BỘ GIÁO DỤC VÀ
ĐÀO TẠO
1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
---------------------------------------------------VŨ HƯƠNG GIANG
NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH SINH HỌC VÀ KHẢ NĂNG
SỬ DỤNG MỘT SỐ LOÀI TRONG CHI NHÀU
(MORINDA L.) Ở VIỆT NAM
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Chuyên ngành: THỰC VẬT HỌC
Mã số: 62. 42. 01. 11
Hà Nội, 2015
2
Công trình được hoàn thành tại:
Viện Sinh thái & Tài nguyên sinh vật
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
1.
PGS. TS. Ninh Khắc Bản
cũng như cộng đồng bởi nhiều ưu điểm như ít tác dụng phụ, dễ hấp thu và
chuyển hóa trong cơ thể hơn so với các dược phẩm tổng hợp... Morinda L.
là chi có số lượng loài tương đối lớn (hơn 40 loài), một số loài thể hiện khả
năng điều trị bệnh rất tốt, như loài Morinda citrifolia L. được xem là một vị
thuốc có tác dụng nhuận tràng, lợi tiểu, điều hòa thần kinh, hạ huyết áp; loài
Morida officinalis F. C. How được sử dụng làm thuốc bổ trí não, ôn thận trợ
dương, mạnh gân cốt, trừ phong thấp. Hiện nay, hai loài trên đã được sản
xuất rộng rãi trên thị trường dưới dạng thực phẩm chức năng hỗ trợ điều trị
các bệnh về tim mạch, xương khớp, tai biến mạch máu não, ung thư… Ở
nước ta, chi Morinda L. được sử dụng chủ yếu theo kinh nghiệm tri thức
bản địa mà ít có những nghiên cứu mang tính hệ thống.
Luận án này tập trung nghiên cứu đặc tính sinh học và khả năng sử
dụng 03 loài trong chi Nhàu (Morinda L.) ở Việt Nam gồm: Nhàu lông
mềm (Morinda tomentosa Heyne in Roth), Nhàu tán (Morinda umbellata
L.) và Nhàu lá dài (Morinda longifolia Craib) dựa vào những nghiên cứu
về thành phần loài, tri thức bản địa, thành phần hóa học và hoạt tính sinh
học, từ đó lựa chọn loài có triển vọng để tiến hành nhân giống, tạo nguồn
nguyên liệu và làm cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo.
2. Mục tiêu của luận án
Nghiên cứu các cơ sở khoa học về sinh học, hóa học nhằm góp phần khai
thác, phát triển, bảo tồn và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên về các loài
trong chi Nhàu (Morinda L.) ở Việt Nam.
4
3. Ý nghĩa của luận án
Góp phần làm cơ sở khoa học cho việc đánh giá tiềm năng và triển
vọng khai thác, gây trồng và sử dụng bền vững các loài trong chi Nhàu
(Morinda L.) ở nước ta.
4. Những đóng góp mới của luận án
tác giả có liên quan đến luận án; Tài liệu tham khảo; Phụ lục.
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Phần tổng quan tài liệu tập hợp các nghiên cứu trong nước và quốc
tế về các vấn đề:
Tình hình các nghiên cứu về các loài thuộc chi Nhàu (Morinda L.).
Công dụng của các loài trong chi Nhàu (Morinda L.)
Các nghiên cứu về thành phần hóa học của các loài thuộc chi Nhàu (Morinda L.).
Các nghiên cứu về hoạt tính sinh học (chống oxi hóa, gây độc tế bào,
kháng vi sinh vật kiểm định và ức chế enzyme α-glucosidase) của các loài
thuộc chi Nhàu (Morinda L.).
Chương 2. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Điều tra, nghiên cứu và khảo sát tại một số tỉnh ở Việt Nam như: Sơn La
(Chiềng An), Hà Tĩnh (Kỳ Anh), Quảng Trị (Tà Long), Thừa Thiên Huế
(Phú Lộc, Nam Đông), Khánh Hòa (Nha Trang)...
