TÓM TẮT CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU THỰC HÀNH GIÁO DỤC SONG NGỮ TRÊN CƠ SỞ TIẾNG MẸ ĐẺ: HƯỚNG TỚI NỀN GIÁO DỤC CÓ CHẤT LƯỢNG VÀ BÌNH ĐẲNG. - Pdf 11

TÓM TẮT CHƯƠNG TRÌNH
NGHIÊN CỨU THỰC HÀNH GIÁO DỤC SONG NGỮ TRÊN CƠ SỞ TIẾNG MẸ ĐẺ:
HƯỚNG TỚI NỀN GIÁO DỤC CÓ CHẤT LƯỢNG VÀ BÌNH ĐẲNG.
Tại Việt Nam, giáo dục phổ thông tiếp tục được
cải thiện thông qua việc nâng cao các chỉ số tiếp
cận, đi học đều và hoàn thành bậc học. Tuy nhiên,
sự chênh lệch về kết quả học tập vẫn còn tồn tại
với một vài nhóm có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt
trong số những người nghèo, vùng sâu vùng xa và
khá phổ biến trong nhóm người dân tộc thiểu số
(DTTS). Nhóm DTTS chiếm khoảng 13% tổng dân
số. Tỷ lệ biết chữ của người DTTS là 90% trong
khi đó tỷ lệ này của người Kinh là 96%
1
.
Bảng 1 cũng cho thấy sự khác biệt nổi bật trong
kết quả học tập giữa học sinh người Kinh và học
sinh DTTS ở Việt Nam trong môn Toán. Chính phủ
đang tập trung vào việc đảm bảo cung cấp nền
giáo dục có chất lượng và phù hợp với học sinh.
Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức giảng dạy trong
nhà trường nên học sinh DTTS phải đối mặt với
một trong những thách thức lớn là rào cản ngôn
ngữ. Điều này hạn chế việc tham gia đầy đủ của
học sinh dân tộc trong quá trình học tập.
Các bằng chứng quốc tế khẳng định Giáo dục
song ngữ trên cơ sở tiếng mẹ đẻ (GDSNTCSTMĐ)
là phương pháp tiếp cận phù hợp hỗ trợ giáo dục
dân tộc thiểu số. Theo Ngân hàng Thế giới, học
sinh được học tập bằng ngôn ngữ đầu tiên của
mình (tiếng mẹ đẻ) sẽ đạt được kết quả học tập

ở mầm non
4
và tiểu học;
• Góp phần xây dựng hoàn thiện và triển khai
chính sách, chia sẻ kinh nghiệm dạy và học
tốt cho học sinh dân tộc, nhằm thúc đẩy việc
sử dụng tiếng dân tộc như một giải pháp tăng
cường khả năng tiếp cận tới nền giáo dục cơ
bản có chất lượng và bình đẳng cũng như các
dịch vụ xã hội khác.
Nghiên cứu thực hành GDSNTCSTMĐ hướng
tới những kết quả sau:
• Xây dựng thiết kế nghiên cứu chi tiết bao gồm
phương pháp và đánh giá kết quả học tập của
học sinh DTTS;
• Các nhà hoạch định chính sách, quản lý giáo
dục ở tất cả các cấp, giáo viên, hiệu trưởng,
học sinh và cộng đồng hiểu, ủng hộ và hỗ trợ
GDSNTCSTMĐ;
• Xây dựng tài liệu dạy và học, tài liệu tham
khảo, tài liệu truyền thông bằng tiếng dân tộc;
• Thực hiện chương trình bồi dưỡng cho giáo
viên thông qua bồi dưỡng chuyên môn thường
xuyên và hỗ trợ đào tạo chính quy;
• Các nhà quản lý giáo dục, giáo viên, trợ
giảng và thực tập sinh tại địa bàn Nghiên cứu
sẽ hiểu và biết cách áp dụng phương pháp
GDSNTCSTMĐ vào việc quản lý nhà trường
và giảng dạy trên lớp;
• Thực hiện thành công mô hình

