?
• Bệnh nhân phải có ñủ năng lực quyết ñịnh: Người có ñủ năng lực quyết
ñịnh là người có ñộ tuổi quyết ñịnh mọi việc có liên quan ñến bản thân do
luật pháp quy ñịnh và có sức khỏe tâm thần bình thường.
• Trong những trường hợp trẻ em dưới ñộ tuổi quy ñịnh của luật pháp cho
phép tự quyết ñịnh hoặc bệnh nhân mắc bệnh tâm thần thi cần tìm kiếm
sự ñồng ý của người bảo hộ quyền lợi, ví dụ bố mẹ bệnh nhân hoặc người
ñược cơ quan pháp luật ủy quyền. Tuy nhiên trong những trường hợp này
bác sỹ cần thẩm ñịnh kỹ ñể ñánh giá chính xác năng lực tự quyết ñịnh của
bệnh nhân trước khi quyết ñịnh tìm kiếm sự ñồng ý của người bảo hộ.
ðặc biệt chú ý ñến các trường hợp có nguy cơ tranh chấp quyền lợi giữa
bệnh nhân và người bảo hộ.
Giao tiếp tốt là biết sử dụng cả ngôn ngữ có lời và không lời một cách phù
hợp, biết lắng nghe người bệnh/khách hàng, biết ñược mong muốn của người
bệnh ñể ñáp ứng ñúng và có lợi nhất cho bệnh nhân/khách hàng. Thực tế
GS.TS.Phạm Thị Minh ðức
15
cho thấy hầu hết các người bệnh/khách hàng ñều muốn ñược tham gia vào
sự quyết ñịnh biện pháp chăm sóc sức khỏe cho chính họ.
1.4.2.2. Có lòng nhân ái và không gây tổn hại cho người bệnh/khách hàng
Lòng nhân ái là sự tận tình cứu chữa cho người bệnh trên tinh thần vì lợi ích
của người bệnh . Lòng nhân ái và không gây tổn hại là hai mặt của nguyên lý
này nhưng nhiều khi không thể cùng thực hiện ñược.
Trong thực hành nghề nghiệp chăm sóc sức khỏe nhiều khi người thày thuốc
cố gắng cứu chữa người bệnh bằng cách áp dụng các phương pháp chẩn ñoán
hoặc các liệu pháp ñiều trị thì cũng ñồng thời gây tổn hại cho bệnh nhân. Ví dụ
ñể kéo dài cuộc sống cho bệnh nhân ung thư, bác sỹ phải truyền hóa chất, phải
xạ trị. Những liệu pháp ñiều trị này có thể tiêu diệt các tế bào ung thư và kéo dài
cuộc sống cho người bệnh nhưng ñồng thời cũng làm tổn hại thêm ñến sức khỏe
của người bệnh. Những trường hợp tương tự như vậy luôn xảy ra trên thực tế.
Do vậy trách nhiệm của người cán bộ y tế là khi áp dụng các tiến bộ của y học
thì phải biết rõ các nguy cơ có thể xảy ra ñể chọn lựa những giải pháp ít gây tổn
hại nhất cho người bệnh bởi vì trong thực tế hầu không có bất kỳ một giải pháp
ñiều trị nào mà không có hại cho người bệnh. Mặt khác ñể giảm bớt tổn hại cho
bệnh nhân/khách hàng, ñiều quan trọng là người cán bộ y tế cần thường xuyên
cập nhật các kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ñể ñảm bảo cung cấp các dịch vụ
chăm sóc sức khỏe với chất lượng cao, mang lại lợi ích tối ña và tổn hại tối
thiểu cho bệnh nhân/khách hàng.
1.4.2.3. ðảm bảo sự công bằng
Tính công bằng ñược thể hiện trong sự phân chia các nguồn nguyên liệu
hiếm, các vấn ñề liên quan ñến quyền con người và liên quan ñến luật pháp.
Trong thực tế, nhu cầu thường lớn hơn khả năng cung cấp dịch vụ nhất là khả
họp của nhiều tổ chức quốc tế về y học và ngoài y học, ñại diện của các nước
thống nhất rằng cần phải có những quy ñịnh cụ thể về nhân quyền và thực hành
y học, nghiên cứu y học có liên quan ñến con người… Vấn ñề ñạo ñức y học bắt
ñầu ñược xem xét lại một cách nghiêm túc.
