Thực tiễn phân định biên giới trên bộ giữa Việt Nam với Trung Quốc
A:Đặt Vấn Đề:
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có nhiều vùng giáp danh cả
trên bộ lẫn trên biển, nên vấn đề phân định biên giới là vấn đề hết sức nhạy cảm
nhưng cũng rất quan trọng cần phải được tiến hành kịp thời và chính xác để thuận
lợi cho việc sinh sống cũng như buôn bán thông thương giữa hai nước.Nhận thức
được vấn đề quan trọng đó hai nước đã tiến hành phân định biên giới giữa hai
nước.Qua nhiều lần thương lượng, trên cơ sở hợp tác hữu nghị, tôn trọng chủ
quyền của nhau cuối cùng nước ta và Trung Quốc đã ký thành công hiệp ước phân
định đường biên giới.Chúng ta hãy cùng nhìn lại chặng đường mà nước ta và
Trung Quốc đã đi qua để có được đường biên giới như ngày nay,và cũng là để thấy
được “ Thực tiễn phân định biên giới trên bộ giữa Việt Nam với Trung Quốc” như thế nào.
B:Giải Quyết Vấn Đề:
I:Lý luận chung:
1:Các khái niệm:
*) Khái niệm Đường Biên Giới:
“Đường biên giới là đường xác định giới hạn phạm vi chủ quyền của một quốc
gia đối với vùng đất và lòng đất phía dưới; vùng biển, đáy biển, lòng đất dưới đáy
vùng biển đó và khoảng không chiếu thẳng từ vùng đất và vùng biển đó. Biên giới
quốc gia bao gồm biên giới trên đất liền, biên giới trên biển, biên giới trên không”.
*) Khái niệm Biên giới trên bộ: Là đường biên giới xác định trên đất liền, trên
đảo, trên song ,hồ , kênh, biển nội địa ...Biên giới trên bộ phổ biến được quy định
trong các điều ước quốc tế giữa các nước hữu quan ( trừ một số trường hợp ngoại
Vũ Anh Hoàng_MsSv:hs32c064
Page 1
Thực tiễn phân định biên giới trên bộ giữa Việt Nam với Trung Quốc
Như vậy, hoạch định biên giới là quá trình các bên cùng thỏa thuận xác định
phương hướng, tính chất của đường biên giới trên văn bản điều ước, kèm theo các
tài liệu cần thiết và bản đồ miêu tả chi tiết đường biên giới theo thỏa thuận.
Tóm lại, đây là giai đoạn thực hiện các hoạt động pháp lý nhằm thống nhất các
nguyên tắc xác định biên giới và lụa chọn các yếu tố tạo nên một đường biên giới
hoàn chỉnh.
*) Phân giới và cắm mốc thực địa: Phân giới là quá trình thực địa hóa đường
biên giới trong hiệp định. Đây là công việc mang tính vật chất, cụ thể để đưa
đường biên giới được hoạch định trong văn bản và bản đồ ra thực địa, cố định nó
bằng mốc dấu quốc giới với các phương pháp đo đặc chính xác.Sau khi ký hiệp
định phân định hoạch định biên giới nên tiến hành ngay giai đoạn phân giới cắm
mốc,việc cắm mốc có thể tiến hành theo phương pháp cuốn chiếu( phân giới đến
đâu cắm mốc đến đó) hoặc phân giới xong mới thực hiện cắm mốc.
Các mốc dấu hiệu biên giới đóng vai tró là cơ sở để xác định vị trí, hướng đi
của đường biên giới trên thực địa. Vì thế, yêu cầu mức độ chính xác của các mốc
dấu rất cao hai bên phải cùng làm. Căn cứ vào địa hình cụ thể cột mốc biên giới
thường đặt tại:
- Mỗi cửa khẩu;
- Các điểm chuyển hướng trọng yếu của đường biên giới, ở đỉnh núi, chân núi
hoặc các địa điểm quan trọng ;
- Các điểm trên đường quốc lộ, đường sắt , sông , suối mà đường biên giới cắt
ngang qua....
