Mục lục
trang
Lời mở đầu
Nội dung chính
I. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án theo quy định của Bộ
luật tố tụng hình sự………………………………………………………………………1
1. Khái
niệm
thẩm
quyền
xét
xử
sơ
thẩm
vụ
án
hình
sự…………………………….1
thẩm
vụ
án
hình
sự…………………………………………………………...12
Lời kết…………………………………………………………………………………..14
Lời mở đầu
Nếu như chức năng, nhiệm vụ của cơ quan an ninh là điều tra, phòng chống tội
phạm thì chức năng, nhiệm vụ của Tòa án là xem xét, quyết định mức độ trừng trị đối
với các loại tội phạm đó. Để có được hiệu quả trong hoạt động tiến hành tố tụng nói
chung và trong công tác xét xử nói riêng thì một yêu cầu đặt ra đó là phải có sự phân
định thẩm quyền xét xử sơ thẩm các loại tội phạm khác nhau. Bộ luật tố tụng hình sự đã
có những quy định khá cụ thể về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và trong quá
trình áp dụng đã thấy được nhiều ưu điểm. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công thì
còn khá nhiều hạn chế trong các quy định pháp luật này.
Nội dung chính
I. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án theo quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự.
1. Khái niệm thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Xét xử sơ thẩm là một giai đoạn có ý nghĩa rất quan trọng và là cơ sở để xác định
thẩm quyền xét xử của Tòa án trong giai doạn tiếp theo. Thẩm quyền của Tòa án theo
nghĩa chung nhất được hiểu là quyền xem xét và giải quyết vụ án theo quy định của
225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật hình sự.”
Như vậy, vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân
huyện và Tòa án quân sự là những vụ án về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm
nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng. Đó là những tội phạm có mức định khung
hình phạt cao nhất là 15 năm tù. Mặc dù vậy nhưng quy định này không được áp dụng
đối với mọi Tòa án nhân dân huyện và Tòa án quân sự khu vực mà tùy theo Tòa án đó
3
đã được giao thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ việc hay chưa. Quyết định số
24/2003/QH11 về việc thi hành bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chỉ rõ chậm nhất đến
ngày 1/7/2009 phải thống nhất thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo quy định tại khoản 1
Điều 170 BLTTHS. Tuy nhiên, cho đến hiện nay thì tinh thần này vẫn chưa được đáp
ứng.
Trong trường hợp, một điều có nhiều khoản thì Tòa án nhân dân cấp huyện và
Tòa án quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử những khoản có khung hình phạt cao
nhất thuộc thẩm quyền của mình. Cấp tòa án này có thẩm quyền xét xử cùng một lần
một người phạm nhiều tội nếu các tội phạm đó đều thuộc thẩm quyền xét xử của các tòa
án này. Trường hợp, một người đang chấp hành hình phạt mà lại bị truy tố về tội phạm
thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án này thì cũng có thẩm quyền xét xử; trừ trường hợp
người bị kết án đã bị tuyên hình phạt tử hình hoặc tù chung thân mà chưa được giảm
thời hạn chấp hành hình phạt tù.
Tuy nhiên, không phải mọi tội phạm có mức hình phạt cao nhất là 15 năm tù đều
thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án này mà những tội xâm phạm an ninh quốc
gia; phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; tội giết người; giết người
trong trạng thái thần kinh bị kích động mạnh… quy định tại điểm a, b, c của khoản 1 Điều
170 BLTTHS dù là tội phạm ít nghiêm trọng đi chăng nữa thì Tòa án nhân dân huyện và
Tòa án quân sự đều không có thẩm quyền xét xử sơ thẩm. Sở dĩ, để xét xử sơ thẩm một vụ
án hình sự thì một điều rất quan trọng là cơ quan xét xử có đủ năng lực, trình độ chuyên
ít nghiêm trọng, đặc, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng nhưng thuộc các tội được liệt kê tại
điểm a, b, c khoản 1 Điều 170 và những vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp
dưới nhưng được Tòa án tỉnh và Tòa án quân sự quân khu lấy lên xét xử. Hiện nay,
BLTTHS 2003 không có điều nào quy định cụ thể về một vụ án như thế nào thì được
Tòa án tỉnh lấy lên xét xử và cũng chưa có văn bản nào hướng dẫn về vấn đề này. Vì
vậy, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát và Thủ trưởng cơ quan
điều tra căn cứ vào tình hình thực tế của các vụ án và năng lực của điều tra viên, kiểm
sát viên, thẩm phán cấp huyện để quyết định vụ án nào cần lấy lên điều tra, truy tố, xét
xử ở cấp tỉnh. Thực tế, các tòa án vẫn dựa theo hướng dẫn của thông tư liên ngành số
02/TTLN ngày 12/1/1989 của TANDTC để đưa ra quyết định lấy vụ án lên xét xử.