Văn kiện quốc tế ñầu tiên quy ñịnh về ñạo ñức trong nghiên cứu y sinh học
là ðiều lệ Nuremberg. ðiều lệ này ñược ban hành năm 1947 sau vụ xét xử các
bác sỹ ðức quốc xã. ðiều lệ này ñưa ra 10 nguyên tắc cho các nghiên cứu ñược
GS.TS.Phạm Thị Minh ðức
17
tiến hành thử nghiệm trên con người. Từ ðiêu lệ này ñến Tuyên ngôn Helsinki
1964, rồi ñến các Hướng dẫn của CIOMS năm 1982 và năm 2002, các quy ñịnh
và hướng dẫn thực hiện ñạo ñức trong nghiên cứu ñược ñiều chỉnh và hoàn
thiện dần [20]. Những văn bản này nêu rõ các nguyên tắc cụ thể khi tiến hành
một nghiên cứu thử nghiệm trên con người, hướng dẫn cụ thể những việc cần
làm trước, trong và sau các thử nghiệm nhằm ñảm bảo lợi ích cho các ñối tượng
nghiên cứu.
1.5.2. Các văn bản quy ñịnh về ñạo ñức trong thực hành lâm sàng
Văn kiện ñầu tiên công bố các quy ñịnh cho người hành nghề y là Tuyên
ngôn Geneve ñược ban hành tại cuộc họp thứ hai của Hội Y học thế giới tại
Thụy Sĩ vào tháng 9/1948 và ñược bổ sung lần cuối tại cuộc họp lần thứ 46 của
Hội Y học thế giới ở Thụy ðiển vào tháng 9/1994 [12]. Các nội dung chính của
Tuyên ngôn này là:
• Coi nghề chăm sóc sức khỏe là nghề cao qúy, cần tự hào vì ñược phục
vụ cho sự nghiệp này “Sẽ hiến dâng cuộc ñời mình phục vụ nhân
loại”.
• Nêu trách nhiệm và nghĩa vụ của thày thuốc: Coi lợi ích của người
bệnh là trên hết, phải tận tụy với người bệnh, ñối xử công bằng, trung
thực, tôn trọng nhân phẩm và quyền tự quyết của người bệnh, giữ gìn
bí mật của người bệnh…”, “Tôi sẽ thực hành nghề nghiệp với lương
tâm và lòng tự trọng”. “Coi sức khỏe của bệnh nhân là mối quan tâm
các giải pháp chẩn ñoán và ñiều trị phù hợp với họ “Bệnh nhân có quyền ñược
biết thông tin về các dịch vụ chăm sóc y tế dành cho họ, các thông tin cần ñược
diễn tả một cách dẽ hiểu”, “Bệnh nhân cũng có quyền ñược biết thông tin về
tình trạng bệnh tật ñang làm họ ñau ñớn” [12].
Năm 2001, Hội ñồng Y ña khoa ñã ñưa ra các Nhiệm vụ của người bác sỹ
ñã ñăng ký hành nghề với Hội ñồng Y ña khoa như: …”ðối xử với tất cả các
bệnh nhân lịch sự và ân cần”, …”Tôn trọng các quyền của bệnh nhân”, “Tôn
trọng và bảo vệ bí mật thông tin”, “Cập nhật các kiến thức chuyên môn”…[30].
Năm 2005, Hội Y học thế giới công bố Quyền của bệnh nhân. Theo văn
bản này thì bệnh nhân có quyền ñược tôn trọng, có quyền ñược ñối xử công
bằng , có quyền ñược cung cấp tất cả các thông tin có liên quan ñến sức khỏe và
bệnh tật của họ như các phương pháp chẩn ñoán, ñiều trị có thể ñược áp dụng,
GS.TS.Phạm Thị Minh ðức
19
lợi ích và nguy cơ của từng phương pháp, giá thành của từng phương pháp, tiến
trỉển và biến chứng của bệnh, tiên lượng gần và xa của bệnh, … “Bệnh nhân có
quyền tự quyết ñịnh, tự do ñưa ra sự quyết ñịnh của bản thân họ. Bác sỹ sẽ
thông báo cho bệnh nhân biết về kết quả sự lựa chọn của họ”. “Bệnh nhân có
quyền hỏi ý kiến của bác sỹ trong bất kỳ giai ñoạn nào của quá trình trị liệu”,
“Bệnh nhân có quyền ñược nhận thông tin về bản thân họ và ñược thông tin về
sức khỏe của họ bao gồm cả những thông tin y học chính xác về tình trạng
bệnh” [49].