lượng, bình đẳng và hòa nhập cho tất cả mọi người.
Để hỗ trợ học sinh DTTS ở Việt Nam được tiếp cận
với cơ hội học tập có chất lượng, với sự hỗ trợ của
UNICEF
3
từ năm 2008 Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ
GD&ĐT) đã và đang triển khai Nghiên cứu thực
hành GDSNTCSTMĐ tại ba tỉnh - Lào Cai, Gia Lai
và Trà Vinh - với ba ngôn ngữ DTTS Mông, Jrai và
Khmer. Hiện nay đang là năm thứ 3 triển khai thực
hiện Nghiên cứu này.
2
Ngân hàng Thế giới (2005), Bằng Ngôn ngữ của mình Giáo dục cho mọi người.
3
Biên bản thỏa thuận đã được ký giữa UNICEF và Bộ GD&ĐT vào tháng 7 năm 2007 về Nghiên cứu Thực hành GDSNDTCSTMĐ
4
Nghiên cứu thực hành GDSNTCSTMĐ bắt đầu được triển khai vào năm cuối của lớp mẫu giáo 5 tuổi. Tính đến tháng 5 năm 2010, nghiên cứu
này được tiến hành ở cả hai lứa học sinh mẫu giáo.
Trang 2
TÓM TẮT CHƯƠNG TRÌNH: NGHIÊN CỨU THỰC HÀNH GIÁO DỤC SONG NGỮ TRÊN CƠ SỞ TIẾNG MẸ ĐẺ
Trang 3
3.1 Những kết quả chung đạt được trong
giai đoạn 2008-2010 bao gồm:
• Xây dựng chương trình song ngữ cho mẫu
giáo 5 tuổi ở bậc mầm non và chương trình
song ngữ cấp tiểu học (lớp 1 đến lớp 5) với
sự tham gia của các chuyên gia giáo dục và trí
thức địa phương.
• Xây dựng và in tài liệu dạy/học mầm non, lớp
1 và lớp 2 bằng cả ba ngôn ngữ Mông, Jrai và

3. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG GIAI ĐOẠN 2008-2010:
2.2. Địa bàn:
Hai lứa học sinh tham gia vào Nghiên cứu
thực hành là:
1. Lứa thứ nhất có 262 học sinh học tại 13
lớp mẫu giáo 5 tuổi ở 7 trường mầm non
trong năm học 2008-2009, tiếp tục học tại
14 lớp 1 trong năm học 2009-2010 và hiện
nay học tại 14 lớp 2 vào năm học 2010-
2011.
2. Lứa thứ hai có 274 học sinh học tại 13 lớp
mẫu giáo 5 tuổi ở 7 trường mầm non trong
năm học 2009-2010, tiếp tục học tại 14 lớp
1 ở 8 trường tiểu học vào năm học 2010-
2011.
Chương trình thử nghiệm GDSN sẽ hoàn thành
vào năm học 2014 khi lứa học sinh thứ nhất
học hết lớp 5; và vào năm 2015 với lứa học
sinh thứ hai.
TÓM TẮT CHƯƠNG TRÌNH: NGHIÊN CỨU THỰC HÀNH GIÁO DỤC SONG NGỮ TRÊN CƠ SỞ TIẾNG MẸ ĐẺ
Trang 4
3.2 Kết quả từ năm thứ hai triển khai
chương trình GDSNTCSTMĐ, năm học
2009-2010
3.2.1 Kết quả học lớp 1 của học sinh thuộc lứa
thứ nhất
Sau khi kết thúc năm học 2009-2010, học sinh
lớp 1 tại 3 tỉnh địa bàn của Nghiên cứu đã được
đánh giá qua ba môn học: tiếng Mẹ đẻ, tiếng Việt
và Toán. Vụ Giáo dục Tiểu học đã tổ chức đánh

