MỤC LỤC
Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU.
B. PHẦN NỘI DUNG.
I. KHÁI NIỆM CHUNG.
1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn.
2. Khái niệm biện pháp ngăn chặn tạm giam.
3. Ý nghĩa của việc quy định áp dụng BPNC tạm giam.
II. QUY ĐỊNH VỀ BIỆN PHÁP TẠM GIAM TRONG BLTTHS.
1. Đối tượng áp dụng.
2. Thẩm quyền ra lệnh tạm giam.
3. Thủ tục tạm giam.
4. Thời hạn tạm giam.
5. Một số quy định khác liên quan đến việc tạm giam.
III. THỰC TIỄN THI HÀNH BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM
GIAM.
1. Những kết quả đạt được.
2. Những hạn chế, vướng mắc.
a. Những bất cập trong quy định của pháp luật.
b. Những vi phạm trong thực tiễn áp dụng BPNC tạm giam.
3. Nguyên nhân của những khó khăn, bất cập và tồn tại trong thực tiễn
áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam.
a. Nguyên nhân liên quan đến công tác xây dựng pháp luật.
b. Nguyên nhân do ý thức chủ quan của chủ thể áp dụng.
4. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng BPNC tạm giam.
a. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLTTHS về BPNC
tạm giam.
b. Giải pháp về tăng cường năng lực và nâng cao phẩm chất đạo đức
của chủ thể áp dụng BPNC tạm giam.
c. Giải pháp về xử lí các trường hợp vi phạm.
C. KẾT LUẬN
luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án
hình sự.
BLTTHS 2003 tuy không đưa ra khái niệm thế nào là BPNC nhưng tại Điều 79
cũng đã quy định mục đích, thẩm quyền và các căn cứ áp dụng BPNC như sau: Để
kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chững tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó
khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần
đảm bảo thi hành án, thì Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án có thể áp
dụng một trong các BPNC: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo
lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm.
2. Khái niệm biện pháp ngăn chặn tạm giam.
Tạm giam là một trong sáu BPNC được quy định trong Bộ luật TTHS 2003.
Xung quanh khái niệm về tạm giam hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau, mỗi
quan điểm nhìn nhận dưới một góc độ pháp lí nhất định. Sở dĩ có nhiều quan điểm
2
khác nhau đó là vì BLTTHS 2003 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành chưa
có giải thích cụ thể nào về khái niệm BPNC tạm giam nhưng theo quan điểm cá
nhân của em thì khái niệm BPNC tạm giam đưa ra trong Giáo trình Luật tố tụng
hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội là đầy đủ và dễ hiểu hơn cả,
theo đó: Tạm giam là BPNC trong TTHS do CQĐT, VKS, Tòa án áp dụng đối với
bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng mà
BLHS quy định hình phạt tù trên 2 năm và có căn cứ để cho rằng người đó có thể
trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
3. Ý nghĩa của việc quy định áp dụng BPNC tạm giam.
Tạm giam là phương tiện hữu hiệu bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố,
xét xử và thi hành án đạt hiệu quả cao nhất. Bới đây là biện pháp đảm bảo sự có
mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của cơ quan THTT, đảm bảo sự chính
xác, khách quan của hoạt động tố tụng, ngăn ngừa các đối tượng tiếp tục phạm tội
hoặc tìm cách xóa bỏ dấu vết tội phạm, chứng cứ..Tạm giam là BPNC thể hiện sự
mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Như vậy khi bị can, bị cáo phạm tội
gây nguy hại rất lớn hoặc đặc biệt lớn cho xã hội thì thể bị áp dụng biện pháp này.
Điều đó có nghĩa là, biện pháp ngăn chặn này có thể được áp dụng trên cơ sở tính
chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, mà không cần chứng minh khả
năng trốn tránh, gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án
hoặc khả năng tiếp tục phạm tội của họ.
