MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU..............................................................................................................................4
Chương 1. Cơ sở lý luận về kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cho
đội ngũ cán bộ khoa học .....................................................................................8
1.1. Khái niệm cán bộ khoa học ................................................................................8
1.1.1. Khái niệm ...................................................................................................8
1.1.2. Hoạt động nghiên cứu khoa học ..............................................................10
1.1.3. Kết luận mục 1.1 ......................................................................................12
1.2. Khái niệm công nghệ thông tin ........................................................................12
1.2.1. Khái niệm .................................................................................................12
1.2.2. Các giá trị xã hội gián tiếp của CNTT được ứng dụng trong
đời sống ..................................................................................................16
1.2.3. Kết luận mục 1.2 ......................................................................................19
1.3. Khái niệm kỹ năng, kỹ năng sử dụng CNTT..................................................19
1.3.1. Khái niệm kỹ năng ...................................................................................19
1.3.2. Kỹ năng sử dụng CNTT ...........................................................................21
1.3.3. Đặc điểm và vai trò của kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin đối
với công tác của cán bộ khoa học...........................................................23
Chương 2. Thực trạng kỹ năng sử dụng CNTT trong đội ngũ cán bộ
khoa học của Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh..........25
2.1. Các tiêu chí đánh giá.........................................................................................25
2.2. Thực trạng trong đội ngũ cán bộ giảng dạy nghiên cứu ...............................26
2.2.1. Về nhận thức, thái độ ...............................................................................26
2.2.2. Về kiến thức đã được đào tạo, nhu cầu nâng cao kiến thức....................27
2.2.3. Mức độ hoàn thiện các nhóm kỹ năng .....................................................29
2.2.4. Việc ứng dụng các kỹ năng vào nghiên cứu ............................................32
2.3. Đánh giá chung..................................................................................................36
--- Trang 1 ---
định mục tiêu từ nay đến năm 2010: "CNTT được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh
vực, trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã
hội...". Mục tiêu này được thể chế hoá trong Quyết định 331/QĐ-TTg ngày
06/4/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển nguồn nhân
lực CNTT đến năm 2010 và Quyết định 246/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005 phê
duyệt Chiến lược phát triển CNTT và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và
định hướng đến năm 2020. Ứng dụng Công nghệ Thông tin (CNTT) đã thực sự là
đòi hỏi cấp bách và cũng trở thành một bộ phận quan trọng của quá trình phát triển
kinh tế-xã hội nước ta. Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh là
một trung tâm quốc gia về đào tạo và nghiên cứu khoa học không thể nằm ngoài
quá trình này. Yêu cầu của tình hình mới đối với Học viện đã được Bộ Chính trị
nêu rõ trong Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 30/7/2005 là phải "từng bước hiện đại
hoá cơ sở vật chất-kỹ thuật để tương xứng với một trung tâm đào tạo và nghiên cứu
lớn của quốc gia và khu vực". Để thực hiện được yêu cầu đó, Bộ Chính trị chỉ đạo:
"trong những năm tới, ưu tiên đầu tư theo quy hoạch, chú trọng đầu tư về CNTT".
Trước áp lực đổi mới và sự phát triển mạnh mẽ của CNTT, Học viện đã thực
hiện một số bước đi tham gia vào quá trình phát triển của đất nước. Tuy nhiên từ
năm 1995 đến nay, Học viện vẫn đang tiến những bước chậm chạp trong nghiên
cứu ứng dụng CNTT. Năm 1995 Giám đốc Học viện thành lập Ban Chỉ đạo CNTT
thì năm đó Đề tài "Định hướng ứng dụng và phát triển CNTT của Học viện giai
đoạn 1996-2000" được nghiệm thu. Đến năm 1999, Đề tài "Ứng dụng CNTT trong
hoạt động quản lý tại khu vực trung tâm Học viện" được nghiệm thu. Năm 2003
mới có một đề tài nghiên cứu cấp Bộ về ứng dụng CNTT trong hệ thống Học viện
--- Trang 4 ---
được hoàn thành. Các đề tài nêu trên đều nghiên cứu CNTT và việc tổ chức ứng
dụng nó trên bình diện chung. Mục tiêu chủ yếu của các đề tài này là nghiên cứu
các cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc tổ chức xây dựng hạ tầng CNTT tại Học
hệ giữa máy móc và người thợ máy. Nếu có máy móc mà không có thợ thì cái
máy chỉ là một cái xác vô hồn bất động. Để làm sáng tỏ vấn đề này, đề tài "Một
số giải pháp nâng cao kỹ năng sử dụng Công nghệ Thông tin cho đội ngũ cán bộ
khoa học ở trung tâm Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh hiện
nay" thực sự mang tính cấp thiết.
Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về cán bộ khoa học; Công
nghệ Thông tin; kỹ năng sử dụng CNTT vào công tác giảng dạy, nghiên cứu;
mối quan hệ giữa kỹ năng sử dụng CNTT và hiệu quả hoạt động giảng dạy,
nghiên cứu khoa học. Trên cơ sở đó xây dựng các tiêu chí đánh giá thực tiễn kỹ
năng sử dụng CNTT của cán bộ khoa học Học viện. Qua việc khảo sát và đánh
giá thực trạng kỹ năng sử dụng CNTT của đội ngũ cán bộ khoa học Học viện,
Đề tài hướng tới mục tiêu đề ra các giải pháp khoa học và thiết thực nhằm phát
huy những điều kiện đã và đang có, đồng thời khắc phục được những hạn chế,
khuyết điểm từ cả hai bình diện chủ quan và khách quan, từ đó nâng cao kỹ năng
sử dụng CNTT cho cán bộ khoa học của Học viện. Những kết quả nghiên cứu từ
đề tài này sẽ là luận cứ khoa học cho việc giải quyết vấn đề then chốt nhất, cơ
bản nhất của quá trình ứng dụng CNTT vào đào tạo và nghiên cứu của Học viện,
tạo cơ sở và động lực cho ứng dụng CNTT mạnh mẽ, toàn diện tại khu vực trung
tâm và trong toàn bộ hệ thống Học viện.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: trung tâm Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia
Hồ Chí Minh (135 Nguyễn Phong Sắc, Nghĩa Tân, Cầu Giấy, Hà Nội).
- Thời gian nghiên cứu: nghiên cứu đã tiến hành trong năm học 2007-2008.
--- Trang 6 ---
- Đối tượng nghiên cứu là cán bộ, công chức Học viện (bao gồm tổng số thực
tế nghiên cứu là 278 người. Trong đó có 133 nam, 144 nữ. Qua quá trình nghiên
đại học, thạc sỹ, tiến sỹ. Ngày 19/4/2000 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định
322/QĐ-TTg phê duyệt đề án "Đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật tại các cơ sở
nước ngoài bằng ngân sách nhà nước", trong đó xác định "cán bộ khoa học, kỹ
thuật" là người được đào tạo trình độ tiến sĩ, thạc sĩ, đại học. Quan niệm này thống
nhất trong các quy định của Chính phủ nên năm 2006, tại Quyết định 356/QĐ-TTg
điều chỉnh Đề án 322 nêu trên, do mở rộng đối tượng đào tạo ra ngoài phạm vi cán
bộ thuộc đơn vị giảng dạy, nghiên cứu nên Đề án được đổi tên là ""Đào tạo cán bộ
tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước". Như vậy theo các văn bản của
Chính phủ thì cán bộ khoa học là những người có hai tiêu chí cơ bản: thứ nhất là
được đào tạo đạt trình độ từ cử nhân trở lên (có thể là cử nhân cao đẳng), thứ hai là
đang công tác, làm việc tại các cơ quan, đơn vị nghiên cứu khoa học và giảng dạy.