2.2. Vật liệu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các loài đại diện của chi Nhàu (Morinda L.) ở
Việt Nam, bao gồm các mẫu khô lưu giữ tại các phòng tiêu bản thực vật
và các mẫu tươi thu được tại Sơn La (Chiềng An), Hà Tĩnh (Kỳ Anh),
Quảng Trị (Tà Long), Thừa Thiên Huế (Phú Lộc, Nam Đông), Khánh
Hòa (Nha Trang)...
Các nguyên liệu tiến hành thí nghiệm gồm các hóa chất và thiết bị
cần thiết tại Viện Hóa học, Viện Hóa sinh biển và Viện Công nghệ sinh
học, Viện Hàn lâm KH&CNVN.
2.3. Nội dung nghiên cứu
6
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân bố của một số loài
thuộc chi Nhàu (Morinda L.) ở Việt Nam
7
3.1.1. Đặc điểm sinh học của các loài thuộc chi Nhàu (Morinda L.) ở
Việt Nam
3.1.1.1. Đặc điểm chung của chi Nhàu (Morinda L.) ở Việt Nam
Chi Nhàu (Morinda L.) dạng dây leo, bụi đứng hoặc gỗ nhỏ. Phân nhánh từ nách lá.
Lá: Mọc đối; phiến lá thuôn dài (M. longifolia, M. citrifolia…) hoặc bầu
dục (M. umbellata, M. parvifolia), mép lá đơn nguyên hoặc uốn lượn. Lá
kèm dạng bản rộng hình tim (M. longifolia, M. citrifolia…), dài nhọn,
mỏng (M. cochinchinensis, M. officinalis) hoặc không có lá kèm (M.
longissimi, M. tomentosa…); toàn bộ lá kèm hợp lại và ôm lấy thân.
Hoa: Cụm hoa tán (M. cochinchinensis, M. officinalis…) hoặc hình đầu (M.
citrifolia, M. tomentosa…); mọc ở nách lá hoặc ở đầu cành. Hoa có cuống
(M. longifolia, M. officinalis…) hiếm khi không cuống (M. cochinchinensis).
Hoa lưỡng tính. Thùy đài ngắn, lượn sóng. Tràng hoa màu trắng, vàng nhạt
hoặc hồng nhạt, hình phễu hoặc hình chuông, bên trong họng tràng nhẵn
(M. tomentosa, M. longifolia) hoặc có nhiều lông (M. citrifolia, M.
parvifolia), thùy 4-6, loe rộng ở phía đầu thùy. Có 4-6 nhị nhô lên khỏi ống
tràng (M. longifolia, M. villosa…) hoặc nằm phía trong họng tràng (M.
tomentosa…), chỉ nhị đính ½ hoặc đính đáy ống tràng, bao phấn đính lưng.
Bầu 1-2 ô, hiếm khi bầu 4 ô, mỗi ô chứa từ 1- 2 noãn.
Quả: Thường dính với nhau thành quả kép, gần hình cầu (M. tomnetosa,
M. umbellata) hoặc hình trứng (M. citrifolia, M. longifolia…), phần bụng
quả phẳng hoặc có rãnh.
Hạt: Hạt cứng, phôi nhỏ, lá mầm hình thuôn.
12B. Số đôi gân bên 7-10 ................... 11a. M. umbellata var. tonkinensis
3.1.1.3. Mô tả các loài trong chi Nhàu (Morinda L.) ở Việt Nam
1. Morinda citrifolia L. (1753) – Nhàu lá chanh
Cây gỗ nhỏ, cao 7-10 m. Thân và cành
nhẵn. Phiến lá hình trái xoan, nhẵn.
Kích thước lá 12-30 cm x 6-15 cm. Có
lá kèm. Cụm hoa hình đầu, mọc ở nách
lá. Hoa màu trắng, có lông ở họng; nhị
5, chỉ nhị ngắn; bầu 2 ô. Cụm quả hình
trứng hoặc cầu; hạt nhiều.