Trường hợp thứ hai: Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm
trọng mà BLHS quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó
có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
Khoản 3 Điều 8 BLHS quy định: Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy
hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là
đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà
mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù. Như vậy, đối
với bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng để áp dụng biện
pháp ngăn chặn tạm giam phải thỏa mãn 2 điều kiện:
- Thứ nhất, bị can, bị cáo phạm tội gây nguy hại không lớn hoặc lớn cho xã hội mà
BLHS quy định hình phạt tù trên hai năm, thì mới là điều kiện xét xử để quyết định
áp dụng tạm giam.
-Thứ hai, có căn cứ người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử
hoặc có thể tiếp tục phạm tội. Đây là điều kiện đủ để có thể xem xét quyết định áp
dụng tạm giam đối với bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm
trọng mà BLHS quy định hình phạt tù trên hai năm. Để xác định điều này cần phải
căn cứ vào nhân thân của bị can, bị cáo, thái độ của họ sau khi phạm tội hoặc
những vi phạm nghĩa vụ của bị can, bị cáo khi được áp dụng biện pháp ngăn chạn
ít nghiêm khắc.
Việc tạm giam đối với người chưa thanh niện:
Người chưa thành niên có thể bị áp dụng BPNC tạm giam trong các trường hợp:
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có đủ căn cứ tạm giam nhưng chỉ trong
những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt
nghiêm trọng.
- Lệnh tạm giam của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp phải
được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Thời hạn mà Viện
kiểm sát phải xem xét để ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh tạm
giam của Cơ quan điều tra là ba ngày, kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, đề
nghị xét phê chuẩn và hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc tạm giam. Viện kiểm sát
phải hoàn trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn
dù có phê chuẩn hay không.
3. Thủ tục tạm giam.
Thủ tục tạm giam là trình tự luật định mà chủ thể có thẩm quyền khi áp dụng
BPNC tạm giam phải tuân thủ một cách triệt để. Với tính chất là BPNC nghiêm
khắc nhất, hạn chế quyền tự do của người bị áp dụng trong một thời gian nhất định
nên việc áp dụng BPNC tạm giam cần phải tuân theo một thủ tục luật định chặt
chẽ. Theo quy định của BLTTHS 2003, việc tạm giam bị can, bị cáo phải có lệnh
tạm giam. Lệnh này phải do những người có thẩm quyền kí. Lệnh tạm giam phải
ghi rõ ngày, tháng, năm; họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của
người bị tạm giam; lí do tạm giam, thời hạn tạm giam và giao cho người bị tạm
giam một bản. Tạm giam không chỉ hạn chế quyền bất khả xâm phạm về thân thể,
quyền tự do và danh dự của công dân mà còn ảnh hưởng đến cả nhân thân của họ.
5
Chính vì vậy, sau khi ra lệnh tạm giam, cơ quan đã ra lệnh tạm giam phải thông
báo ngay cho gia đình người bị tạm giam và cho chính quyền xã, phường, thị trấn
hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam cư trú hoặc làm việc biết. Đồng thời
khi tiến hành tạm giam một người cần phải bảo đảm các thủ tục khác liên quan như
(Điều 90 BLTTHS 2003):
- Khi người bị tạm giam có con chưa thành niên dưới 14 tuổi hoặc có người thân
thích là người tàn tật, già yếu mà không có người chăm sóc, thì cơ quan lệnh tạm
giam giao những người đó cho người thân thích chăm nom. Trong trường hợp
người bị tạm giam không có người thân thích thì cơ quan ra lệnh tạm giam giao
6
tra, Viện kiểm sát phải ra một trong những quyết định sau: quyết định truy tố bị
can trước Tòa án bằng bản cáo trạng; quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ
sung;quyết định dình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án. Trong trường hợp cần thiết,
Viện trưởng VKS có thể gia hạn, nhưng không quá mười ngày đối với TP ít
nghiêm trọng và TP nghiêm trọng; không quá mười lăm ngày đối với TP rất
nghiêm trọng; không quá ba mươi ngày đối với TP đặc biệt nghiêm trọng.