Tại Học viện, có quan niệm phổ biến hiện nay cho rằng "đội ngũ cán bộ
khoa học của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh là những
người thuộc biên chế cơ hữu của Học viện có trình độ từ đại học trở lên, được đào
tạo cơ bản, có hệ thống về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các
chuyên ngành về khoa học xã hội - nhân văn, khoa học hành chính và các khoa
--- Trang 8 ---
học khác đang làm nhiệm vụ nghiên cứu, giảng dạy, đồng thời có thể làm cả chức
năng lãnh đạo, quản lý trong một thời gian nhất định" (TS Lê Văn Lợi, Vụ Tổ
chức-Cán bộ). Có thể thấy quan niệm này không hoàn toàn trùng khớp với quan
niệm của Chính phủ. Nếu như Chính phủ đòi hỏi hai tiêu chí chặt chẽ thì Học viện
chỉ đòi hỏi một tiêu chí cơ bản là có trình độ từ đại học trở lên. Điều này xuất phát
từ thực tế là cán bộ có trình độ khoa học cao đang là nguồn bổ sung quan trọng
cho công tác quản lý. Có lẽ cũng từ thực tế này mà Chính phủ phải điều chỉnh Đề
án cử người đi học nước ngoài, đối tượng không còn chỉ là cán bộ khoa học mà
mở rộng ra cả công chức quản lý. Một khác biệt nữa là trong khi Chính phủ xác
định cán bộ khoa học có thể chỉ đạt trình độ cử nhân cao đẳng, thì tại Học viện
khái niệm mới, định đề mới, quy luật mới tìm ra. Nhưng cũng có thể là những kiến
nghị có căn cứ khoa học để giải quyết những vấn đề của hiện tại. Đây là hoạt động
chính, hoạt động chủ yếu của nghiên cứu khoa học. Đây là quá trình mang tính hữu
ích đối với cuộc sống hay là sự phát triển. Nó là sự khai mở trí tuệ con người trên
những nấc thang tiến hoá của loài người.
Mảng hoạt động cuối cùng trong nghiên cứu khoa học là công bố kết quả
nghiên cứu. Các kết quả nghiên cứu được gọi là công trình nghiên cứu khoa học
chính là các kiến thức. Hình thức công bố kết quả nghiên cứu tuỳ thuộc vào sự phát
triển của xã hội, trong hàng thế kỷ nay, loài người biết đến những hình thức phổ
biến nhất là văn bia, sách, báo, tạp chí. Cũng cần nói thêm là vật liệu lưu giữ thông
tin khoa học truyền thống là đá, xương thú (mai rùa, xương cá...), mộc (gỗ, tre,
trúc...), đất nung và giấy. Ngày nay xuất hiện ngày càng nhiều các vật liệu mới để
lưu giữ thông tin bên cạnh các vật liệu truyền thống như băng từ, đĩa từ, đĩa quang
học...Có thể thấy xu hướng phát triển chung của các vật liệu này là ngày càng giảm
thể tích, khối lượng, đồng thời số lượng thông tin lưu giữ ngày càng tăng tính trong
một đơn vị vật liệu. Đi kèm với sự phát triển của vật liệu lưu giữ thông tin, công
nghệ trao đổi thông tin cũng phát triển nhanh và rất thuận tiện cho việc phổ biến
cũng như tìm kiếm các kết quả nghiên cứu khoa học.
--- Trang 11 ---
1.1.3. Kết luận mục 1.1
Những hiểu biết khái quát về cán bộ khoa học và hoạt động nghiên cứu khoa
học vừa nêu trên cho phép dẫn đến một số kết luận sau:
Một là, cán bộ khoa học của Học viện phải là những người tạo thành lực
lượng nghiên cứu khoa học của Học viện. Vì vậy cán bộ khoa học của Học viện
bao gồm tất cả những cán bộ, công chức Học viện có học vị từ cử nhân đại học trở
lên nhưng phải thuộc các chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn.
Hai là, tương ứng với các mảng hoạt động nghiên cứu khoa học thì yêu cầu
được dùng phổ biến tại châu Âu. Ngày nay, thuật ngữ tiếng Anh tương đương với
informatique là computer science, nghĩa là "khoa học về máy tính". Liên quan đến
Tin học có nhiều thuật ngữ có nghĩa gần giống nhau và dễ bị nhầm lẫn ví dụ như:
Khoa học máy tính (ngành nghiên cứu các cơ sở lý thuyết của tin học như thuật
toán, ngôn ngữ hình thức, lý thuyết đồ thị, đồ họa máy tính... nghĩa là chỉ có liên
quan gián tiếp đến phần mềm và máy tính); Kỹ thuật máy tính (nghiên cứu về việc
chế tạo và sử dụng các thiết bị tin học); Kỹ nghệ phần mềm (nghiên cứu về việc mô
hình hóa và phát triển phần mềm, hay còn được gọi là Công nghệ phần mềm).