1.6. Truyền thống ñạo ñức y học Việt Nam và các văn bản quy ñịnh
1.6.1. Truyền thống ñạo ñức y học của Việt Nam
ðạo ñức y học Việt Nam cũng có một lịch sử phát triển lâu ñời. Ngoài
những ñặc ñiểm chung, ñạo ñức y học Việt Nam còn chịu ảnh hưởng rõ rệt của
nền tảng ñạo ñức Phương ðông và các tôn giáo. Triết lý nói chung của người
Phương ðông là lòng vị tha “Thương người như thể thương thân”. Thương
người không bằng thương mình thì dẫn tới sự ích kỷ cá nhân, chỉ lo vun vén cho
mình; nhưng thương người hơn thương mình thì khó thực hiện hay chỉ có thể
dạy những người theo ñuổi nghề chữa bệnh như: “Phàm người thày thuốc nên
nghĩ ñến việc giúp ñỡ người, không nên tự ý cầu vui như mang rượu lên núi
chơi bời ngắm cảnh, vắng nhà chốc lát, lỡ có bệnh cấp cứu làm cho người ta
sốt ruột mong chờ, nguy hại ñến tính mạng con người. Vậy cần biết mình quan
trọng như thế nào?”, hay “ðược mời ñi thăm bệnh: Nên tùy bệnh cần kíp hay
không mà sắp ñặt ñi thăm trước hay sau. Chớ nên vì giàu sang hoặc nghèo hèn
mà nơi ñến trước chỗ tới sau hoặc bốc thuốc lại phân biệt hơn kém khi lòng
mình có chỗ không thành thật thì khó thu ñược kết quả”, “Phàm gặp phải
chứng bệnh nguy cấp, muốn hết sức mình cứu chữa, tuy ñó là lòng tốt nhưng
phải nói rõ cho gia ñình người bệnh biết trước rồi mới cho thuốc. Lại có khi
cho không cả thuốc, như thế thì người ta sẽ biết cảm phục mình, nếu không khỏi
bệnh họ cũng không oán trách và tự mình cũng không hổ thẹn” [11].
Như vậy, cách ñây 300 năm 9 ñiều y huấn cách ngôn của Hải Thượng Lãn
Ông cũng như Lời thề Hyppocrate có từ trước Công nguyên ñã thể hiện rõ các
GS.TS.Phạm Thị Minh ðức
21
nguyên lý cơ bản của ñạo ñức y học mà sau này thế giới Phương Tây mới nêu
lên một cách cụ thể.
1.6.2. Các văn bản quy ñịnh về ñạo ñức y học của Việt Nam
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam tuyên bố
ñộc lập, ngày 27 tháng 10 năm 1949 Chủ tịch Hồ Chí Minh ñã ký Sắc lệnh quy
ñịnh về việc chữa bệnh theo lối Âu Mỹ [22]. Nội dung sắc lệnh này quy ñịnh ai
ñược quyền chữa bệnh và quy ñịnh về hình phạt nếu không thực hiện ñúng.
Năm 1955 Hồ Chủ tịch tặng cán bộ y tế câu nói “Lương y như từ mẫu”.
Câu nói này vẫn là kim chỉ nam ñịnh hướng cho mọi hành vi của những người
hành nghề y ở nước ta cho ñến nay.
Năm 1989, Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ñã ban
hành Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân gồm 11 chương, trong ñó chương IV là
chương nói về Khám chữa bệnh. ðiều 23 của chương 4 nói dến Quyền ñược
khám bệnh và chữa bệnh “Mọi người khi ốm ñau, bị tai nạn ñược khám bệnh,
Chương II của Dự thảo Luật quy ñịnh về Quyền và nghĩa vụ của người bệnh:
• ðiều 6 quy ñịnh người bệnh có “Quyền ñược quyết ñịnh những vấn ñề
khám bệnh, chữa bệnh liên quan ñến bản thân”.
• ðiều 7 quy ñịnh “Quyền ñược tôn trọng danh dự, nhân phẩm”.
• ðiều 8 quy ñịnh “Quyền ñược khám bệnh, chữa bệnh có chất lượng”.
• ðiều 9 quy ñịnh “Quyền ñược tôn trọng bí mật riêng tư”.
• ðiều 10 quy ñịnh “Quyền ñược cung cấp thông tin, tiếp cận với hồ sơ
bệnh án”
Chương V quy ñịnh Quyền và nghĩa vụ của người hành nghề khám bệnh,
chữa bệnh:
• ðiều 46 quy ñịnh “Quyền ñược bảo vệ khi xảy ra tai nạn rủi ro nghề
nghiệp ”.