5
Theo đó, Tòa án cấp tỉnh thường lấy lên xét xử những vụ án phức tạp khó chứng minh
hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; những vụ án mà bị cáo là thẩm phán, kiểm
sát viên, sĩ quan công an…
Điều 173 BLTTHS quy định: “Khi bị cáo phạm nhiều tội, trong đó có tội phạm
thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp trên, thì Tòa án cấp trên xét xử toàn bộ vụ án.”
2.2, Thẩm quyền xét xử theo đối tượng.
Thẩm quyền xét xử theo đối tượng chính là sự phân định thẩm quyền xét xử sơ
thẩm giữa Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự căn cứ vào chủ thể của tội phạm và đối
tượng bị thiệt hại do tội phạm gây ra.
Thứ nhất, đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án quân sự.
BLTTHS năm 2003 không có điều nào quy định cụ thể về các đối tượng thuộc thẩm
quyền xét xử của Tòa án quân sự nhưng các đối tượng này lại được quy định chi tiết tại
Điều 3 Pháp lệnh tổ chức tòa án quân sự 2002 và Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLTTANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA hướng dẫn về thẩm quyền xét xử Tòa án quân sự. Đó
là những người phạm tội là quân nhân, những người có nghề nghiệp hoặc nghĩa vụ quân
sự như quân nhân tại ngũ, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng, quân nhân dự
bị trong thời gian tập trung huấn luyện, diễn tập hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng động
2.3, Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ.
Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ được phân định căn cứ vào nơi tội phạm được
thực hiện và nơi kết thúc điều tra vụ án.
Khoản 1 Điều 171 BLTTHS quy định: “Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình
sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện
tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có
thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra”. Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ
án hình sự là Tòa án nơi có tội phạm xẩy ra. Đối với các tội phạm kéo dài hoặc tội phạm
liên tục, khi hành vi phạm tội trong khoảng thời gian khác nhau và địa điểm khác nhau
7
thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc hành vi phạm tội. Trong trường
hợp không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa
án nơi kết thúc việc điều tra.
Khoản 2 Điều 171 quy định: “Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt
Nam thì do Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét
xử. Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tùy
trường hợp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Tòa án nhân dân
thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử.
Bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì do
Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân
sự trung ương”.
Theo quy định trên thì bất kì loại tội phạm nào được thực hiện ở nước ngoài mà
xác định được nơi cư trú cuối cùng thì đều do Tòa án nhân dân tỉnh đó xét xử, Tòa án
cấp huyện không có thẩm quyền xét xử. Sở dĩ, chỉ cơ quan tiến hành tố tụng cấp tỉnh
mới đủ chuyên môn, cơ sở vật chất đáp ứng giải quyết các vụ án có yếu tố nước ngoài,
đảm bảo cho các hoạt động tố tụng ở nước ngoài, các quan hệ với các cơ quan tố tụng ở
nước ngoài trong ủy thác hoạt động tư pháp, trong tương trợ hoạt động tư pháp, trong
án phải do chánh án tòa án quyết định.
Trong khi phiên tòa đang diễn ra mới phát hiện vụ án không thuộc thẩm quyền
xét xử của Tòa án đang xét xử thì Tòa án đó tiếp tục xét xử vụ án trừ hai trường hợp: vụ
án đang xét xử thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp trên hoặc vụ án thuộc thẩm
quyền xét xử của Tòa án quân sự; và việc chuyển vụ án do Hội đồng xét xử quyết định.
