Một số vấn đề pháp lý và thực tiễn về quản lý vốn nhà nước trong các doanh nghiệp việt nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN
VỀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN VĂN QUANG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. VŨ ĐẶNG HẢI YẾN

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn
của TS.Vũ Đặng Hải Yên. Những ý kiến, nhận định khoa học của người khác đều được
ghi chú xuất xứ rõ ràng, đầy đủ.
Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nào của các tác giả khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính trung thực, chuẩn xác của nội dụng
luận văn./.

Tác giả

Nguyễn Văn Quang


1.2.3. Vai trò quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp .......................................20
1.2.4. Nội dung quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp ...................................21
1.3. Mô hình quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp ở một số nước trên
thế giới .......................................................................................................................27
1.3.1. Mô hình của Trung Quốc..............................................................................27
1.3.2. Mô hình của Singapore .................................................................................31
1.3.3. Mô hình của New Zealand............................................................................33
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1.............................................................................................36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TRONG
DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY......................................................37
2.1. Thực trạng về quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp ............................37
2.1.1. Quy định về đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong doanh nghiệp............37
2.1.2. Quy định về quản lý, sử dụng vốn nhà nước trong doanh nghiệp ................43
2.1.3. Quy định về phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp có vốn nhà nước .........54


2.2. Thực trạng quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay ......56
2.2.1. Tình hình quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp ...................................56
2.2.2. Tồn tại, nguyên nhân......................................................................................61
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .............................................................................................69
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TRONG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM ........70
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý vốn nhà nước trong doanh
nghiệp ở Việt Nam ....................................................................................................70
3.1.1. Củng cố hệ thống pháp luật về quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp ..70
3.1.2. Bảo đảm phù hợp với nguyên tắc điều chỉnh pháp luật về doanh nghiệp.....71
3.1.3. Đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội ở Việt Nam ........................72
3.1.4. Đảm bảo phù hợp với điều kiện hội nhập quốc tế.........................................73
3.1.5. Xác định mô hình quản lý vốn nhà nước chuyên nghiệp và tập trung..........74
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật quản lý vốn nhà nước trong doanh

nhà nước trong thời gian qua có nhiều bất cập, không phù hợp với thực tiễn và
không mang lại hiệu quả trong việc quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp.
Mặc dù được trao cho những đặc quyền, ưu đãi về vốn, tài nguyên và được bảo hộ
vô điều kiện, nhưng các con số thống kê chính thức cho thấy, đóng góp DNNN góp
vốn đầu tư trong nền kinh tế không đáng kể thậm chí luôn tồn tại nợ xấu. Báo cáo
của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội công bố mới đây cũng khẳng định, yếu kém của
DNNN đã gây tác động tiêu cực lên "bức tranh" nợ xấu. Tính đến cuối 2012, nợ xấu
1


của DNNN (chưa tính Vinashin) chiếm 11,8% tổng nợ xấu của hệ thống tổ chức tín
dụng; ước tính nợ xấu của DNNN khoảng 24.950 tỷ đồng. Con số này chưa bao
gồm nợ xấu của Vinashin tại các tổ chức tín dụng trong nước và nợ đã được cơ cấu
lại theo Quyết định 780/2012/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước. Bên cạnh thực
trạng sử dụng nguồn vốn nhà nước tại DN thì cơ chế, chính sách quản lý DNNN
còn nhiều bất cập như: hệ thống quản trị nội bộ DN chưa đáp ứng được các yêu cầu
quản lý, giám sát hiệu quả sử dụng các nguồn lực được Nhà nước giao; tính tuân thủ
pháp luật, chế độ quản lý tài chính, công khai, minh bạch thông tin của các DN
chưa được quan tâm đúng mức; sự tách bạch giữa nhiệm vụ kinh doanh với nhiệm
vụ công ích của DN chưa rõ ràng; sự phân công, thực thi vai trò đại diện chủ sở hữu
trong DNNN còn phân tán, chồng chéo; quá trình tổ chức, cơ cấu lại khu vực
DNNN tiến hành chậm, kéo dài.
Xuất phát từ thực trạng quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp nêu trên,
tôi quyết định chọn đề tài “Một số vấn đề pháp lý và thực tiễn về quản lý vốn nhà
nước trong các doanh nghiệp Việt Nam” làm đề tài bảo vệ luận văn thạc sĩ,
chuyên ngành Luật kinh tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến quản lý vốn nhà nước ở các doanh nghiệp, đã có nhiều
công trình nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, theo phạm vi nghiên cứu khác
nhau. Cụ thể:

nhiên, những đề tài này chưa đề cập sâu vai trò của người đại diện quản lý phần vốn
nhà nước trong mô hình Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC)
cũng như mối quan hệ giữa chủ sở hữu và quyền kinh doanh của doanh nghiệp, nhất
là trong điều kiện Việt Nam đã gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Nhìn chung, các nghiên cứu nêu trên mới chỉ tiếp cận ở góc độ kinh tế về
quản lý vốn hoặc trong phạm vi một doanh nghiệp cụ thể. Vì vậy, chưa có nghiên
cứu nào đưa ra được bức tranh toàn cảnh về thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn
về quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay. Do đó, trong
toàn bộ quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả đã tiếp cận vấn đề quản lý vốn nhà nước
trong doanh nghiệp theo quy định của pháp luật một cách toàn diện, xuyên suốt hệ
thống các quy định có liên quan, đồng thời so sánh với quy định pháp luật cũ cũng như
của một số nước trên thế giới. Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần hoàn thiện
pháp luật doanh nghiệp, tạo sự đồng bộ về mặt pháp lý cũng như thống nhất trong việc
3


áp dụng các quy định pháp luật về quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp theo quy
định của pháp luật.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn:
Thứ nhất, luận văn làm rõ những vấn đề lý luận khái quát về vốn nhà nước,
thẩm quyền chủ sở nhà nước trong hoạt động quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư
tại doanh nghiệp, phân phối lợi nhuận vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, giám
sát vốn nhà nước trong doanh nghiệp.
Thứ hai, luận văn đánh giá thực trạng pháp luật về quản lý vốn nhà nước
trong doanh nghiệp.
Thứ ba, trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã được nghiên cứu, luận văn đưa ra
định hướng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quản lý vốn nhà nước trong
doanh nghiệp tại Việt Nam.
Nhiệm vụ của luận văn:

pháp luật; từ đó tạo cơ sở cho xã hội ổn định và phát triển.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp lịch sử được sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu quản lý
vốn nhà nước trong doanh nghiệp theo quy định của pháp luật qua các thời kỳ ở
Việt Nam;
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi phân tích các vấn
đề liên quan đến quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp theo quy định của pháp
luật và khái quát những nội dung cơ bản của từng vấn đề được nghiên cứu trong
luận văn;
+ Phương pháp so sánh được thực hiện nhằm tìm hiểu qui định của pháp
luật hiện hành với hệ thống pháp luật trước đây ở Việt Nam cũng như pháp luật của
một số nước khác qui định về quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp. Qua đó,
phân tích nét tương đồng và đặc thù của pháp luật Việt Nam qui định về quản lý
vốn nhà nước trong doanh nghiệp theo quy định của pháp luật, phù hợp với điều
kiện về kinh tế, văn hóa, xã hội và tập quán của Việt Nam;
+ Phương pháp thống kê được thực hiện trong quá trình khảo sát thực tiễn
hoạt áp dụng pháp luật, với các số liệu cụ thể giải quyết các vấn đề từ quan hệ quản
lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Tìm ra mối liên hệ
5


giữa các qui định của pháp luật với thực tiễn áp dụng đã phù hợp hay chưa? Các lý
do? Từ đó mà xem xét nội dung qui định của pháp luật về quản lý vốn nhà nước
trong doanh nghiệp theo quy định của pháp luật, với thực tiễn của đời sống xã hội
nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về vấn đề này.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đâu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp.

lời. Nhưng do vướng phải những hạn chế nhất định về điều kiện khách quan thời kỳ
đó nên C.Mác đã quan niệm rằng chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị
thặng dư cho nền kinh tế. Trong những giai đoạn phát triển tiếp theo của nền kinh
tế, các nhà khoa học đại diện cho các trường phái nghiên cứu khác nhau bổ sung
thêm các yếu tố mới trong định nghĩa về vốn kinh doanh.
Ngày nay, do yêu cầu cao của sự phát triển, vốn không chỉ là yếu tố cần thiết
đối với quá trình sản xuất của các nước phát triển mà còn là yếu tố đóng vai trò