Đối với mỗi cột mốc được xây dựng, đều phải lập hồ sơ cột mốc. Mỗi khi cần
sửa chữa thay đổi,hay hủy bỏ...đều phải do hai bên thỏa thuận, nhưng không được
Vũ Anh Hoàng_MsSv:hs32c064
Page 3
Page 4
Thực tiễn phân định biên giới trên bộ giữa Việt Nam với Trung Quốc
a.Đàm phán lần 1:Đàm phán về biên giới Việt - Trung lần thứ nhất chỉ được
bắt đầu tại Bắc Kinh ngày 15/8/1974.
b.Đàm phán lần 2:Cuộc đàm phán lần thứ hai diễn ra từ 7/10/1977 đến tháng
6/1978.
c.Đàm phán lần 3:Đàm phán lần thứ ba được nối lại tại Hà Nội từ ngày
18/4/1979. Phía Việt Nam đã đưa ra đề nghị 3 điểm, trong đó điểm 3 nêu rõ: "Việc
giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ giữa hai nước tuân theo nguyên tắc tôn
trọng nguyên trạng đường biên giới do lịch sử để lại và đã được hoạch định bởi các
Công ước 1887 và 1895 do Chính phủ Pháp và nhà Thanh ký, và đã được phía Việt
Nam và phía Trung Quốc đồng ý chấp nhận".
d.Đàm phán lần 4:
Sau khi bình thường hoá quan hệ, đàm phán về biên giới lãnh thổ giữa Việt
Nam - Trung Quốc lần thứ tư bắt đầu từ tháng 10/1992. Ngày 19/10/1993, hai đoàn
đàm phán Chính phủ đã ký Thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn
đề biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam – Trung Quốc, phần nói về biên giới trên bộ
quy định: "Hai bên đồng ý căn cứ vào Công ước hoạch định biên giới ký giữa
Trung Quốc và Pháp ngày 26 tháng 6 năm 1887 và Công ước bổ sung Công ước
hoạch định biên giới ngày 20 tháng 6 năm 1895 cùng các văn kiện và bản đồ hoạch
định và cắm mốc biên giới kèm theo đã được Công ước và Công ước bổ sung nói
trên xác nhận hoặc quy định, cũng như các mốc quốc giới cắm theo quy định, đối
chiếu xác định lại toàn bộ đường biên giới trên bộ giữa hai nước Việt Nam - Trung
Quốc".
Đàm phán lần thứ tư là cuộc đàm phán dài nhất (7 năm) trên nhiều diễn đàn
(cấp Chính phủ - 6 vòng, cấp chuyên viên - 16 vòng, không kể các vòng cấp kỹ
sung Công ước hoạch định biên giới ngày 20/06/1895 ký kết giữa Pháp và nhà
Vũ Anh Hoàng_MsSv:hs32c064
Page 6
Thực tiễn phân định biên giới trên bộ giữa Việt Nam với Trung Quốc
Thanh (Trung Quốc). Địa hình dọc đường biên giới chủ yếu là đồi núi cao và sông
suối, trong đó có gần 400km đường biên giới đi theo sông suối.
Trong hơn 100 năm qua kể từ khi các Công ước Pháp – Thanh được ký kết,
đường biên giới giữa hai nước đã trải qua nhiều biến đổi trên thực địa do thời tiết
và do biến động về chính trị - xã hội ở mỗi nước cũng như trong quan hệ hai nước,
đặc biệt là cuộc chiến tranh biên giới 1979. Từ nhận thức khác nhau về hướng đi
của đường biên giới, tình hình tranh chấp căng thẳng ở các khu vực biên giới diễn
ra khá phổ biến.
Thực tế cho thấy, việc hoạch định biên giới giữa Pháp và nhà Thanh được xúc
tiến hơn 100 năm trước với phương tiện và điều kiện hạn chế lúc đó nên lời văn và
bản đồ không được đầy đủ, rõ ràng, chính xác. Các cột mốc biên giới được cắm từ
cuối thế kỷ 19 không được xác định bằng lưới tọa độ; mặt khác, cùng với thời gian
nhiều mốc đã bị hư hỏng, thậm chí bị mất, một số mốc bị xê dịch; nhiều mảnh bản
đồ gốc cũng không còn, tại nhiều khu vực trên đường biên giới đã xảy ra sự chuyển
dịch dân cư không phù hợp với đường biên giới pháp lý. Vì những lẽ đó, việc nảy
sinh những nhận thức khác nhau, thậm chí tranh chấp là điều dễ hiểu.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên và với mục tiêu xác định lại chính xác đường
biên giới để quản lý tốt hơn, tránh xảy ra các vụ tranh chấp ảnh hưởng đến quan hệ
hữu nghị hai nước, ngay sau khi bình thường hoá quan hệ tháng 11/1991, hai bên
đã thoả thuận đàm phán, ký kết Hiệp ước mới thay cho các Công ước Pháp - Thanh
và sau đó tiến hành phân giới, cắm mốc trên thực địa.
thức khác nhau ở 289 khu vực với tổng chiều dài khoảng 450km (chiếm 31%) với
diện tích khoảng 232km2.