Hình 3.2. Nhàu lá chanh (M. citrifolia)
chụp tại Kỳ Anh, Hà Tĩnh (ảnh Vũ Hương Giang)
9
Sinh học và sinh thái: Cây mọc rải rác trong rừng thường xanh, rừng
phục hồi sau nương rẫy. Cây ra hoa quanh năm.
Mẫu nghiên cứu: HÀ TĨNH, TNSV22-HT; NHA TRANG (Phú
Khánh), 0000053452 (HN); KHÁNH HÒA (huyện đảo Trường Sa),
0000053452 (HN).
Phân bố: Khá phổ biến ở Việt Nam. Còn có ở Ấn Độ, Mianma, các
nước nhiệt đới Châu Á và Australia.
Giá trị sử dụng: Chữa cao huyết áp, tiểu đường, nhức mỏi chân tay, đau
lưng, sài uốn ván, chữa lỵ, ỉa chảy, cảm sốt và bồi bổ sức khỏe.
2. Morinda cochinchinensis DC. (1830) – Ba kích lông
Cây bụi trườn, thân phủ lông dày màu vàng. Lá kèm mỏng, dài nhọn, có
lông. Cụm hoa tán mọc ở đầu cành (30-40 hoa/cụm). Hoa không cuống.
Quả kép, đường kính khoảng 0,6-1,0 cm, khi chín có màu vàng.
vàng da (dân tộc Katu – Thừa Thiên Huế).
Hình 3.6. Nhàu lá dài (M. longifolia)
chụp tại Nam Đông, T.T.Huế (ảnh Vũ Hương Giang)
4. Morinda longissima Y. Z. Ruan (1999) – Nhó đông
Cây gỗ nhỏ, cao từ 2-4m, phân cành nhiều; cành non hơi vuông. Phiến lá
hình bầu dục, kích thước lá 12-18 x 8-10 cm; mặt dưới hơi có lông; gân
bên 8-10 cặp. Cụm hoa ngù ở nách lá. Hoa màu trắng; tràng 4-5; nhị
đính ở họng tràng, chỉ nhị ngắn. Bầu 4 ô. Quả kép hình cầu hoặc trứng.
Sinh học và sinh thái: Mọc rải rác
trong rừng thường xanh thứ sinh,
trên nương rẫy và đồi cây trụi, ở
độ cao 300-800 m. Ra hoa vào
tháng 4-5, quả già tồn tại đến
tháng 12.
Hình 3.8. Nhó đông (M. longissima)
chụp tại Chiềng An, Sơn La (ảnh Vũ Hương Giang)
Phân bố: Sơn La, Lai Châu, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Quảng
Nam, Quảng Ngãi. Còn có ở Trung Quốc.
Mẫu nghiên cứu: SƠN LA, C-520.
Giá trị sử dụng: Rễ làm thuốc trị viêm gan ở đồng bào Thái (Sơn
La) và K’Dong (Trà My – Quảng Nam)
5. Morinda officinalis F.C.How (1958) – Ba kích
11
Cây leo. Thân non có lông, sau nhẵn. Rễ thắt thành đốt. Phiến lá hình
bầu dục, kích thước 6-14 cm x 2,5-6 cm. Lá kèm mỏng. Cụm hoa tán
mọc đầu cành. Hoa nhỏ màu trắng, đài hình chén; ống tràng ngắn;
nhị 4; bầu hạ. Quả kép hình cầu.
0000053471 (HN).
Giá trị sử dụng: Trị bướu, trị ung thư bạch huyết. Ở Trung Quốc
dùng rễ trị thấp nhiệt.
