Hà Nội - 2013
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU…………………………………………………
………………………1
NỘI DUNG CHÍNH……………………………………
……………………….1
I, Vấn đề khai thác chung trong luật quốc tế…… ……………………….
………1
II, Những vấn đề pháp lý và thực tiễn về hợp tác khai thác chung giữa
Việt Nam với Trung Quốc trong Vịnh Bắc bộ…………….
………………… ………………1
1
a, Những văn bản pháp lý về hợp tác khai thác chung giữa Việt Nam với
Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ…………………………………….
……………………………….2
b, Thực tiễn hợp tác khai thác chung giữa Việt Nam và Trung Quốc trong
Vịnh Bắc Bộ…………………………………………………………….
…………………………4
KẾT LUẬN………………………………………………………… …….
…………4
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………
……………… 5
2
MỞ ĐẦU
Căn cứ vào các quy định của Công Ước Luật Biển 1982 thì Việt
Nam và Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ tồn tại vùng biển chồng lấn. Đây
là một trong những vịnh lớn của thế giới,với diện tích khoảng
126.250km
2
, có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam và Trung
cá chung vịnh Bắc Bộ vào ngày 29/4/2004. Việc kí nghị định thư bổ sung
Hiệp định hợp tác nghề cá vịnh Bắc Bộ và Quy định về bảo tồn và quản lý
nguồn lợi thủy sản trong vùng đánh cá chung vinh Bắc Bộ đã tạo điều kiện
cho việc hai nước tiến hành các thủ tục hoàn tất việc phê chuẩn Hiệp định
phân định vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá. Hai hiệp định này
chính thức có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 6 năm 2004.
Hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và
Trung Quốc được hai nước ký ngày 25-12-2000 và phê chuẩn ngày 30-6-
5
2004 (cùng với Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ); có 7 phần, 22 Điều và
Nghị định thư bổ sung; gồm những nội dung chủ yếu sau:
Các quy định chung: Hiệp định này áp dụng cho một phần vùng đặc
quyền kinh tế và một phần vùng giáp giới lãnh hải của hai nước trong Vịnh
Bắc Bộ (gọi tắt là Vùng nước Hiệp định). Hai nước cam kết các nguyên tắc
chỉ đạo tiến hành hợp tác nghề cá trong Vùng nước Hiệp định trên cơ sở tôn
trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của nhau; việc hợp tác
nghề cá không ảnh hưởng đến chủ quyền lãnh hải của mỗi nước và các
quyền lợi khác mà mỗi bên ký kết được hưởng trong vùng đặc quyền kinh tế
của mình.
Vùng đánh cá chung: Hiệp định quy định, vùng đánh cá chung là khu
vực dưới vĩ tuyến 20
0
0 Bắc, có vùng lõm của đảo Bạch Long Vĩ, có bề rộng
chung là 30,5 hải lý tính từ Đường phân định về mỗi phía ra đến đường đóng
cửa Vịnh ở phía Nam, có diện tích 33.500 km
2
; được giới hạn bằng 16 điểm
tọa độ địa lý (xem sơ đồ). Thời hạn của vùng đánh cá chung là 15 năm (12
năm chính thức và 3 năm gia hạn). Trong vùng nước của vùng đánh cá
chung thuộc vùng đặc quyền kinh tế của bên nào thì bên đó có quyền kiểm
Số lượng tàu cá được phép hoạt động ở vùng Dàn xếp quán độ trong
năm đầu tiên khi Hiệp định hợp tác nghề cá có hiệu lực là 920 tàu. Số tàu nói
trên được cắt giảm hàng năm là 25% (230 tàu) và sau 4 năm tàu cá của mỗi
bên sẽ rút hết khỏi vùng dàn xếp quá độ thuộc phần biển bên kia. Nghị định
thư bổ sung được thực hiện thông qua cơ chế Ủy ban liên hợp nghề cá vịnh
Bắc Bộ Việt–Trung. Mọi tranh chấp phát sinh giữa hai bên kí kết về việc giải
thích hoặc áp dụng Nghị định thư bổ sung sẽ giải quyết thông qua Hiệp
thương hữu nghị.
Căn cứ trên các nội dung đã được ký kết này, từ nay ngư dân hai quốc
gia sẽ được đánh cá trên hai vùng đánh cá chung và vùng quá độ đã được
8
phân định rõ ràng. Nghị định này cũng qui định các thuyền nhỏ chỉ được qua
lại tại khu cửa sông Bắc Luân.
Ngoài Hiệp định Hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ và Nghị định thư
bổ sung Hiệp định Hợp tác nghề cá, hai nước còn ký kết Quy định về bảo
tồn và quản lý nguồn thủy sản trong vùng đánh cá chung; tạo cơ sở pháp lý
cho việc bảo tồn, quản lý, khai thác bền vững nguồn thủy sản và giữ gìn an
ninh trật tự trong vùng đánh cá chung. Về tổng thể, các thỏa thuận đạt được
trong quá trình đàm phán và được thể hiện trong hai bản Hiệp định là thỏa
đáng, đáp ứng lợi ích và nguyện vọng của cả hai bên. Các Hiệp định đó là
kết quả của quá trình đàm phán lâu dài, thể hiện nỗ lực, thiện chí và tính đến
sự quan tâm, nhân nhượng từ cả hai phía
b, Thực tiễn hợp tác khai thác chung giữa Việt Nam và Trung Quốc
trong vịnh Bắc Bộ
Sau một thời gian thực hiện hiệp định này, chúng ta đã đạt được những
kết quả như mong đợi: số vụ vi phạm của ngư dân Trung Quốc đã có chiều
hướng giảm; Các địa phương ven biển vịnh Bắc Bộ đã tích cực phối hợp
cùng các bộ ngành Trung ương trong việc tập huân, tuyên truyền nội dung và
chỉ đạo việc thực hiện các Hiệp định; Việc cấp phép được triển khai hết sức
9
11