Vũ Anh Hoàng_MsSv:hs32c064
Page 8
Thực tiễn phân định biên giới trên bộ giữa Việt Nam với Trung Quốc
Ngày 30/12/1999, tại Hà Nội, thay mặt Nhà nước hai nước, Phó Thủ tướng
kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm và Bộ trưởng Ngoại giao Trung
Quốc Đường Gia Triền đã ký Hiệp ước về biên giới đất liền Việt Nam – Trung
Quốc, đặt nền tảng cho việc xây dựng đường biên giới hòa bình, ổn định lâu dài
giữa hai nước.
Hiệp ước 1999 đã ghi nhận toàn bộ hướng đi của đường biên giới từ Tây sang
Đông và kết quả giải quyết 289 khu vực có nhận thức khác nhau. Theo đó: khoảng
114,9 km2 thuộc Việt Nam; khoảng 117,2km2 thuộc Trung Quốc. Chỉ còn bốn (04)
khu vực hai Bên chưa giải quyết được (ba khu vực ở Cao Bằng, trong đó có khu
vực thác Bản Giốc) và khu vực cửa sông Bắc Luân (bản đồ đính kèm Hiệp ước chỉ
thể hiện nét đứt). Hai Bên thoả thuận sẽ giải quyết các khu vực này trong quá trình
phân giới, cắm mốc.
Hiệp ước 1999 là sự kiện quan trọng có ý nghĩa to lớn trong lịch sử quan hệ
Việt Nam - Trung Quốc. Đặc biệt, Hiệp ước 1999 là cơ sở pháp lý cho việc phân
giới, cắm mốc trên biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc.
Tuy nhiên, Hiệp ước 1999 mới chỉ xác định đường biên giới bằng lời văn và
trên bản đồ. Để thực thi chủ quyền quốc gia, tiến hành bảo vệ và quản lý lãnh thổ
trên thực địa, hai Bên cần tiến hành phân giới, cắm mốc, chuyển đường biên giới từ
lời văn trong Hiệp ước và bản đồ ra thực địa, cùng nhau xác định, đánh dấu rõ ràng
từng vị trí cột mốc, vạch ra đường biên giới chính xác trên thực địa.
theo phương châm “dễ trước, khó sau”. Nhờ đó, công tác phân giới, cắm mốc có
tiến triển nhanh hơn. Hết năm 2006, hai Bên đã xác định được gần 70% vị trí mốc
giới. Tuy nhiên, sang đầu năm 2007 tốc độ phân giới, cắm mốc chậm lại do các khu
vực tồn đọng đều là các khu vực nhạy cảm, có lịch sử tranh chấp lâu đời, đã qua
nhiều vòng đàm phán nhưng chưa giải quyết được.
Vũ Anh Hoàng_MsSv:hs32c064
Page 10
Thực tiễn phân định biên giới trên bộ giữa Việt Nam với Trung Quốc
Trước tình hình đó, hai Bên đã đưa ra nhiều biện pháp đẩy nhanh tiến độ phân
giới, cắm mốc, thỏa thuận giải quyết các vấn đề còn tồn đọng theo phương thức “cả
gói”, trên cơ sở các nguyên tắc:
i) Căn cứ pháp lý Hiệp ước năm 1999 và bản đồ đính kèm.
ii) Giải quyết tất cả các khu vực trong “gói” theo cùng một tiêu chí.
iii) Công bằng, hợp tình, hợp lý; cân bằng về lợi ích, hai Bên đều chấp nhận
được.
iv) Biên giới đi qua tất cả mốc cũ và các dấu tích lịch sử.
v) Giảm thiểu tối đa tác động đến đời sống dân cư.
Trong quá trình giải quyết cụ thể, hai Bên đã nhất trí chia các khu vực tồn đọng
thành nhiều “gói”, mỗi “gói” giải quyết theo một số tiêu chí nhất định. Hai Bên đặc
biệt quan tâm đến các gói: “cửa khẩu”, “mốc cũ Pháp - Thanh” và gói “thác Bản
Giốc và cửa sông Bắc Luân”.