7. Morinda persicaefolia Pitard (1826) – Nhàu nước
7a. var. oblonga Pitard (1924) – Nhàu nước lá thuôn
Cây bụi nhỏ, cao 0,5-1,0 m. Phiến lá hình mác. Lá kèm ngắn. Cụm
hoa hình đầu, mọc đối diện lá. Hoa màu trắng; đài có 5 răng ngắn;
nhị 5; bầu 1 ô. Quả kép.
Sinh học và sinh thái: Mọc rải rác dọc theo các kênh rạch hay ở các
ruộng khô. Ra hoa quả từ tháng 1-7.
Phân bố: Tây Ninh, Đồng Nai, An Giang, Quảng Nam. Còn có ở
Lào, Campuchia.
Mẫu nghiên cứu: QUẢNG NAM, 0000053476 (HN).
Giá trị sử dụng: Rễ ngâm rượu uống chữa đau lưng, nhức mỏi chân
tay, tê thấp. Cây dùng chữa cao huyết áp.
7b. var. pandurifolia (Kuntze) Pitard (1924) – Nhàu lá hình đàn
Sinh học và sinh thái: Bụi nhỏ, lá hình đàn pandurin.
Phân bố: An Giang.
Giá trị sử dụng: Rễ dùng trị giun.
8. Morinda polyneura Miq.
8a. Morinda polyneura var. aspera Wernh. Dran (1857)
Dạng sống và sinh thái: Bụi nhỏ, lá thon hẹp hoặc bầu dục, chóp nhọn; lá
kèm có 2 thùy dài, dày. Cụm hoa đối diện nách lá; vành hoa có lông.
Loài Morinda polyneura var. aspera chỉ mới được Phạm Hoàng Hộ đề
cập đến từ năm 2003, đây là loài còn nghi ngờ vì cho đến nay chưa thu
được mẫu ở Việt Nam.
9. Morinda tomentosa Heyne in Roth (1821) – Nhàu lông mềm
Cây gỗ nhỏ. Phiến lá thuôn, nhẵn hai mặt, kích thước lá 18-22 x 6-8
cm. Cụm hoa hình đầu, mọc đối diện với lá; hoa màu trắng; tràng 4;
nhị 4; bầu hạ, 1 ô. Quả kép, hình cầu; đường kính khoảng 1,5-2,5 cm.
Mẫu nghiên cứu: THỪA THIÊN HUẾ, TNSV27-BM; QUẢNG BÌNH
(Đồng Hới), 0000053503 (HN); QUẢNG NGÃI, 0000053497 (HN).
Giá trị sử dụng: Trị mụn nhọt, ghẻ ngứa ngoài da, tẩy giun sán. Ở
Trung Quốc, cây (bỏ rễ) dùng để chữa ho, sốt, cầm máu, đau dạ dày,
14
viêm gan cấp, trị đau lưng, tê thấp. Ở Indonesia, dùng để chữa đau
bụng, bệnh đái đường, lao phổi, đau ngực, gan, vết cắn, đứt.
10a. var. tonkinensis Pitard (1924) – Nhàu tán Bắc bộ
Sinh học và sinh thái: Bụi trườn. Ra hoa quả tháng 5-8.
Phân bố: Hà Tĩnh, Kon Tum.
Mẫu nghiên cứu: HÀ TĨNH (Kỳ Phú), 0000053480 (HN). KON TUM
(Konplong), 0000053481 (HN).
11. Morinda villosa Hook. F. (1890) – Nhàu lông
Cây bụi trườn, dài 1-2 m. Phiến lá hình bầu dục, kích thước 5-11 cm x 24,5 cm. Cụm hoa hình đầu, mọc ở đầu cành hoặc kẽ lá. Hoa màu trắng;
tràng 4-5, ống tràng có lông ở họng; nhị 4-5; bầu 2 ô. Quả kép hình cầu.
Dạng sống và sinh thái: Mọc hoang bờ sông suối. Ra hoa tháng 5-6,
có quả tháng 8-9.
Phân bố: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa
Bình, Hà Nội, Hà Nam, Kon Tum,
Lâm Đồng. Còn có ở Ấn Độ,
Mianma, Trung Quốc.