Theo Wikipedia, Tin học là ngành nghiên cứu về việc tự động hóa xử lý
thông tin bởi một hệ thống máy tính cụ thể hoặc trừu tượng. Người ta có thể làm
việc với tin học bằng bất cứ một hệ thống nào hoạt động tương tự với các mạch
lôgic: các máy cơ học (chẳng hạn máy tính Pascal và ô-tô-mát), máy khí động, hệ
thống thủy lực... Những chương trình tin học đầu tiên được viết từ trước sự ra đời
của máy tính rất lâu. Một số phân nhánh quan trọng của Tin học là Khoa học máy
tính; Công nghệ phần mềm; Phương pháp số; Hệ điều hành; Phân tích hệ thống; Cơ
sở dữ liệu và Cấu trúc dữ liệu; Kiến trúc máy tính; Mạng máy tính; Tính toán khoa
học. Ngoài ra ngành tin học có quan hệ chặt chẽ với nhiều ngành khác. Các ngành
này có nhiều phần chung, tuy vẫn khác nhau ở nhiều điểm quan trọng:
Thuật toán: là dãy thao tác lệnh mà sau một số bước hữu hạn từ dữ liệu đầu
vào (input) đã cho, ta có dữ liệu đầu ra (output).
--- Trang 13 ---
Trí tuệ nhân tạo: cài đặt và nghiên cứu các hệ thống thể hiện hành vi hoặc trí
thông minh tự động của bản thân, đôi khi được phỏng theo đặc điểm của các thực
thể sống. Tin học gắn bó chặt chẽ với Trí tuệ nhân tạo, bởi phần mềm và máy tính
là các công cụ cơ bản cho việc phát triển trí thông minh nhân tạo.
Tin sinh học: áp dụng các kỹ thuật của toán học ứng dụng, khoa học thông
tin, thống kê và khoa học máy tính để giải quyết các bài toán sinh học.
Ngôn ngữ học: nghiên cứu các ngôn ngữ; nó gặp tin học ở những lĩnh vực
như thiết kế ngôn ngữ lập trình và xử lý ngôn ngữ tự nhiên
Lô-gíc: một hệ thống suy luận hình thức và nghiên cứu về các nguyên lý nền
tảng của máy tính, cả ở mức phần cứng (digital logic) và phần mềm (kiểm định, trí
tuệ nhân tạo v.v.)
Các hệ thống thông tin quản lý: ngành con của các hệ thống thông tin, tập
trung vào quản lý cá nhân và quản lý tài chính.
Toán học: chia sẻ nhiều kỹ thuật và chủ đề với khoa học máy tính, nhưng ở
mức tổng quát hơn. Tin học lý thuyết chính là toán học về tính toán
Kỹ nghệ phần mềm: tập trung vào đặc tả, phân tích, thiết kế, xây dựng, và
kiểm thử phần mềm. Kỹ nghệ phần mềm bao gồm các phương pháp phát triển
(chẳng hạn mô hình thác nước và lập trình cực đoan) và quản lý dự án
Công nghệ thông tin: một thuật ngữ bao trùm tất cả các ngành có liên quan
đến tin học.
Có thể thấy nội dung của tin học mô phỏng cơ chế hoạt động của bộ óc con
người. Trên cở sở đó, tạo ra các loại máy tính thực hiện tự động các quá trình xử lý
thông tin và trí tuệ với một tốc độ nhanh và với khả năng lưu trữ thông tin lớn. Vì
vậy ngày nay khi máy tính đang rất phổ cập thì khái niệm "tin học" bao hàm tất cả
các nghiên cứu và kỹ thuật có liên quan đến việc xử lý thông tin. Trong nghĩa thông
dụng, tin học còn có thể bao hàm cả những gì liên quan đến các thiết bị máy tính
--- Trang 15 ---
hay các ứng dụng tin học văn phòng. Theo cách hiểu này, tin học ngày càng được
ứng dụng phổ biến vào các lĩnh vực của xã hội.