Như vậy, pháp luật cho phép vi phạm thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ nhưng không
cho phép Tòa án cấp dưới vi phạm thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp trên và Tòa án
nhân dân vi phạm thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự. Quy định này đảm bảo cho
việc xét xử diễn ra hiệu quả hơn, linh hoạt trong việc khắc phục sai sót của Tòa án, nếu
vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án này mà việc xét xử lại được tiến hành bởi một Tòa
9
án ngang cấp khác và việc xét xử đó không làm ảnh hưởng gì đến kết quả khách quan
của vụ việc thì việc cứ để cho Tòa án đó xét xử sẽ tránh được những lãng phí, thủ tục
không cần thiết, đảm bảo vụ án được nhanh chóng, kịp thời xét xử từ đó nâng cao hiệu
quả của công tác xét xử cũng như tránh những khó khăn đối với bị can, bị cáo và những
người có liên quan.
II. Thực trạng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về thẩm
quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
1. Thực trạng về việc thực hiện quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án.
1.1, Tình hình chung.
Từ khi quy định mới về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được ban hành
ngành Tòa án nước ta đã thu được những thành công nhất định trong hoạt động tố tụng
hình sự nói chung và trong công tác xét xử nói riêng.
Tính từ khi được giao thẩm quyền xét xử mới về hình sự đến ngày 31/12/2007,
các Tòa án được giao thẩm quyền mới này thụ lí được 71.618 vụ hình sự với 112.203 bị
hành còn chưa đầy đủ, nhiều vấn đề còn chưa được đề cập tới, thiếu tính logic, tính hợp
lí, nhiều quy định không rõ ràng dẫn đến có nhiều cách áp dụng và gây lúng túng trong
công tác xét xử; tạo ra nhiều lỗ hổng làm cho pháp luật không theo kịp những đổi mới
của đời sống xã hội và giảm hiệu quả trong công tác phòng chống tham nhũng, hiện
tượng lách luật thường xuyên diễn ra.
Thứ nhất, khoản 2 Điều 170 quy định Tòa án nhân dân tỉnh và Tòa án quân sự
quân khu có thẩm quyền xét xử: “…những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp
dưới mà mình lấy lên để xét xử.” Khi đọc những từ diễn đạt một điều luật mà có cảm
giác như là văn nói, từ “mình” được sử dụng có thể nói là không hợp lí, nó dễ gây cho
người đọc có cảm giác quy định mang tính chủ quan hơn chứ không phải là khách quan.
Hơn nữa, quy định này không chỉ cụ thể những vụ án như thế nào thì Tòa án cấp trên có
quyền lấy lại từ Tòa án cấp huyện để xét xử và cũng không có văn bản nào hướng dẫn
11
thi hành. Trên thực tế, các Tòa án thường căn cứ vào Thông tư liên ngành số 02/TTLN
ngày 12/1/1989 của TANDTC; nhưng văn bản này đã hết hiệu lực. Đây là một lỗ hổng
trong quy định pháp luật dẫn đến những khó khăn, vướng mắc, thiếu thống nhất giữa
các cơ quan tiến hành tố tụng, nhiều Tòa án áp dụng tùy tiện, thiếu tính khách quan.
Thứ hai, Điều 171 quy định về việc phân định thẩm quyền theo lãnh thổ. Hiện
nay, các cơ quan tiến hành tố tụng đang rất lúng túng trong việc xác định thẩm quyền
xét xử vụ án có yếu tố nước ngoài. Khoản 2 Điều 171 chỉ quy định về vụ án xẩy ra ở
nước ngoài mà không quy định những vụ án khác có yếu tố liên quan đến nước ngoài
như bị can, bị cáo, người bị hại là người nước ngoài; trường hợp tội phạm vừa phạm tội
ở nước ngoài vừa phạm tội ở trong nước…
Đoạn 2 khoản 2 Điều 171 quy định: “Bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu thuộc
thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì do Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên xét
xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân sự trung ương”. Từ “trở lên” trong câu
này không được sử dụng chính xác; nếu xét kĩ chúng ta sẽ thấy có một mâu thuẫn trong
quy định này với quy định chung về cấp xét xử sơ thẩm. Theo quy định của pháp luật
xử tránh xẩy ra sự tùy tiện trong công tác xét xử, không đánh giá được hết tính chất của
một vụ án mà việc lấy lên xét xử là cần thiết; thiếu đồng nhất trong việc áp dụng điều
luật giữa các Tòa án. Nên để cho Tòa án cấp huyện có quyền tự quyết vụ việc nào thì
cần đến sự xét xử của Tòa án cấp trên, vì chỉ có chính Tòa án cấp huyện khi nghiên cứu
vụ việc mới thấy hết được tính chất phức tạp của vụ việc và khi thấy mình không đủ
điều kiện để giải quyết thì được yêu cầu Tòa án cấp trên xem xét lấy lên xét xử. Từ
“mình” trong cụm từ: “…những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới mà mình
lấy lên để xét xử.” quy định tại khoản 2 Điều 170 nên được bỏ đi để giọng điệu của điều
luật mang tính chất khách quan hơn. Góp ý sửa như sau: “…những vụ án thuộc thẩm
quyền của Tòa án cấp dưới mà Tòa án lấy lên để xét xử”.