Mẫu nghiên cứu: VĨNH PHÚC,
TNSV35-TĐ;
KON
TUM,
0000053518 (HN).
Hình 3.20. Nhàu lông (M. villosa)
+
Sơn La
©
+ C
Phú Thọ
+ C
Thái Nguyên
+ C
Bắc Kạn
+
Lạng Sơn
+
Quảng Ninh
+ C
Bắc Giang
+
Hòa Bình
+
2. Khu vực Đồng bằng Sông Hồng
Vĩnh Phúc
+ C
Hà Nội
+
Hà Nam
Bắc Ninh
+
Ninh Bình
©
+
3. Khu vực Bắc Trung bộ
Đăk Lăk
© +
Lâm Đồng
+
+
6. Khu vực Đông Nam Bộ
Bình Bương +
Tây Ninh
+
©
Đồng Nai
+
TP. HCM
+
7. Khu vực Tây Nam Bộ
Đồng Tháp
+
An Giang
+
Kiên Giang
+
+
MPV
MP
MT
MU
©
+
©
©
©
©
+
C
©
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
1
2
3
Gốc, rễ
Số
cây
34
16
0
%
73,9
76,2
0
Chất lượng tái sinh
Hạt
Số
cây
12
5
0
Trung
bình
Tốt
33,3
0
Xấu
Số
cây
1
2
0
%
2,2
9,5
0
Đặc điểm phân bố: Loài M. longifolia được phân bố theo kiểu thảm
thực vật phục hồi sau nương rẫy, chủ yếu ở chân núi (OTC1) và sườn
núi (OTC2), xuất hiện ở độ cao từ 100 m – 420 m so với mặt nước biển.
3.1.3.2. Loài Nhàu lông mềm (M. tomentosa):
Bảng 3.8 cho thấy, ở 2 khu vực, cây tái sinh chồi từ gốc, rễ chiếm ưu
thế hơn từ hạt. Chất lượng tái sinh cũng có sự khác nhau. Loài M.
tomentosa có khả năng tái sinh chồi từ gốc khỏe. Điều này làm cơ sở
cho khả năng nhân giống bằng hình thức giâm hom.
Đặc điểm phân bố: Loài M. tomentosa được phân bố ở kiểu thảm
thực vật rừng phòng hộ ven biển, chủ yếu ở chân núi (OTC1) và sườn
núi (OTC2), xuất hiện ở độ cao từ 20 m – 100 m so với mặt nước
biển.
17
67 73,6 21 23,1 3
3,3
2
21 72,4 8 27,6
29
15 51,7 6 20,7 8 27,6
3
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
3.2. Điều tra tri thức bản địa về việc sử dụng các loài Nhàu
Gốc, rễ
Hạt
Tốt
(Morinda L.) trong cộng đồng các dân tộc tại tỉnh Thừa Thiên
Huế, Quảng Trị và Khánh Hòa
Kết quả điều tra cho thấy, ở Tà Long, người Vân Kiều chỉ sử dụng loài
Ba kích (M. officinalis) làm thuốc. Ở Cam Lâm, người Raglai chỉ sử
dụng loài Nhàu lông mềm (M. tomentosa). Ở Xuân Lộc, có tới 03 loài
Ka
tu
%
Vân
Kiều
%
Raglai
%
Rễ
08
12,5
18
28,1
-
-
Gốc thân
-
-
-
11
39,3
16
25,0
29
44,6
-
-
Lá, thân,
rễ
Qua quá trình khảo sát trong cộng đồng các dân tộc Ka tu, Bru Vân Kiều
và Raglai tại các khu vực nghiên cứu, thông qua phiếu điều tra đã thu
thập được 9 bài thuốc dân gian từ 5 loài: Ba kích lông (M.