Tuy nhiên vì tin học có quá nhiều ngành khoa học cũng như khái niệm, thuật
ngữ liên quan, đồng thời sự phát triển của "thông tin số hoá" không cho phép nhận
thức "tin học" để dừng lại ở "những gì liên quan đến các thiết bị máy tính". Do đó
phải tiếp cận khái niệm CNTT ở nghĩa rộng, với tính chất bao trùm toàn bộ các
giáo dục như là chữa bệnh từ xa hoặc tổ chức các lớp học ảo. Tất cả các ứng dụng
đó cung cấp một khối lượng thông tin và dịch vụ khổng lồ trên Internet.
Mạng lưới toàn cầu World Wide Web, gọi tắt là Web hoặc WWW, là một
không gian thông tin toàn cầu mà mọi người có thể truy nhập (đọc và viết) qua các
máy tính nối với mạng Internet. Web chỉ là một trong các dịch vụ chạy trên
Internet, tương tự như dịch vụ thư điện tử.
Thư điện tử, hay e-mail (từ chữ electronic mail), là một hệ thống chuyển
nhận thư qua các mạng máy tính. E-mail là một phương tiện trao đổi thông tin rất
nhanh. Một mẫu thông tin (thư từ) có thể được gửi đi ở dạng mã hoá hay dạng
thông thường và được chuyển qua các mạng máy tính, đặc biệt là mạng Internet.
Nó có thể chuyển mẫu thông tin từ một máy nguồn tới một hay rất nhiều máy nhận
trong cùng lúc. E-mail chẳng những có thể truyền gửi được chữ, nó còn có thể
truyền được các dạng thông tin khác như hình ảnh, âm thanh, phim, và đặc biệt các
phần mềm thư điện tử kiểu mới còn có thể hiển thị các e-mail dạng sống động
tương thích với kiểu tệp HTML.
Nhắn tin nhanh (hay tin nhắn tức khắc, trò chuyện trực tuyến, chát - từ chat
trong tiếng Anh, IM viết tắt của Instant Messaging), là dịch vụ cho phép hai người
trở lên nói chuyện trực tuyến với nhau qua một mạng máy tính. Nhắn tin nhanh là
trò chuyện mạng, có nhiều tính năng hay, như khả năng trò chuyện nhóm, dùng
biểu tượng xúc cảm, truyền tập tin, tìm dịch vụ và cấu hình dễ dàng bản liệt kê bạn
bè. Nhắn tin nhanh đã thúc đẩy sự phát triển của Internet trong đầu thập niên 2000.
--- Trang 17 ---
Máy truy tìm hay máy tìm kiếm (tiếng Anh: search engine), hay còn được
gọi với nghĩa rộng hơn là công cụ tìm kiếm (search tool), nguyên thuỷ là một phần
mềm nhằm tìm ra các trang Web trên mạng Internet có nội dung theo yêu cầu
người dùng dựa vào các thông tin mà chúng có. Trữ lượng thông tin này của công
cụ tìm kiếm thực chất là một loại cơ sở dữ liệu (database) cực lớn. Việc tìm các tài
bản, vừa mang tính chất là một ngành khoa học ứng dụng. Nó bao hàm, đan xen
các giá trị lý thuyết cơ bản và ứng dụng thực tiễn trong các tiến bộ, phát minh cụ
thể. Vì vậy CNTT chính là ngành khoa học, ngành công nghiệp sản xuất, ngành
dịch vụ trụ cột của nền kinh tế tri thức đang manh nha ở hiện tại và sẽ phát triển
rộng khắp trong tương lai.
Hai là, một số giá trị chủ yếu và phổ biến của CNTT cũng chính là những
thành tố cơ bản được ứng dụng trong đời sống kinh tế-xã hội. Vì vậy, ngày nay
khi đề cập đến ứng dụng CNTT trong công tác nghiên cứu khoa học xã hội và
nhân văn là chủ yếu đề cập đến sử dụng các ứng dụng CNTT trên môi trường
mạng máy tính.