7


quan trọng của hầu hết các quốc gia đang phát triển và kém phát triển. Vì vậy, phạm
trù vốn trong phát triển kinh tế vẫn được các nhà kinh tế học tiếp tục nghiên cứu và
tiếp cận nó trên nhiều bình diện khác nhau.
Theo Paul.A.Samuelson – nhà kinh tế học theo trường phái “Tân cổ điển” đã
thừa kế quan niệm của trường phái cổ điển về yếu tố sản xuất để phân chia các yếu
tố đầu vào của quá trình sản xuất thành ba bộ phận: Đất đai – lao động – vốn. Theo
ông, vốn là các hàng hóa được sản xuất ra để phục vụ cho quá trình sản xuất mới.
Sau này, David Begg có bổ sung thêm về định nghĩa của vốn, theo ông: Vốn
bao gồm có vốn hiện vật (tiền, các giấy tờ có giá trị của doanh nghiệp). Nhìn
chung, Samuelson và Begg đều có chung một luận điểm cơ bản về vốn là các yếu tố
đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên
quan điểm của David cho thấy ông đang đồng nhất vốn kinh doanh là tài sản của
doanh nghiệp. Thực chất vốn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ Tài sản doanh
nghiệp sử dụng để huy động vào quá trình sản xuất nhằm mục đích sinh lời. Tài sản
của doanh nghiệp không chỉ có vốn kinh doanh biểu hiện dưới hình thức tiền tệ mà
còn có các cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp cũng như các quyền tài sản khác. Quan điểm này của ông còn khá giản đơn
và không phản ánh đúng bản chất, mục tiêu vốn kinh doanh hướng tới.
Dưới góc độ tài chính - tiền tệ, trong ấn phẩm “Chú giải thuật ngữ kế toán

pháp luật như: Luật ngân sách nhà nước, Luật doanh nghiệp, Bộ luật dân sự.3
Nói chung, vốn là tiền hay tài sản phải được đầu tư vào hoạt động sản xuất
- kinh doanh để tạo ra hàng hoá, dịch vụ nhằm mục tiêu có thu nhập trong tương
lai. Nghĩa là, vốn luôn gắn với sự vận động và đảm nhiệm chức năng sinh lời.
Vốn có những đặc điểm sau:
- Vốn tồn tại dưới nhiều hình thái cụ thể: tài sản hữu hình, tài sản vô hình và
tài sản tài chính. Nhưng, hình thái giá trị - tiền tệ với tư cách vốn là loại vốn linh
hoạt, biến hoá nhất trong nền kinh tế thị trường. Thị trường không những là nơi diễn
ra các hoạt động đa dạng của vốn mà còn là nơi để vốn bộc lộ khả năng sinh lời của
chúng. Khả năng sinh lời vừa là mục đích cuối cùng của việc đầu tư kinh doanh
đồng vốn, vừa là phương tiện để vốn tiếp tục vận động với quy mô ngày càng được
mở rộng ở chu kỳ kinh doanh tiếp theo. Sự vận động của vốn trên thị trường tuân
thủ quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường. Song, với khả năng nhận thức,
con người có thể nắm bắt, vận dụng quy luật khách quan, tạo ra những kênh huy
động vốn một cách có hiệu quả, đáp ứng mục đích sản xuất - kinh doanh của mình.
- Vốn là hàng hóa đặc biệt. Nhu cầu vốn đầu tư được xem là cơ sở phát sinh
quan hệ cung - cầu về vốn trên thị trường. Như vậy, vốn hiển nhiên là đối tượng
trao đổi, mua bán trên thị trường. Với tư cách là hàng hoá, vốn có hai thuộc tính: giá
3

Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa và Nxb Tư pháp, Hà Nội

9


trị và giá trị sử dụng; có chủ sở hữu và là một trong những yếu tố đầu vào của quá
trình sản xuất.
Tính đặc biệt của "hàng hoá vốn" thể hiện ở chỗ: vốn có khả năng sinh lời.
Với tư cách là hàng hoá đặc biệt, quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn tách rời
nhau. Đặc điểm này của vốn không có ở các loại hàng hoá thông thường. Chủ sở