GDSNTCSTMĐ đạt kết quả ở mức độ này. Trong
môn Toán, không có học sinh tham gia chương
trình GDSNTCSTMĐ nào bị kết quả yếu trong khi
đó ở lớp đại trà có 10% học sinh bị kết quả yếu.
Những khác biệt rõ rệt trong kết quả học tập của
học sinh ở hai nhóm cho thấy phương pháp tiếp
cận GDSN là phương thức tốt để giúp học sinh học
tập đạt kết quả cao hơn.
Bảng 2: Kết quả đánh giá học sinh lớp 1 trong môn Toán
Kết quả đạt được Học sinh tham gia
CTGDSNTCSTMĐ
Học sinh không tham gia
CTGDSNTCSTMĐ
Giỏi (86-100%) 68 28
Khá (66-85%) 25 31
Trung Bình (50-65%) 06 19
Kém (30-49%) 01 09
Yếu (0-29%) 0 10
3.2.2 Kết quả mẫu giáo 5 tuổi của lứa thứ hai
Trẻ mẫu giáo 5 tuổi lứa thứ hai tham gia chương
trình GDSNTCSTMĐ được đánh giá về tiếng Mẹ đẻ
và tiếng Việt. Nhằm mục đích so sánh kết quả giữa
học sinh tham gia chương trình GDSNTCSTMĐ và
lớp đại trà (lớp không tham gia chương trình Nghiên
cứu GDSNTCSTMĐ), đánh giá này được tổ chức
với một lớp mẫu giáo 5 tuổi đại trà tại mỗi trường.
Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Dân tộc (TTNC-
GDDT) tổ chức thực hiện đánh giá này. Đánh giá
này bao gồm kiểm tra nói của trẻ qua trao đổi cá
nhân và trong các hoạt động nhóm. Trong môn tiếng

Những khác biệt rõ rệt cũng được nhận thấy trong
lĩnh vực thực hiện mệnh lệnh và sắp xếp tranh theo
chuyện kể, trong khi trẻ em tham gia chương trình
Nghiên cứu thực hiện được 14 và 13 điểm, thì trẻ
em lớp đại trà chỉ thực hiện được một cách tương
ứng là 9 và 8 điểm trong hai lĩnh vực này.
Kết quả về khả năng tiếng Việt đồng nhất với kết
quả của lứa trẻ thứ nhất trong năm học 2008-2009
và cùng cho thấy rõ kết quả tích cực của phương
pháp này đối với kết quả học tập của học sinh
DTTS.
3.2.3 Phản hồi từ các trường học và cộng đồng
địa phương về chương trình GDSNTCSTMĐ
Đã có nhiều phản hồi tích cực từ học sinh, giáo
viên, cán bộ quản lý giáo dục, các bậc cha
mẹ và cộng đồng địa phương về chương trình
GDSNTCSTMĐ trong suốt thời gian thực hiện 2008
- 2010. Tham gia vào chương trình GDSNTCSTMĐ
là cơ hội bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn nghiệp
vụ đối với giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục.
Giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục cũng có
phần tự tin hơn vào khả năng giảng dạy của mình.
Về kết quả học tập của học sinh, giáo viên, hiệu
trưởng và cán bộ quản lý giáo dục đã đánh giá và
nhận xét rằng: học bằng tiếng Mẹ đẻ, học sinh rất
tự tin trong giao tiếp, hiểu và nắm bắt nhanh các
khái niệm. Các chuyên gia giáo dục cũng rất ấn
tượng với khả năng tiếng Việt của học sinh tham
gia chương trình GDSNTCSTMĐ. Học sinh có kỹ
năng tốt khi nghe hiểu, nói và vốn từ vựng vượt trội

mô hình GDSN vào trong kế hoạch phát triển giáo
dục đào tạo của tỉnh năm 2010 và các năm tiếp theo.
Trong khi lứa thứ nhất và lứa thứ 2 chỉ có 5 lớp ở 3
huyện, thì năm học 2010 - 2011 Sở GD & ĐT Lào
Cai đã mở rộng lên 4 huyện (tăng thêm 1 huyện), với
tổng số 12 lớp và 214 học sinh.
Từ năm 2011 đến năm 2015, mỗi năm học, một
nhóm mới gồm 210 trẻ 5 tuổi sẽ vào học tại các lớp
chương trình GDSNTCSTMĐ. Vào cuối năm học
2015-2016 tỉnh Lào Cai sẽ có 1,300 học sinh học
chương trình GDSNTCSTMĐ tạị các trường mẫu
giáo, tiếp theo là ở cấp tiểu học, tạo ra một hình mẫu
cho các tỉnh khác học tập nhằm nâng cao kết quả
học tập của học sinh DTTS thông qua phương pháp
GDSNTCSTMĐ.
Để thực hiện kế hoạch này, Sở GD & ĐT Lào Cai
ước tính cần 8 tỷ đồng (gần 205.000 USD). Cho đến
nay khoảng 50% ngân sách đã được đảm bảo cho
hoạt động này và lãnh đạo ngành giáo dục Lào Cai
đang tiếp tục nỗ lực tham mưu cho UBND tỉnh để
huy động và cân đối số tiền cần thiết còn lại.
3.2.5. Vận động chính sách cùng Quốc hội
Hai sự kiện diễn ra trong tháng 11 năm 2010 nhằm
tăng cường sự ủng hộ và đồng thuận của Quốc hội
đối với chương trình GDSNTCSTMĐ:
• Một đoàn đại biểu Việt Nam gồm các quan chức
cấp cao của Hội đồng Dân tộc Quốc Hội, Ủy
ban Dân tộc và Bộ GD & ĐT đã tham gia Hội
thảo Quốc tế tại Bangkok về Ngôn ngữ, Giáo
dục và Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Tại Hội