Ba là, các ứng dụng CNTT chỉ thực hiện được trong những điều kiện cơ bản
sau: có hạ tầng công nghệ hiện đại, mạnh mẽ và rộng khắp (đó là cơ sở và cũng
đồng thời là thành tố cấu thành các loại mạng LAN, WAN, VPN...đặc biệt là
Internet); có các thiết bị công nghệ và phần mềm hiện đại ứng dụng trên Internet
(phần cứng và phần mềm); có người dùng đủ trình độ, hoàn thiện kỹ năng sử dụng
các ứng dụng cụ thể vào công tác.
1.3. Khái niệm kỹ năng, kỹ năng sử dụng CNTT
1.3.1. Khái niệm kỹ năng
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Trung tâm Từ điển học
và Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 2002 định nghĩa Kỹ năng là “Khả năng
vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế”
(Trang 520).
--- Trang 19 ---
Có quan điểm khác, cụ thể hơn, cho rằng "Kỹ năng là năng lực hay khả năng
chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để
giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống". Hay có
quan niệm kỹ năng là sự thành thạo công việc thể hiện qua năng lực thực hiện hay
người và hành động của họ. Nếu một người có kiến thức mà không được học tập,
rèn luyện kỹ năng thì không thể hoàn thành được bất cứ hoạt động nào theo đúng
những gì người đó nhận thức. Có thể nói, đặc điểm quan trọng nhất của kỹ năng đó
là được hình thành từ các phản xạ có điều kiện, mà ở đây tựu trung lại là từ quá
trình đào tạo và rèn luyện trong thực tế: học và hành. Do đó, quá trình hình thành
và hoàn thiện kỹ năng của mỗi cá nhân gắn liền với quá trình học tập: học tập chủ
động (tự học) và học tập thụ động (có người dạy). Trong đó quá trình tự học có vai
trò quan trọng nhất, vì đó là quá trình tiếp thu kiến thức và cả các kỹ năng một cách
chủ động, tự giác, tích cực và phong phú, sát thực tế nhất.
1.3.2. Kỹ năng sử dụng CNTT
Kỹ năng sử dụng CNTT theo nguyên nghĩa thì rất rộng lớn, gồm rất nhiều
nhóm kỹ năng khác nhau và chắc chắn rằng không một cá nhân nào có đủ điều
kiện để hoàn thiện được. Đối với đề tài này, theo chúng tôi, kỹ năng sử dụng
CNTT trước hết phải được hiểu là kỹ năng sử dụng các ứng dụng của CNTT
thông qua máy tính và mạng máy tính. Có nghĩa rằng chỉ đề cập đến những kỹ
năng đối với từng lĩnh vực lao động cụ thể bằng máy tính và các ứng dụng liên
quan trên mạng máy tính. Theo cách hiểu này, có thể có các định nghĩa sau về kỹ
năng sử dụng CNTT:
Theo nghĩa rộng, kỹ năng sử dụng CNTT là khả năng vận dụng những tri
thức khoa học về máy tính, mạng máy tính và các ứng dụng phần mềm trong đó
vào công tác.
Theo nghĩa hẹp, kỹ năng sử dụng CNTT là khả năng vận dụng những kiến
thức thu nhận được về phần mềm máy tính và các ứng dụng phần mềm mạng máy
tính vào công tác.
--- Trang 21 ---
Đề tài này tập trung nghiên cứu về kỹ năng sử dụng CNTT của cán bộ khoa
học xã hội và nhân văn, vì vậy tìm hiểu kỹ năng sử dụng CNTT theo nghĩa rộng
cách thức sử dụng "từ khoá tìm kiếm", cách thức nhận (lấy) thông tin tìm được
bằng các dịch vụ, công cụ tìm kiếm, cách thức kiểm định nguồn thông tin, tính
chính xác của thông tin...vào thực tế. Đây là nhóm kỹ năng hết sức quan trọng và
hữu ích khi làm việc trên máy tính và đặc biệt là làm việc với mạng máy tính.