Thứ hai, phải xác định lại các cấp Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự trong hệ thống Tòa án. Quy định tại khoản 1 Điều 170 đã hạn chế thẩm quyền
xét xử của Tòa án cấp huyện, không còn phù hợp với trình độ, cơ sở vật chất của đa số
13
Tòa án cấp huyện hiện nay nữa. Nhiều Tòa án cấp huyện có khả năng xét xử tốt các tội
phạm quy định ở Điều luật này như tội xâm phạm an ninh quốc gia thuộc tội ít nghiêm
trọng, tội nghiêm trọng hoặc các tội tại Điều 93, 95, 96, 222, 224, 225, 226, 293, 294,
295, 296, 322 và 323. Nếu mở rộng hơn phạm vi thẩm quyền xét xử sơ thẩm cho Tòa án
cấp huyện thì sẽ tận dụng, phát huy được nguồn nhân lực và cơ sở vật chất; tránh lãng
phí, tồn đọng án ở Tòa án cấp tỉnh.
Thứ ba, nên quy định riêng giữa thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân
dân với Tòa án quân sự để tránh mâu thuẫn trong cách phân định giữa BLTTHS với
Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng xét xử; hạn chế
các hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm, tranh chấp về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự; hơn nữa, ảnh hưởng tới lợi ích của bị can, bị cáo và những người liên quan.
Thứ tư, Điều 171 cần quy định đầy đủ, chi tiết hơn các trường hợp vụ việc có
yếu tố nước ngoài, quy định rõ thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án đó tránh tình trạng
quyền của Tòa án cùng cấp hoặc cấp dưới thì không phải chuyển. Nếu vụ án thuộc thẩm
quyền của Tòa án quân sự hoặc Tòa án cấp trên thì vụ án đã được đưa ra xét xử vẫn
phải chuyển cho Tòa án có thẩm quyền. Trong trường hợp này, việc chuyển vụ án do
Hội đồng xét xử quyết định.”
Thứ tám, cần phải có một quy định cụ thể về trình tự, thủ tục chuyển vụ án hình
sự tránh sự tùy tiện, thiếu thống nhất trong việc chuyển vụ án ở các Tòa án khác nhau.
Nên quy định khi Tòa án nhận thấy vụ án hình sự không thuộc thẩm quyền xét xử của
mình thì trả lại cho Viện kiểm sát để Viện kiểm sát chuyển cho Viện kiểm sát đúng thẩm
quyền tránh tình trạng “chuyển” “trả” lẫn lộn không theo một trình tự, thủ tục chung
nào.
Ngoài ra, để có hiệu quả hơn trong công tác xét xử thì ngoài việc phải có những
quy định phù hợp về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự còn phải hoàn thiện toàn
bộ hệ thống cơ quan tố tụng hình sự. Đồng thời nâng cao trình độ năng lực của đội ngũ
cán bộ hoạt động trong các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và cơ quan xét xử nói
riêng; củng cố, nâng cấp chất lượng cơ sở vật chất; ứng dụng các khoa học tiên tiến vào
15
công tác điều tra, xét xử vụ án hình sự. Mặt khác, để đạt được kết quả cao nhất cũng cần
đến việc hoàn thiện các luật liên quan.
Lời kết
Những quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2003 có nhiều điểm tiến bộ hơn, mở rộng hơn Bộ luật tố tụng hình sự
năn1988. Từ khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có hiệu lực ngành Tòa án đã có
những thành công đáng kể, giảm tỉ lệ án tồn đọng đáng kể, số lượng vụ án xét xử phúc
thẩm, số lượng vụ án sử oan sử sai cũng giảm đi rõ rệt. Các cấp xét xử có điều kiện
phát huy khả năng của mình, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực và cơ sở vật chất kĩ
thuật. Tuy nhiên, còn khá nhiều hạn chế cần phải sửa đổi, bổ sung trong các quy định