*Thời hạn tạm giam để xét xử sơ thẩm: Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, Điều 177
BLTTHS 2003 quy định: Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá
ba mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, bốn mươi lăm ngày đối với tội
phạm nghiêm trọng, hai tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, ba tháng đối với
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án. Đối với những vụ án
phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử,
nhưng không quá mười lăm ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm
nghiêm trọng, không quá ba mươi ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phải được
thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.
* Thời hạn tạm giam để xét xử phúc thẩm: Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm,
BLTTHS quy định: Sau khi nhận hồ sơ vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền
quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Việc áp dụng,
thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân
dân cấp tỉnh, Toà án quân sự cấp quân khu, Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà,
Phó Chánh toà Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao quyết định.
Thời hạn tạm giam không được quá thời hạn xét xử phúc thẩm quy định tại Điều
242 BLTTHS 2003. Tức là thời hạn tạm giam để xét xử phúc thẩm ở Tòa án nhân
dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu là sáu mươi ngày; ở Tòa phúc thẩm Tòa
án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự trung ương chín mươi ngày, kể từ ngày nhận
được hồ sơ vụ án.
thiết cho bị can, bị cáo thực hiện được các quyền của mình, bảo vệ lợi ích chính
đáng của bản thân. Việc pháp luật quy định các quyền của bị can, bị cáo ngoài mục
đích để họ chủ động tham gia vào quá trình tố tụng còn góp phần tránh bắt giam
người vô tội cũng như bỏ lọt tội phạm của các CQTHTT khi thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của mình.
- Chế độ chăm nom người thân thích và bảo quản tài sản của người bị tạm
giam: Theo quy định tại Điều 90 BLTTHS 2003 thì: Khi người bị tạm giữ, tạm
giam có con chưa thành niên dưới 14 tuổi hoặc có người thân thích là người tàn tật,
già yếu mà không có người chăm sóc, thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh tạm
giam giao những người đó cho người thân thích chăm nom. Trong trường hợp
người bị tạm giữ, tạm giam không có người thân thích thì cơ quan ra quyết định
tạm giữ, lệnh tạm giam giao những người đó cho chính quyền sở tại chăm nom.
Trong trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam có nhà hoặc tài sản khác mà không
có người trông nom, bảo quản thì cơ quan ra quyết tạm giữ, lệnh tạm giam phải áp
dụng những biện pháp trông nom, bảo quản thích đáng. Cơ quan ra quyết định tạm
giữ, lệnh tạm giam thông báo cho người bị tạm giữ, tạm giam biết những biện pháp
đã được áp dụng.
Việc pháp luật quy định chế độ chăm nom người thân thích và bảo quản tài sản của
người bị tạm giam thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với đối tượng
bị tạm giamcũng như thân nhân của họ. Đó cũng là thể hiện tính nhân đạo XHCN.
- Về việc khấu trừ thời hạn tạm giam vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
Theo quy định tại Điều 33 BLHS 1999 thì thời gian tạm giam được trừ vào thời
hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giam bằng một ngày tù. Quy định
này không chỉ áp dụng đối với người bị tạm giam liên tục cho đến khi xét xử mà
8
còn áp dụng đối với cả những người bị áp dụng BPNC khác sau một thời gian bị
tạm giam. Những hình phạt khác không phải là hình phạt tù có thời hạn như cảnh
cáo, phạt tiền hoặc tử hình thì không áp dụng quy định này mặc dù trước đó họ đã
giam cho cơ quan thụ lý hồ sơ có người bị giam do đó không có trường hợp nào bị
quá hạn tạm giam. Công tác canh gác, dẫn giải đảm bảo phục vụ tốt cho công tác
điều tra, truy tố, xét xử, không để xảy ra trường hợp nào trốn khỏi nơi giam; công
tác vệ sinh buồng giam đảm bảo luôn sạch sẽ không để xảy ra dịch bệnh; diện tích
bình quân tối thiểu đối với người bị tạm giam đúng với quy định của pháp luật; chế
9
độ ăn, ở thực hiện đầy đủ, đúng định lượng nên các đối tượng đều khỏe mạnh
không có tình trạng suy kiệt xảy ra. Các chế độ khác của người bị tạm giam thi
hành án như: Thăm gặp thân nhân, nhận quà, tiền lưu ký, quần áo, khám chữa bệnh
và các chế độ khác đều được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Công tác
thu, nộp và thanh toán tiền lưu ký cho can phạm nhân đầy đủ, đúng quy định,
không để xảy ra khiếu kiện.