Nhóm kỹ năng sử dụng thương mại điện tử là khả năng vận dụng kiến thức
về phương thức mua bán hàng hoá qua mạng, các dịch vụ mua bán trực tuyến,
nguyên lý và hình thức thanh toán trong mua bán trực tuyến, chữ ký điện tử, cách
thức kiểm chứng và xác thực giao dịch...vào thực tế.
Nhóm kỹ năng sử dụng lớp học ảo là nhóm kỹ năng hết sức đặc thù đối với
các cơ sở đào tạo. Nhóm kỹ năng này bao gồm tổng hoà các nhóm kỹ năng về phần
mềm văn phòng, duyệt web, e-mail, chat...Đây là khả năng vận dụng những kiến
thức về soạn thảo giáo án điện tử, bài giảng điện tử, cách thức sử dụng truyền hình
giảng đường, quản lý lớp học ảo, giao lưu trực tuyến (qua chat), giao lưu offline
(qua e-mail)...vào giảng dạy.
1.3.3. Đặc điểm và vai trò của kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin đối với
công tác của cán bộ khoa học
* Các kỹ năng CNTT có đặc điểm sau:
- Thứ nhất, kỹ năng CNTT gắn liền với máy tính cá nhân và các phần mềm
thông dụng được cài đặt trong đó.
- Thứ hai, kỹ năng CNTT gắn liền với công nghệ mạng máy tính và các dịch
vụ mạng máy tính.
- Thứ ba, kỹ năng CNTT đòi hỏi cá nhân phải thường xuyên liên tục cập nhật
kiến thức, vì CNTT là những kiến thức có tốc độ biến đổi rất nhanh.
* Vai trò kỹ năng CNTT với công tác của cán bộ khoa học
--- Trang 23 ---
Đối với công tác của cán bộ khoa học, các kỹ năng CNTT cũng là một bộ
phận trong các kỹ năng nghiên cứu khoa học. Bởi vì hoạt động khoa học, xét trên
Đánh giá thực trạng kỹ năng sử dụng CNTT trong đội ngũ cán bộ khoa
học của Học viện giống như việc kiểm tra trình kiến thức về CNTT của cán bộ
khoa học Học viện. Có thể thấy rằng đây là việc làm không dễ dàng. Nhưng kiến
thức mới chỉ là bước đầu, mà kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức vào thực
tế, nó mang tính thực tiễn rất cao. Vì vậy cần xác định được các tiêu chí đánh
giá cụ thể, bảo đảm mang lại kết quả chính xác nhất thực trạng vấn đề nghiên
cứu tại Học viện.
Trên cơ sở các kỹ năng CNTT đã nêu ở phần trước, có thể liệt kê các tiêu chí
đánh giá như sau: kỹ năng sử dụng các phần mềm văn phòng cài đặt trong máy tính
cá nhân; nhóm kỹ năng về duyệt web; kỹ năng sử dụng công cụ tìm kiếm; kỹ năng
sử dụng thư điện tử; kỹ năng sử dụng chat; kỹ năng sử dụng Thương mại điện tử;
kỹ năng sử dụng lớp học ảo.
Việc đánh giá theo các tiêu chí này có điểm mạnh là đánh giá được trình độ
kỹ năng của từng cá nhân, đem lại cái nhìn toàn diện về thực trạng vấn đề tại Học
viện. Tuy nhiên điểm yếu của tiêu chí này là không xem xét được những vấn đề
mang tính điều kiện, nguyên nhân của thực trạng. Vì vấn đề kỹ năng CNTT không
phải là vấn đề có tính độc lập, đơn lẻ mà gắn bó chặt chẽ với một số yếu tố khác.
Như trên đã phân tích, khi đề cập đến ứng dụng CNTT trong công tác nghiên
cứu khoa học xã hội và nhân văn là chủ yếu đề cập đến sử dụng các ứng dụng
CNTT trên môi trường mạng máy tính. Do đó các kỹ năng sử dụng CNTT của cá
nhân chỉ hình thành và có thể hoàn thiện trong những điều kiện cơ bản là: có hạ
tầng công nghệ hiện đại, mạnh mẽ và rộng khắp; có các thiết bị công nghệ và phần
mềm hiện đại ứng dụng trên Internet (phần cứng và phần mềm).
--- Trang 25 ---