Suốt 8 năm qua, hai Bên đã cùng nhau cố gắng giải quyết các vấn đề trên thực
địa và trong đàm phán trên tinh thần thông cảm và chiếu cố đến mối quan tâm của
nhau nhằm tìm ra một giải pháp công bằng, phù hợp với lời văn và tinh thần của
Hiệp ước 1999. Hai Bên đã tiến hành 13 vòng đàm phán cấp Chính phủ về biên
bản theo đúng đường biên giới trong Hiệp ước 1999. Đối với một số nơi, hai Bên
cùng điều chỉnh theo nguyên tắc cân bằng về lợi ích và diện tích nhằm tạo thuận lợi
cho công tác quản lý và không gây xáo trộn đối với cuộc sống của cư dân biên giới.
Trong các khu vực hai Bên có ý kiến khác nhau thì các cửa khẩu, khu vực thác
Bản Giốc và cửa sông Bắc Luân, v.v… là những khu vực hết sức phức tạp và nhạy
cảm đối với dư luận hai nước và quốc tế. Đây là những khu vực hai Bên đã đàm
phán qua rất nhiều vòng và đến những phút cuối cùng mới đạt tới giải pháp hai Bên
Vũ Anh Hoàng_MsSv:hs32c064
Page 12
Thực tiễn phân định biên giới trên bộ giữa Việt Nam với Trung Quốc
cùng chấp nhận được. Cụ thể là:
- Tại cửa khẩu Hữu Nghị, đường biên giới đi qua Km0, mốc 19 cũ của Pháp và
cách điểm nối ray 148 mét về phía Bắc, đúng theo bản Ghi nhận chung giải quyết
các khu vực C;
- Tại một số cửa khẩu khác, đường biên giới đều đi qua các mốc cũ từ thời Pháp
- Thanh: tại cửa khẩu Chi Ma, đường biên giới đi qua mốc cũ số 44; tại cửa khẩu
Tân Thanh, đường biên giới đi theo một đường thẳng qua mốc cũ số 15; tại cửa
khẩu Pò Peo, đường biên giới đi theo bức tường đá qua mốc cũ số 72 và qua một
chòi quan sát của Trung Quốc trên đỉnh núi; tại cửa khẩu Trà Lĩnh đường biên giới
đi theo phía Nam con đường của Trung Quốc; Trung Quốc giữ lại hàng cây, Ta giữ
được hầu hết đất canh tác, nguồn nước và khu nghĩa địa của dân.
- Tại khu vực Hoành Mô, đường biên giới đi giữa ngầm Hoành Mô theo như
thực tế quản lý.
- Đối với hai khu dân cư tại Hà Giang và Lạng Sơn, trên cơ sở giảm thiểu tối đa
tác động đến khu dân cư, hai bên đã nhất trí điều chỉnh đường biên giới trên cơ sở
địch cố tình xuyên tạc.
*)Những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phân giới, cắm mốc:
Phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc là một công
trình trọng điểm quốc gia, nội dung liên quan đến nhiều ngành, chuyên ngành kỹ
thuật, pháp lý, quản lý, bảo vệ… của các bộ, ngành ở Trung ương và 7 tỉnh địa
phương biên giới. Trong quá trình triển khai vừa có những thuận lợi, vừa có những
khó khăn.
Thuận lợi:
Vũ Anh Hoàng_MsSv:hs32c064
Page 14
Thực tiễn phân định biên giới trên bộ giữa Việt Nam với Trung Quốc
- Công tác phân giới, cắm mốc nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của
Lãnh đạo Đảng và Nhà nước hai nước. Về phía ta, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Thủ
tướng Chính phủ đã triệu tập nhiều cuộc họp để nghe báo cáo tình hình và cho ý
kiến chỉ đạo các cuộc đàm phán. Nhiều đồng chí Lãnh đạo cấp cao đã trực tiếp lên
khảo sát thực địa nhiều lần để nắm tình hình và động viên các lực lượng phân giới,
cắm mốc.