2. Những hạn chế, vướng mắc.
a. Những bất cập trong quy định của pháp luật.
Về khái niệm BPNC tạm giam.
Trong quy định của BLTTHS hiện hành chưa có quy định về khái niệm về
BPNC tạm giam. Tại Điều 88 BLTTHS 2003 mới chỉ nêu ra được đối tượng bị áp
dụng BPNC tạm giam mà chưa có khái niệm cụ thể nào khác, việc dễ dẫn đến có
nhiều cách hiểu khác nhau về BPNC này.
Về thời hạn điều tra và thời hạn tạm giam để điều tra.
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn để giúp cơ quan điều tra ngăn chặn tội
phạm bỏ trốn và thuận tiện trong việc điều tra vụ án hình sự. Chính vì vậy, thời hạn
tạm giam để điều tra phải phù hợp với thời hạn điều tra một vụ án hình sự. Thế
nhưng theo quy định tại điều 119 và điều 120 của BLTTHS 2003 thì thời hạn điều
tra một vụ án hình sự với tội ít nghiêm trọng tối đa là 4 tháng còn thời hạn tạm
giam điều tra tối đa là 3 tháng. Đối với tội nghiêm trọng thì thời hạn điều tra tối đa
là 8 tháng còn thời hạn tạm giam bị can để điều tra là 6 tháng; với tội rất nghiệm
trọng thì thời hạn điều tra là 12 tháng còn thời hạn tạm giam để điều tra là 9 tháng
pháp luật. Một số hạn chế thường phát hiện thấy trong thực tiễn thi hành pháp luật
TTHS về tạm giam như sau:
Vi phạm về căn cứ áp dụng BPNC tạm giam:
Trong thời gian qua có không ít những trường hợp áp dụng BPNC tạm giam
không có hoặc không đủ căn cứ theo quy định của BLTTHS, xâm hại đến quyền tự
do của công dân. Cụ thể như: tạm giam người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm
trọng, áp dụng BPNC tạm giam khi không cân thiết, tạm giam người không có
tội…Trong các lệnh tạm giam của CQĐT, quyết định phê chuẩn lênh tạm giam của
VKS chỉ nêu chung chung là căn cứ vào hành vi phạm tội, căn cứ vào điều luật của
BLTTHS và xét thấy cần thiết tạm giam là tạm giam.
Vi phạm về đối tương áp dụng biện pháp tạm giam.
Trong những năm gần đây, tình hình tạm giam không đúng đối tượng còn
xảy ra nhiều như: giam cả những người không phải là bị can, bị cáo hay những bị
can, bị cáo thuộc các trường hợp được hưởng chính sách miễn trừ giam giữ cũng bị
áp dụng biện pháp tạm giam.
Ví dụ như: trong vụ án cố ý gây thương tích, anh Phạm Vũ bị khởi tố về tội cố ý
gây thương tích (chém trọng thương một thanh niên) vào tháng 4-2006 và đến
tháng 5-2006 thì bị Công an Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng bắt tạm giam. Hơn 4
tháng sau, do thủ phạm của vụ án cố ý gây thương tích ra tự thú nên anh Vũ được
cho tại ngoại. Kiểm sát Nhân dân (VKSND) huyện Đức Trọng công khai xin lỗi
anh Phạm Vũ trước cộng đồng dân cư vì đã phê chuẩn quyết định khởi tố, bắt giam
oan sai đối với anh. Viện Kiểm sát cũng bồi thường cho anh 101 triệu đồng.