• ðiều 47 quy ñịnh “Quyền ñược an toàn nghề nghiệp trong khi hành
nghề”
• ðiều 48, 49, 50 quy ñịnh “Nghĩa vụ ñối với người bệnh, với nghề nghiệp
và ñồng nghiệp” như “Tôn trọng người bệnh, ñối xử bình ñẳng với người
b
ệnh, không ñược gợi ý hoặc yêu cầu người bệnh thanh toán các chi phí
GS.TS.Phạm Thị Minh ðức
23
khác ngoài chi phí khám bệnh, chữa bệnh ñã niêm yết theo quy ñịnh của
pháp luật”.
Có thể nói tất cả các văn trên ñã ñưa ra các quy ñịnh rất cụ thể về ñạo ñức
trong thực hành lâm sàng cũng như ñạo ñức trong các nghiên cứu trên con
người. Những quy ñịnh này dựa trên các nguyên lý cơ bản của ñạo ñức y học
thế giới mà các nquốc gia ñều tuân thủ và luật pháp của Việt Nam.
1.7. ðào tạo về ñạo ñức y học trong các trường Y
Do tầm quan trọng của ñạo ñức y học ñối với những người hành nghề Y
nên từ xa xưa người ta ñã chú ý ñến việc dạy ñạo ñức y học cho sinh viên các
trường Y. Trong khoảng từ thế kỷ thứ 9 ñến thế kỷ thứ 13, lần ñầu tiên ñạo ñức y
học
Tuy nhiên Tổ chức y tế thế giới cũng như Hội Giáo dục y học của thế giới và
khu vực cũng nhận thấy việc dạy môn ñạo ñức y học của các trường y ở các quốc
gia cũng còn nhiều bất cập và cần ñược tăng cường ñể góp phần nâng cao chất
lượng chăm sóc sức khỏe và dự phòng bệnh tật [27],[28].
Ở Việt Nam trong những năm trước ñây, ñạo ñức y học chưa ñược dạy
thành một môn riêng mà thường lồng ghép vào các môn học lâm sàng khi giảng
dạy về kỹ năng khám chữa bệnh trên bệnh nhân. Trong chuơng trình khung của
Bộ Giáo dục – ðào tạo và Bộ Y tế quy ñịnh có một học phần về “Tâm lý và
ðạo ñức y học”. Năm 2006, tập thể các chuyên gia ñầu ngành ở tám Trường
ðại học Y trong cả nước ñã xây dựng 281 chủ ñề cho ñào tạo bác sĩ ña khoa [7].
Mỗi chủ ñề gồm các tiêu chuẩn về kiến thức, thái ñộ và kỹ năng cho ñào tạo bác
sĩ ña khoa (KAS: Kiến thức, Thái ñộ, Kỹ năng). Chủ ñề về “ðạo ñức người thầy
thuốc” ñược xếp vào phần chủ ñề chung cho các chuyên ngành, trong ñó nêu ra
những yêu cầu cụ thể về kiến thức, thái ñộ, kỹ năng về ðạo ñức y học cho bác sĩ
ña khoa khi tốt nghiệp. Tuy nhiên các trường ñào tạo bác sỹ hiện nay dạy ñạo
ñức y học với những nội dung gì? Thời lượng bao nhiêu? Phương pháp dạy thế
nào? Tài liệu dạy ra sao? Dùng phương pháp gì ñể lượng giá sinh viên? thì cho
tới nay vẫn còn là những câu hỏi cần giải ñáp.
1.8. Các nghiên cứu về lĩnh vực ñạo ñức y học
GS.TS.Phạm Thị Minh ðức
25
Có rất nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới ñề cập ñến lĩnh vực này. Ở
những nước phát triển thì phần lớn các công trình tập trung nghiên cứu khía
cạnh ñạo ñức của các thử nghiệm thuốc mới, các phương pháp chẩn ñoán hoặc
ñiều trị mới và gần ñây nhiều nhà khoa học quan tâm ñế vấn ñề ñạo ñức trong
cấy ghép phủ tạng [23], [26], [28], [33], [34], [36], [38], [42]. Ở một số nước
ñang phát triển thì những công trình nghiên cứu lại ñề cập ñến việc thực hiện
các nguyên lý cơ bản của ñạo ñức y học như những thực hành có liên quan ñến
sự cho phép của người bệnh, hay vấn ñề ñảm bảo tính riêng tư và bí mật cho