nghiệm nhằm chia sẻ và khẳng định tính hiệu
quả của Nghiên cứu.
4. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
• Sự hỗ trợ và tham gia của chính quyền địa
phương các cấp, của trường học, giáo viên,
phụ huynh và học sinh đã góp phần vào sự
thành công của Nghiên cứu.
• Thúc đẩy và đa dạng các quan hệ đối tác:
tiếp tục nâng cao nhận thức ở tất cả các cấp,
thúc đẩy việc đa dạng hóa các quan hệ đối
tác trong ngành giáo dục và các ngành liên
quan để bảo đảm thực hiện tốt Nghiên cứu
Thực hành.
Tôi đã xem và đánh giá rất cao Chương trình
này. Vụ Dân tộc nên chủ động theo dõi giúp
Thường trực Hội đồng dân tộc nắm bắt kịp thời và
đúng diễn biến triển vọng thực hiện thí điểm của
Chương trình
Ông Ksor Phước, Chủ tịch Hội Đồng dân tộc


TÓM TẮT CHƯƠNG TRÌNH: NGHIÊN CỨU THỰC HÀNH GIÁO DỤC SONG NGỮ TRÊN CƠ SỞ TIẾNG MẸ ĐẺ
Trang 7
• Hỗ trợ nâng cao năng lực một cách có hệ
thống của các bên liên quan: Nâng cao
năng lực cho tất cả các cấp cần được thực
hiện liên tục để đảm bảo chất lượng triển khai
Nghiên cứu.
• Bảo đảm chất lượng và sự phù hợp của tài
liệu dạy/học: Một trong những thách thức khi

Chương trình GDSNTCSTMĐ nhằm mở rộng
nhiều lớp và trường học theo mô hình này.
Lào Cai, theo kế hoạch mở rộng của mình đã
tăng số lượng các lớp học mầm non tại nơi
các địa phương đang triển khai chương trình
GDSNTCSTMĐ từ năm (05) lớp lên mười
hai (12) lớp trong năm học 2010-2011. Kinh
nghiệm này sẽ được ghi lại và chia sẻ rộng
rãi.
• Cơ chế đánh giá của Nghiên cứu thực hành
GDSNDTTMĐ sẽ được rà soát và điều chỉnh
để đảm bảo việc cung cấp những bằng chứng
mang tính khoa học, có chất lượng cao về kết
quả học tập của học sinh.
• Tăng cường tuyên truyền vận động chính
sách thông qua việc chia sẻ, cập nhật kiến
thức, kinh nghiệm với các đối tác chiến lược
và cơ quan pháp luật, bao gồm Quốc hội, Uỷ
ban Dân tộc, Bộ GD & ĐT để thúc đẩy và mở
rộng quy mô chương trình GDSNTCSTMĐ.
Các hoạt động cụ thể bao gồm:
○ Bộ GD&ĐT, Hội đồng Dân tộc Quốc Hội,
Ủy ban Dân tộc tiếp tục đẩy mạnh việc
giám sát các hoạt động tại cơ sở,các
trường triển khai Nghiên cứu nhằm tăng
cường sự đồng thuận và ủng hộ cho
phương pháp tiếp cận này;
○ Kinh nghiệm và bài học kinh nghiệm của
UNICEF và các đối tác phát triển khác tại
Việt Nam sẽ được chia sẻ rộng rãi tại các

Trang 2, 6: © UNICEF Việt Nam\2011\Trương Việt Hùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status