LỜI MỞ ĐẦU
Xét về tính lịch sử, Công ty hợp danh và Doanh nghiệp tư nhân là những
loại hình doanh nghiệp xuất hiện sớm nhất. Cùng với sự xuất hiện thêm các loại
hình công ty mới với nhiều ưu thế về vốn, thành viên như Công ty cổ phần,
Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh và Doanh nghiệp tư nhân vẫn
tồn tại độc lập và được nhiều nhà đầu tư lựa chọn trong quá trình kinh doanh.
Vậy, trách nhiệm vô hạn là gì? Tại sao chế độ trách nhiệm vô hạn lại tạo ra
được nhiều ưu thế của Công ty hợp danh và Doanh nghiệp tư nhân? Để làm rõ
được vấn đề này, chúng ta sẽ cùng nghiên cứu đề tài “Bình luận, đánh giá ưu
điểm, hạn chế của công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân (với tư cách là
những doanh nghiệp có chủ đầu tư chịu trách nhiệm vô hạn về tài sản)”.
NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỘ TRÁCH NHIỆM VÔ HẠN CỦA CHỦ
DOANH NGHIỆP, DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN VÀ CÔNG TY HỢP
DANH.
1. Khái quát chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp
1.1. Khái niệm.
Trong lĩnh vực pháp lý thuật ngữ “trách nhiệm” được hiểu theo hai nghĩa.
Thứ nhất, trách nhiệm được hiểu là nghĩa vụ. Thứ hai, trách nhiệm được hiểu là
phải gánh chịu những hậu quả bất lợi vì đã vi phạm pháp luật.
Như vậy, trách nhiệm của chủ doanh nghiệp phải được hiểu theo nghĩa thứ
hai, tức là chủ doanh nghiệp có nghĩa vụ với các đối tác của doanh nghiệp về
những khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của Doanh nghiệp.
Trách nhiệm của chủ sở hữu doanh nghiệp được phân ra làm hai loại là: chế
độ trách nhiệm vô hạn và chế độ trách nhiệm hữu hạn. Trong đó, trách nhiệm vô
hạn là nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản
của mình về các nghĩa vụ của doanh nghiệp.
Như vậy, khi nói đến vấn đề trách nhiệm của chủ doanh nghiệp ta có thê
Chủ doanh nghiệp có thể là cá nhân hoặc tổ chức, tuỳ từng loại hình doanh
nghiệp mà pháp luật quy định những đối tượng nào có thể trở thành chủ doanh
nghiệp.
Một tổ chức có thể tồn tại dưới nhiều tên gọi và hình thức khác nhau, có tổ
chức có tài sản riêng, độc lập với các thành viên (các pháp nhân), cũng có những
tổ chức mà tài sản không hoàn toàn độc lập mà phụ thuộc vào các tổ chức, cá
nhân khác (các tổ chức sử dụng vốn có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước). Do
đó, không dễ dàng để xác định tài sản riêng của tổ chức và tài sản của tổ chức đã
đầu tư vào doanh nghiệp.
Quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, có hai loại hình doanh nghiệp có
chủ sở hữu chịu chế độ trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ của doanh nghiệp,
đó là Doanh nghiệp tư nhân và Công ty hợp danh. Việc phân tích, đánh giá
những ưu điểm hạn chế của chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tới
hai loại hình doanh nghiệp này sẽ được trình bày cụ thể ở phần dưới đây.
2. Doanh nghiệp tư nhân
2.1. Khái niệm:
Điều 141 Luật Doanh nghiệp năm 2005 định nghĩa: “Doanh nghiệp tư nhân
(DNTN) là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng
toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp; doanh nghiệp tư
nhân không được phát hành bất kỳ một loại chứng khoán nào; mỗi cá nhân chỉ
được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân”.
2.2. Đặc điểm:
2.2.1. Chế độ trách nhiệm: Chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm
vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh
nghiệp.
Hầu như không có giới hạn nào giữa phần vốn và tài sản đưa vào kinh doanh
của DNTN và phần tài sản còn lại thuộc sở hữu của chủ DNTN. Vì vậy, gần như
không có tính độc lập, tách biệt giữa tài sản của doanh nghiệp tư nhân với tài sản
của chủ DNTN.
Khái niệm Công ty hợp danh theo Luật doanh nghiệp Việt Nam có nội hàm
giống như pháp luật các nước. Song ngoại diên khái niệm công ty hợp danh có
rộng hơn. Bởi lẽ, theo Điều 130 LDN thì công ty hợp danh bao gồm hai loại:
- Thứ nhất, CTHD chỉ bao gồm các thành viên hợp danh (cùng liên đới chịu
trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công ty);
- Thứ hai, công ty hợp danh có cả thành viên hợp danh và thành viên góp
vồn, trong đó thành viên góp vốn chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số
vốn đã góp vào công ty
3.2. Đặc điểm:
Theo quy định của LDN 2005 thì CTHD có các đặc điểm sau:
3.2.1. Chế độ trách nhiệm:
Trong CTHD có thể tồn tại hai loại chế độ trách nhiệm khác nhau:
- Trách nhiệm vô hạn đối với các thành viên hợp danh. Trách nhiệm hữu hạn
trong CTHD là “liên đới chịu trách nhiệm vô hạn”. Việc liên đới chịu trách
nhiệm có nghĩa, các chủ nợ có thể yêu cầu một trong các thành viên hợp danh
phải thanh toán tất cả các khoản nợ cho các thành viên hợp danh còn lại và
thành viên này sẽ được hoàn trả lại từ thành viên khác.