Hình 3.25. Tổng hợp các hợp chất phân lập từ loài M. tomentosa
Bằng phương pháp hóa học đã xác định được các hợp chất phân lập
được là: morintoside A (MT1, chất mới), asperulosidic acid (MT2),
daphylloside (MT3), asperuloside (MT4), morintoside B (MT5, chất
mới), dehydroepoxymethoxygaertneroside (MT6), (1R,6R,9R)
6,9,11-trihydroxy-4-megastigmen-3-one (MT7), 4-epi-borreriagenin
(MT8), trans-phytol (MT9), ursolic acid lactone (MT10), 3βhydroxyurs-12-en-28-al (MT11), ursolic acid (MT12).
3.3.2. Loài Nhàu tán (M. umbellata)
Bằng phương pháp hóa học đã xác định được các hợp chất phân lập
được là: umbellatolide A (MU1, chất mới), umbellatolide B (MU2,
19
chất mới), deacetylasperulosidic acid (MU3), 4-epi-borreriagenin
(MU4), 1-C-syringyl-glycerol (MU5).
MU2 (new)
MU1 (new)
MU4
MU3
Hình 3.28. Tổng hợp các hợp chất phân lập từ
loài M. umbellata
MU5
26
25
20
17
11
7
5
O
O
ML4
ML5
Hình 3. 31. Tổng hợp các hợp chất phân lập từ loài M. longifolia
Bằng phương pháp hóa học đã xác định được các hợp chất phân lập
được là: cerbinal (ML1), longifolide A (ML2, chất mới), longifolide B
(ML3, chất mới), 5,8-epidioxyergosta-6,22-dien-3-ol (ML4),
oleanolic acid (ML5).
3.4. Kết quả đánh giá hoạt tính sinh học của một số loài thuộc chi Nhàu
3.4.1. Kết quả sàng lọc hoạt tính của các dịch chiết thô
Sử dụng 04 mẫu dịch chiết thô từ 4 loài: M. tomentosa (MT), M.
cochinchinensis (MC), M. umbellata (MU) và M. longifolia (ML) để
tiến hành sàng lọc, kết quả cho thấy: mẫu MT và MC đều thể hiện hoạt
7.29 9.96
6.55
10
0
Hợp chất
Hình 3.32. Mức độ ức chế enzyme α-glucosidase của các hợp chất
phân lập được từ loài Nhàu lông mềm (M. tomentosa)
Kết quả ở Hình 3.32 cho thấy, tất cả các hợp chất phân lập từ loài M.
tomentosa đều thể hiện có hoạt tính, trong đó, hợp chất MT10 thể hiện
hoạt tính mạnh nhất với phần trăm ức chế là 23,8% ở nồng độ 50 µM,
tiếp đó đến các hợp chất MT7 (19,50%); MT12 (19,42%); MT6
(18,22%); thấp nhất là hợp chất MT9 (6,55%).
3.5. Nhân giống loài Nhàu lông mềm (M. tomentosa)
21
3.5.1. Nhân giống bằng giâm hom
3.5.1.1. Ảnh hưởng của độ dài và tuổi hom giống đến tỷ lệ sống, khả năng
nảy chồi và ra rễ
Bảng 3.20. Ảnh hưởng của độ dài hom tới tỷ lệ sống của các loại hom
Kết quả ở Bảng 3.20 cho thấy, các loại hom non đều không thể sử
dụng để nhân giống. Các hom già và bánh tẻ có tỷ lệ sống khá cao
nhưng lại giảm dần từ giai đoạn sau 40 ngày, 60 ngày và 90 ngày.
Giữa 3 loại hom có độ dài khác nhau thì hom giống có độ dài 13 cm
đạt tỷ lệ sống cao nhất trong các thí nghiệm.
Kết quả trong Bảng 3.21 cho thấy, hầu như tất cả các loại hom non
bằng các hom già, có độ dài 13 cm, trên giá thể là cát sạch, với độ
che sáng 30% cho tỷ lệ sống cao nhất.