Vi phạm về thời hạn tạm giam.
Thời hạn tạm giam được pháp luật qui định rõ ràng. Tuy nhiên, trong thực tế
tình trạng tạm giam qua thời hạn vẫn xảy ra phổ biến. Điển hình như trong vụ án
"vườn điều" nổi tiếng, bà Nguyễn Thị Lâm đã bị giam oan bảy năm trời; chị
Nguyễn Thị Tiến, con ruột bà Lâm, bị giam năm năm... Bà Phạm Thị Út, người
được tuyên vô tội trong kỳ án đốt nhà, bị giam ít nhất sáu năm. Nhiều bị cáo, bị
can trong các vụ án có vấn đề về chứng cứ hiện cũng đang bị tạm giam mòn mỏi
11
phạm, làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của các đối tượng áp dụng vì
những lí do khác nhau. Cụ thể:
a. Nguyên nhân liên quan đến công tác xây dựng pháp luật.
BLTTHS 2003 ra đời đánh dấu bước phát triển mới về lỹ thuật lập pháp nói
chung đồng thời dần hoàn thiện các quy định về chế định tạm giam trong TTHS
nói riêng. Các quy định của pháp luật về các BPNC nói chung và BPNC tạm giam
nói riêng trong BLTTHS 2003 đã có tính hệ thống, đồng bộ, thống nhất song vẫn
còn những chế định mâu thuẫn nhau, chồng chéo nhau và có những quy định
không phù hợp với thục tế như:
- Chưa có khái niệm cụ thể và thống nhất về BPNC tạm giam trong BLTTHS hiện
hành.
12
- Quy định về thời giam tạm giam và tạm giam để điều tra có sự không phù hợp.
- Trách nhiệm của người đề xuất, người ra lệnh và người phê chuẩn lệnh tạm giam
chưa rõ ràng…
b. Nguyên nhân do ý thức chủ quan của chủ thể áp dụng.
Thực tiễn áp dụng BPNC tạm giam cho thấy rằng tình hình VPPL từ phía cơ
quan có thẩm quyền trong thời gian qua vẫn còn diễn ra nhiều. Nhận thức của cơ
quan, đơn vị và những người có trách nhiệm quyền hạn trong việc ra lệnh tạm
giam, người áp dụng thi hành lệnh tạm giữ, tạm giam còn có những hạn chế. Trình
độ cán bộ công tác tạm giam không đều, nhiều cán bộ công an trực tiếp làm công
tác tạm giam, điều tra viên không nắm vững, không đầy đủ kiến thức cần thiết, do
vậy mà các quy định về tạm giam không được chấp hành một cách triệt để. Công
tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại các nơi tạm giam ở nhiểu địa phương
không được tiến hành một cách thường xuyên và đều khắp, vì vậy mà các vi phạm
chưa được khắc phục kịp thời, cho nên viện kiểm sát chưa phát huy được hết vai
trò, trách nhiệm của mình trong công tác tạm giam. Trong các trại tạm giam thì
điều kiện cơ sở vật chất không được đảm bảo, việc theo dõi, quản lí người bị tạm
tạm giam để điều tra đã hết, gây khó khăn cho CQĐT cũng như quá trình xét xử,
thi hành án.
- Thứ ba là về trách nhiệm của người đề xuất, người ra lệnh và người phê chuẩn
cần phải có quy định rõ ràng. Nếu tạm giam trái pháp luật thì Điều tra viên phải
chịu trách nhiệm của người đề xuất, thủ trưởng Cơ quan điều tra phải chịu trách
nhiệm của người ra lệnh. Còn nếu tạm giam sau đó lại được VKS phê chuẩn thì
người đã đề xuất phải chịu trách nhiệm của người đề xuất, người đã phê chuẩn
phải chịu trách nhiệm của người phê chuẩn.
b. Giải pháp về tăng cường năng lực và nâng cao phẩm chất đạo đức của chủ
thể áp dụng BPNC tạm giam.