- Các lực lượng phân giới, cắm mốc giữa Ta và Trung Quốc đã có sự phối hợp
tương đối tốt. Hai Bên đều cố gắng tạo điều kiện thuận lợi cho các Nhóm phân giới,
cắm mốc của mỗi bên triển khai công tác trên thực địa như cho mượn đường ở
những nơi một bên có khó khăn về giao thông; đơn giản hóa các thủ tục xuất nhập
cảnh cho người và phương tiện tham gia công tác phân giới, cắm mốc…
- Các bộ, ngành và địa phương liên quan của Ta đều nhận thức rõ và có ý thức
trách nhiệm rất cao đối với công việc được giao; đã luôn phối hợp nhịp nhàng để
cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ phân giới, cắm mốc. Đặc biệt, trong quá trình
có quan hệ dòng tộc lâu đời, việc qua lại thăm thân, làm ăn diễn ra tương đối
thường xuyên. Có những khu vực bên này quản lý quá sang biên kia và ngược lại.
Số mộ chí mai táng sang nhau khá lớn.
- Công tác phân giới, cắm mốc trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc chủ yếu
được thực hiện ở những nơi có điều kiện địa hình hết sức phức tạp, độ chia cắt lớn
(núi cao, đèo dốc hiểm trở), điều kiện khí hậu, thời tiết hết sức khắc nghiệt (lũ quét;
lũ ống, v.v…), cơ sở hạ tầng yếu kém (nhiều nơi không có đường giao thông; xa
khu dân cư). Có những nơi, Nhóm phân giới, cắm mốc phải đi bộ 3 - 4 ngày mới
vào được khu vực đóng trại để thực hiện công tác song phương; các cột mốc (mốc
đại nặng tới 950 kg, mốc trung nặng 500 kg và mốc tiểu nặng 300 kg), vật liệu xây
dựng, lương thực, máy móc thiết bị... phần lớn đều phải vận chuyển bằng sức người
đến vị trí mốc giới.
Vũ Anh Hoàng_MsSv:hs32c064
Page 16
Thực tiễn phân định biên giới trên bộ giữa Việt Nam với Trung Quốc
- Phân giới, cắm mốc đối với Ta là công việc tương đối mới mẻ, chưa có kinh
nghiệm nên phải vừa làm vừa học. Hơn thế nữa, tại nhiều khu vực biên giới vẫn
còn bom mìn, vật cản từ thời chiến tranh để lại. Vì vậy, trong 8 năm phân giới, cắm
mốc đã có 3 đồng chí hy sinh, 35 đồng chí bị thương vì bom, mìn; 01 đồng chí hy
sinh, 02 đồng chí bị thương do tai nạn trên đường biên.
4. Ý Nghĩa của Việc Hoàn Thành Phân Giới Cắm Mốc:
Một là, việc hoàn thành phân giới, cắm mốc đường biên giới trên đất liền, Ta đã
giải quyết dứt điểm được hai trong ba vấn đề lớn do lịch sử để lại trong quan hệ
Việt Nam - Trung Quốc. Điều này chứng tỏ hai Đảng Cộng sản, hai Nhà nước xã
hội chủ nghĩa hoàn toàn có đủ khả năng để giải quyết mọi bất đồng bằng biện pháp
Trong thời gian tới nước ta và Trung quốc cần thực hiện những công việc sau:
-Soạn thảo, biên tập và ký kết Nghị định thư phân giới, cắm mốc và bản đồ
đính kèm (đây là công việc có khối lượng rất lớn, khoảng 4.000 trang văn bản, bản
đồ).
-Soạn thảo và ký kết Hiệp định về quy chế quản lý biên giới.
-Soạn thảo và ký kết Hiệp định về quản lý cửa khẩu.
-Soạn thảo và ký kết Hiệp định về hợp tác khai thác tài nguyên du lịch thác
Bản Giốc.
-Soạn thảo và ký kết Hiệp định quy định chi tiết việc quản lý đi lại tại khu vực
cửa sông Bắc Luân.
Vũ Anh Hoàng_MsSv:hs32c064
Page 18
Thực tiễn phân định biên giới trên bộ giữa Việt Nam với Trung Quốc
C: KẾT THÚC VẤN ĐỀ:
Việc hoàn thành toàn bộ công tác phân giới, cắm mốc trên biên giới đất liền
Việt Nam - Trung Quốc là sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại trong quan hệ Việt
Nam - Trung Quốc. Lần đầu tiên trong lịch sử, hai nước xác định được một đường
biên giới rõ ràng trên đất liền với một hệ thống mốc giới hiện đại, đặt nền tảng
vững chắc cho việc xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định lâu dài,
hợp tác và phát triển giữa hai nước, mở ra một trang mới trong lịch sử quan hệ Việt
Nam - Trung Quốc.
Vũ Anh Hoàng_MsSv:hs32c064
Page 19