Bảng 3.26. Ảnh hưởng của độ che sáng tới khả năng nảy chồi của
các loại hom già khi giâm trên các loại giá thể khác nhau
Bảng 3.26 cho thấy, hom giống già được giâm trên giá thể cát sạch cho tỷ lệ
ra chồi đạt giá trị cao nhất ở tất cả các mức độ chiếu sáng. Khả năng ra chồi
cũng thấp dần từ mức che sáng 50% đến 70% ở tất cả các giá thể giâm.
Khả năng ra rễ của các hom già cũng cho kết quả tương tự, khi giâm trên
giá thể cát sạch cho tỷ lệ ra rễ đạt giá trị cao nhất ở tất cả các mức độ chiếu
sáng (100%). Trên các loại giá thể giâm khác nhau với mức độ che 30%
ánh sáng, số hom giống ra rễ cũng cho tỷ lệ đạt giá trị cao nhất.
3.5.1.3. Ảnh hưởng của nồng độ chất điều hoà sinh trưởng đến tỷ
lệ sống và ra rễ của hom già
Từ các kết quả ở Bảng 3.30 có thể khẳng định, trong thí nghiệm này,
khi sử dụng chất điều hòa sinh trưởng α-NAA ở nồng độ 1,0 ppm,
các hom giống già cho tỷ lệ sống cao nhất (92,00%).
Với cả ba loại chất kích thích sinh trưởng tỷ lệ ra chồi và ra rễ của
các hom già đều đạt giá trị cao nhất khi xử lý ở nồng độ 1,0 ppm (lần
lượt là 96,38%, 100%) và thấp dần ở nồng độ 0,5 ppm đến 1,5 ppm.
24
Bảng 3.30. Ảnh hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng ở các nồng
độ khác nhau đến khả năng sống của các loại hom già
Như vậy, kết quả nghiên cứu đã thu được từ các thí nghiệm thấy
rằng: Nhân giống sinh dưỡng loài Nhàu lông mềm (M. tomentosa)
bằng các loại hom già, có độ dài 13 cm, có xử lý chất điều hòa sinh
nhiều bộ phận (rễ, thân, lá…) của một số loài Nhàu (Morinda spp.)
thường được dùng làm thuốc chữa các bệnh như trị mụn nhọt, mẩn
ngứa, ghẻ lở ngoài da, tẩy giun sán, nhuận tràng, lợi tiểu, vàng da, đau
nhức xương khớp, hạ sốt, điều kinh, ôn thận trợ dương, mạnh gân
cốt, trừ phong thấp, giúp tăng sức đề kháng, tăng khả năng co bóp
của ruột và giảm huyết áp.
3. Tách chiết, phân lập và xác định được 22 hợp chất gồm:
- 12 hợp chất từ lá loài Nhàu lông mềm (M. tomentosa) trong đó có 2
hợp chất mới là morintoside A (MT1), morintoside B (MT5) và 10
hợp chất đã biết là asperulosidic acid (MT2), daphylloside (MT3),
asperuloside (MT4), dehydroepoxymethoxygaertneroside (MT6),
(1R,6R,9R) 6,9,11-trihydroxy-4-megastigmen-3-one (MT7), 4-epiborreriagenin (MT8), trans-phytol (MT9), ursolic acid lactone
(MT10), 3β-hydroxyurs-12-en-28-al (MT11), ursolic acid (MT12);
- 5 hợp chất từ lá và cành loài Nhàu tán (M. umbellata) trong đó có 2
hợp chất mới là umbellatolide A (MU1), umbellatolide B (MU2) và
03 hợp chất đã biết là deacetylasperulosidic acid (MU3), 4-epiborreriagenin (MU4), 1-C-syringyl-glycerol (MU5);
- 5 hợp chất từ lá và cành loài Nhàu lá dài (M. longifolia) trong đó có 2
hợp chất mới là longifolide A (ML2), longifolide B (ML3) và 03 hợp