diện. Sở hữu nhà nước là trình độ thấp hơn của sở hữu toàn dân. Trong thời kỳ quá
độ lên CNXH và trong giai đoạn XHCN chỉ mới có sở hữu nhà nước. Nhà nước đại
diện cho toàn dân sở hữu những tài nguyên thiên nhiên, của cải, tài sản, tư liệu sản
xuất, vốn, ngân sách nhà nước…, của toàn dân, của toàn xã hội. Nhà nước không
những sở hữu mà còn nhân danh toàn dân, toàn xã hội tổ chức quản lý, sử dụng và
phân phối những sản phẩm được tạo ra từ những tài sản, tư liệu sản xuất, vốn, ngân
sách nhà nước… Nhưng muốn thực hiện được điều đó phải thực hiện được lợi ích
kinh tế của sở hữu nhà nước. Nếu không có lợi ích kinh tế thì sở hữu nhà nước chỉ
là danh nghĩa. Điều đó đòi hỏi phải có cơ chế giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền
sở hữu của Nhà nước đối với những tài nguyên, tài sản, tư liệu sản xuất, vốn, ngân
sách nhà nước… của chung, của toàn dân, của toàn xã hội với quyền sử dụng chúng
của các doanh nghiệp được giao quyền sử dụng và việc phân phối sản phẩm, giá trị
mới được tạo ra nhờ những tài nguyên, tài sản, tư liệu sản xuất, vốn, ngân sách nhà
nước… thuộc sở hữu nhà nước giao cho các doanh nghiệp sử dụng.
Chủ sở hữu vốn trong các doanh nghiệp là những người đầu tư vốn để hình
thành hoặc phát triển mở rộng doanh nghiệp. Tùy theo từng loại hình doanh nghiệp
khác nhau mà chủ thể sở hữu trong doanh nghiệp có thể khác nhau. Sự khác biệt
giữa vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp với vốn đầu tư của các chủ sở hữu khác
chính là ở đặc điểm sở hữu nhà nước của vốn. so với các chủ thể sở hữu khác, chủ
thể sở hữu nhà nước có những đặc điểm khác biệt.
Thứ nhất, nhà nước là một hệ thống rộng, trong đó về mặt tổ chức nhà nước
bao gồm nhiều cơ quan và bộ máy quản lý khác nhau. Do đó, khi bàn tới nhà nước
như một chủ thể sở hữu thì chủ thể này khó xác định cụ thể. Hầu hết các quốc gia
trên thế giới đều quan niệm và quy định cơ quan hành pháp (Chính phủ) thống nhất
thực hiện các chức năng chủ sở hữu đối với vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp.
Tuy nhiên về bản chất, Chính phủ cũng chỉ là chủ sở hữu được ủy quyền, chủ sở
hữu đó cũng không có đầy đủ các đặc điểm và quyền của chủ sở hữu đích thực.
Thứ hai, quan niệm về chủ sở hữu vốn nhà nước cũng rất khác nhau ở các hệ
thống kinh tế khác nhau. Có quốc gia chỉ coi nhà nước Trung ương mới là chủ thể
sở hữu nhà nước, còn các chính quyền địa phương thì không có vai trò này. Hiện

các lĩnh vực cần có sự tham gia của nhà nước; chi bổ sung dự trữ nhà nước...4

4

Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật ngân sách nhà nước, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội

12


Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp nhà nước: được xác định là thành phần
chủ đạo trong nền kinh tế, các DNNN vẫn nắm giữ một khối lượng vốn khá lớn.
Mặc dù vẫn còn một số hạn chế nhưng đánh giá một cách công bằng thì khu vực
kinh tế nhà nước với sự tham gia của các DNNN vẫn đóng một vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế nhiều thành phần.Với chủ trương tiếp tục đổi mới DNNN, hiệu
quả hoạt động của khu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích lũy của các
DNNN ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu tư của
toàn xã hội.
Vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh và vốn tín dụng đầu tư phát triển của
Nhà nước được xác định là vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp nhà nước trong
trường hợp các khoản vốn vay đã được Nhà nước trả nợ thay, được Nhà nước quyết
định chuyển thành vốn cấp của Nhà nước cho doanh nghiệp theo quyết định của cấp
có thẩm quyền.5
1.1.3. Đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong doanh nghiệp
Pháp luật về đại diện thương mại đóng vai trò quan trọng trong hệ thống
pháp luật thương mại. Các quốc gia có nền kinh tế thị trường đều quan tâm xây
dựng và phát triển hệ thống pháp luật về đại diện thương mại, tạo tiền đề hành lang
pháp lý cho sự ổn định và phát triển của chế định này, thông qua đó thúc đẩy
thương mại phát triển. Tại Việt Nam, đại diện thương mại vẫn còn là lĩnh vực khá
mới mẻ và chưa có tiềm năng phát triển thành ngành nghề chuyên nghiệp. Tuy
nhiên, thuật ngữ này đã ra đời cũng như phát triển cùng với hệ thống pháp luật dân