* Đối với Cơ quan điều tra:
- Cần nâng cao chất lượng đội ngũ điều tra viên bằng cách thường xuyên mở các
lớp huấn luyện nhàm nâng cao ý thức pháp luật, trình độ nghiệp vụ cho Điều tra
viên. Thực tế, Điều tra viên là người THTT trực tiếp điều tra, lập hồ sơ vụ án, đề
xuất Thủ trưởng CQĐT ra lênh tạm giam. Đặc biệt trong tình hình tội phạm ngày
càng tinh vi với nhiều thủ đoạn phạm tội càng đòi hỏi trình độ nghiệp vụ của Điều
tra viên phải được nâng cao. Trước khi áp dụng BPNC tạm giam, CQĐT cần cân
nhắc đến sự cần thiết của việc áp dụng biện pháp này. Quán triệt quan điểm tư
tưởng chỉ đạo của Đảng trong Nghị Quyết 49/ NQ-TW ngày 2/6/2005 của Bộ
Chính trị, đó là: Xác định rõ căn cứ tạm giam, hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm
giam đối với một số tội phạm.
* Đối với Viện kiểm sát:
VKS với chức năng là kiểm sát hoạt động tố tụng nói chung trong đó có việc áp
dụng BPNC tạm giam nên vai trò của VKS rất quan trọng trong quá trình áp dụng
BPNC này. Vì thế, yêu cầu đặt ra đối với cơ quan kiểm sát là cần kiểm sát chặt chẽ
việc phê chuẩn tạm giam, đảm bảo không gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền
của những đối tượng không bị tạm giam. Muốn vậy, trước tiên VKS phải kiên toàn
đội ngũ Kiểm sát viên đồng thời tăng cường hơn nữa việc kiểm tra, giám sát các
hoạt động tuân theo pháp luật của các CQTHTT khác cúng như tăng cường công
tác kiểm sát hàng ngày của Kiểm sát viên đối với trại tạm giam nhằm bảo đảm một
loa gây bất bình trong dư luận. Điều này cần được các cơ quan có thẩm quyền thực
hiện nghiêm minh đúng theo quy định của pháp luật.
C. KẾT LUẬN
Tạm giam là BPNC trong TTHS nhằm đảm bảo cho hoạt động tố tụng đạt
được hiệu quả cao, đồng thời thể hiện thái độ nghiêm khắc của Nhà nước đối với
người có hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội, quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên, khi áp dụng biện pháp tạm giam vào quá
trình giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân thủ nghiêm ngặt các
quy định của pháp luật, để đảm bảo các quyền của công dân, góp phần nâng cao
hiệu quả của cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm.
15
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1. Giáo trình luật tố tụng hình sự, trường đại học Luật Hà Nội, NXB Tư Pháp,
2006.
2. Bộ luật tố tụng hình sự 2003.
3. Bộ luật hình sự.
4. Khóa luận tốt nghiệp: Tạm giam trong tố tụng hình sự. Một số vấn đề lí luận và
thực tiễn. Tác giả: Hà Đình Hiệu.
5. Khóa luận tốt nghiệp: Tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam. Tác
giả: Nguyễn Thị Minh Thương, lớp HS32D.
6. Khóa luận tốt nghiệp: Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về biện pháp ngăn chặn
tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam. Tác giả: Đàm Thu Trang, lớp HS32C.
7. Luận án tiến sĩ luật học: Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong
tố tụng hình sự Việt Nam. Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp. Tác giả: Nguyễn
Văn Điệp.
8. Các tài liệu tham khảo trên internt.