thực hiện hoạt động đại diện một cách chuyên nghiệp.
- Bản chất hoạt động đại diện cho thương nhân là bên giao đại diện ủy quyền
cho bên đại diện thay mặt và nhân danh bên giao đại diện thực hiện một số giao
dịch thương mại và bên đại diện sẽ được hưởng thù lao sau khi hoàn thành công
việc được giao. Do đó, trong phạm vi ủy quyền bên đại diện được giao dịch với bên
thứ 3 và mọi hành vi do bên đại diện thực hiện trực tiếp mang lại hậu quả pháp lý
cho bên giao đại diện. Bên giao đại diện phải chịu mọi trách nhiệm về các cam kết
do bên đại diện thực hiện trong phạm vi ủy quyền.
- Hoạt động đại diện cho thương nhân quy định trong Luật thương mại có mục
đích sinh lời. Việc thiết lập quan hệ đại diện cho thương nhân là để đại diện thay mặt
và nhân danh bên giao đại diện tìm kiếm, xác lập quan hệ thương mại cho bên thứ ba.
Do vậy, quan hệ giưa bên đại diện và bên giao đại diện thể hiện sự ràng buộc chặt
chẽ, quan hệ đại diện thường không thực hiện trong những thương vụ hợp tác nhanh
chóng mà tồn tại trong quan hệ hợp tác lâu dài giữa đôi bên.

14


- Nội dung của hoạt động đại diện cho thương nhân do các bên tham gia quan
hệ thỏa thuận. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên đại diện được thực hiện các hoạt
động thương mại nào thuộc phạm vi hoạt động của bên giao đại diện.
Theo quy định pháp luật thì Nhà nước là chủ sở hữu của vốn nhà nước trong
doanh nghiệp. Tuy nhiên, với tính chất là thiết chế quyền lực chính trị với tổ chức
phức tạp nên nhà nước giao cho cơ quan nhất định với chức năng xác định làm đại
diện cho mình trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu vốn nhà nước
tại doanh nghiệp - Chính phủ thực hiện thống nhất tổ chức thực hiện quyền, nghĩa
vụ của chủ sở hữu đối với vốn nhà nước. Thủ tướng chính phủ ủy quyền cho cơ
quan, cá nhân thực hiện một số quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với vốn nhà
nước đầu tư trong doanh nghiệp.
Đối với từng loại hình doanh nghiệp, đại diện vốn nhà nước trong doanh

sử dụng vốn và tài sản gắn với việc thực hiện thẩm quyền của cơ quan chủ sở hữu,
cơ quan quản lý và cơ quan điều hành.
1.2. Khái quát về quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp
Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình theo những
quy luật, định luật hay những quy tắc tương ứng nhằm để cho hệ thống hay quá
trình đó vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích
đã định trước. Như vậy, quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp có thể hiểu là hệ
thống các phương pháp và công cụ sử dụng để điều khiển, định hướng hoạt động
đầu tư, sử dụng và giám sát việc sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển số vốn
nhà nước trong doanh nghiệp.
Nhà nước với vai trò chủ sở hữu, thực hiện việc quản lý vốn Nhà nước tại
DNNN bằng các công cụ chủ yếu sau đây:
 Bằng hệ thống pháp luật: Như Luật doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật
quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, các văn bản pháp luật
hướng dẫn chế độ quản lý tài chính tại các DNNN, các công cụ tài chính vĩ mô như:
chính sách thuế, lãi suất, tỷ giá...
 Bộ máy quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại DNNN:
- Bộ Tài chính (Cục Tài chính doanh nghiệp).
- Sở Tài chính (Phòng Tài chính doanh nghiệp).

16


Bộ máy quản lý tài chính doanh nghiệp thực hiện chức năng kiểm tra, giám
sát việc chấp hành pháp luật Nhà nước trong sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp. Đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ, tư vấn pháp luật giúp cho các doanh nghiệp
thực hiện đúng các chế độ, chính sách tài chính quy định hiện hành của Nhà nước...
Đội ngũ quản lý của các CTCP Nhà nước (Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán
trưởng…). Các doanh nghiệp thông qua bộ máy kế toán, kiểm toán nội bộ, các hình

Các công cụ này là sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế thị trường
nhằm khắc phục được những thất bại của thị trường, hướng hoạt động thị trường
vào những mục tiêu xã hội cần có. Đặc trưng của các công cụ này khác với các
nhóm khác ở chỗ đây là phương pháp quản lý nền kinh tế của nhà nước có mục tiêu.
Chúng còn giúp huy động và phân bổ nguồn lực khan hiếm nhằm thực hiện các mục
tiêu ưu tiên, những vấn đề mang tính bức xúc mà xã hội cần có và khi đó các nguồn
lực khan hiếm trong đó có vốn sẽ được phân bổ phù hợp với nhu cầu trong dài hạn
của đất nước và địa phương. Các kế hoạch, chính sách kinh tế còn là công cụ để thu
hút các nguồn tài trợ từ nước ngoài.
Vì vậy, xuất phát từ vai trò của doanh nghiệp đối với sự phát triển của nền
kinh tế quốc dân cần thiết hoạt động quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp dưới
sự điều chỉnh của đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước cần thiết phải có sự thống nhất
phù hợp với những chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát
triển ngành.
- Đầu tư vốn nhà nước để hình thành và duy trì doanh nghiệp ở những khâu,
công đoạn then chốt trong một số ngành, lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác
không tham gia hoặc thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, duy trì tỷ lệ
cổ phần, vốn góp theo quy định tại Điều 10 và Điều 16 của Luật quản lý sử dụng
vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp 2014..
Tại doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội;
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh;
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền tự nhiên; doanh nghiệp ứng dụng
công nghệ cao, đầu tư lớn, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực
khác và nền kinh tế. Tiếp tục duy trì tỷ lệ cổ phần, vốn góp của Nhà nước tại công
ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thuộc một trong các
trường hợp không thu hút được các nhà đầu tư Việt Nam và nước ngoài

6

PGS-TS Ngô Thắng Lợi, Giáp trình Kế hoạch hóa phát triển, NXB Đại học Kinh tế quốc dân

Phù hợp với điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên
Trong hoàn cảnh hội nhập thế giới hiện nay, Việt Nam tham gia ký kết và trở
thành thành viên của rất nhiều Điều ước quốc tế liên quan đến kinh doanh thương
19


mại điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp. Và về nguyên tắc quy định tại Điều 26
Công ước Viên 1969 quy định: “Tất cả điều ước có hiệu lực ràng buộc các thành
viên và phải được các thành viên tự nguyện thi hành với thiện chí”. Sự tận tâm,
thiện chí của các chủ thể ký kết vừa là cơ sở, vừa là đảm bảo quan trọng để chủ thể
ký kết tự ràng buộc mình những nghĩa vụ thực hiện các quy định của Luật điều ước
nói chung và Luật điều ước quốc tế nói riêng với tính chất là các cam kết quốc tế
tồn tại song hành cùng các điều khoản thỏa thuận trong điều ước.
Các điều ước quốc tế được thừa nhận là những thước đo giá trị hợp pháp
cũng như cơ sở xây dựng của các quy phạm pháp quốc gia thành viên khác bởi tính
chất điều chỉnh mang tầm quốc tế của nó cũng như Điều ước quốc tế là kết quả cuối
cùng của quá trình thỏa thuận hệ thống quy phạm điều chỉnh vấn đề nhất định. Vì
vậy, quy phạm pháp luật quốc gia thành viên đều phải có nội dung phù hợp với điều
ước quốc tế. Nếu có sự mâu thuẫn giữa hai dạng quy phạm pháp luật này thì quy
định pháp luật quốc gia thành viên mặc nhiên vô hiệu.
1.2.3. Vai trò quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp
Đảm bảo hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh sử dụng vốn nhà nước một
cách có hiệu quả
Mục tiêu đầu tiên cũng là mục tiêu cuối cùng của mỗi doanh nghiệp khi tiến
hành hoạt động sản xuất kinh doanh là tối đa hóa lợi nhuận hay nói cách khác là tối
đa hóa giá trị doanh nghiệp. Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi doanh nghiệp phải
tìm các biện pháp khai thác và sử dụng một cách triệt để những nguồn lực bên trong
lẫn bên ngoài của doanh nghiệp. Chính vì vậy, đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
luôn được doanh nghiệp đặt lên hàng đầu, đó là mục tiêu trung gian tất yếu để đạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status