- Trách nhiệm hữu hạn đối với các thành viên góp vốn. Chế độ trách nhiệm
hữu hạn của thành viên góp vốn giới hạn trách nhiệm của các thành viên này đối
với các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của công ty trong phạm vi số vốn đã góp.
Mặc dù có thể có sự tồn tại hai chế độ trách nhiệm như trên, song chế độ
trách nhiệm chính, chủ đạo, chi phối hoạt động của công ty vẫn là chế độ trách
nhiệm vô hạn. Bởi lẽ, Pháp luật quy định, CTHD phải có ít nhất từ hai thành
viên hợp danh trở lên, có thể có hoặc không có thành viên góp vốn. Do đó, về
mặt bản chất, CTHD là một loại hình công ty đối nhân.
Cũng chính từ hai chế độ trách nhiệm cho hai loại thành viên như trên đã
làm phát sinh những hệ quả pháp lý khác quy định đặc trưng của CTHD so với
các loại hình doanh nghiệp khác, mà đặc biệt là sự khác biệt về quyền và nghĩa
vụ của thành viên hợp danh và thành viên góp vốn.
chủ DNTN và thành viên hợp danh của CTHD được thể hiện ở chỗ, trong
trường hợp doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì pháp luật quy định, tài
sản của doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản bao gồm tài sản thuộc sở
hữu của DNTN và tài sản của chủ DNTN, thành viên hợp danh (khối tài sản dân
sự) mà không trực tiếp dùng vào hoạt động kinh doanh của DNTN và CTHD.
Còn đối với những loại hình doanh nghiệp khác có chủ sở hữu chịu chế độ trách
nhiệm hữu hạn về những nghĩa vụ của doanh nghiệp thì phần tài sản của công ty
khi lâm vào tình trạng phá sản chỉ gồm những tài sản thuộc sở hữu của công ty.
Chính vì lẽ đó, các khoản nợ của DNTN và CTHD được đảm bào thanh toán
bằng cả tài sản của doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp, làm giảm tỷ lệ phải gánh
chịu rủi ro của chủ nợ và các đối tác của doanh nghiệp.
1.1.2. Doanh nghiệp ít chí sự ràng buộc của các quy định pháp luật.
Xuất phát từ chế độ trách nhiệm vô hạn của các chủ đầu tư nên tính an toàn
pháp lý của hai loại hình doanh nghiệp này là rất lớn. Cùng với nó là sự đơn
giản về tổ chức và tham gia của các thành viên trong doanh nghiệp nên pháp luật
đã nới lỏng sự quản lý và trao quyền tự quyết định các vấn đề của doanh nghiệp
cho các chủ đầu tư. Do vậy, so với Công ty TNHH và Công ty cổ phần thì tổ
chức và hoạt động của DNTN và CTHD rất đơn giản, gọn nhẹ và khá tự do.
1.2. Hạn chế:
1.2.1. Hạn chế đối với chủ doanh nghiệp tư nhân và thành viên hợp danh
của công ty hợp danh:
* Chủ DNTN và CTHD có nghĩa vụ gánh chịu mọi rủi ro trong kinh doanh
của doanh nghiệp bằng cả khối tài sản đã đầu tư vào doanh nghiệp (tài sản
thương mại) và tài sản thuộc sở hữu cá nhân mình (tài sản dân sự). Chính vì lẽ
đó, nếu doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản, mà tổng khoản nợ lớn hơn
tổng số tài sản hiện có của công ty thì rất có khả năng, chủ doanh nghiệp sẽ
trắng tay vì phải dung tất cả số tài sản cá nhân của mình để thanh toán các nghĩa
vụ của doanh nghiệp.
danh tham gia công ty là khó. Còn đối với thành viên góp vốn, mặc dù có thể có
nhiều cá nhân muốn tham gia CTHD song việc tham gia này phải có sự đồng ý
của Hội đồng thành viên trong đó có các thành viên hợp danh, mà chắc chắn một
điều rằng các thành viên này không muốn quá nhiều thành viên góp vốn tham
gia vì đồng nghĩa với nó là trách nhiệm vô hạn liên đới mà họ phải gánh chịu
cũng tăng lên.
2. Những điểm khác nhau.
2.1. Trách nhiệm pháp lý và tính an toàn pháp lý.
* Thứ nhất, mặc dù cùng chịu chế độ trách nhiệm vô hạn về mọi nghĩa vụ
của doanh nghiệp song, cũng có sự khác nhau giữa chế độ trách nhiệm của chủ
DNTN và thành viên hợp danh của CTHD.
Theo Điều 141 LDN thì chủ DNTN là cá nhân duy nhất làm chủ doanh
nghiệp và đồng thời gánh chịu những rủi ro từ hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Đó là trách nhiệm vô hạn đối với một cá nhân duy nhất.
Căn cứ Khoản 1 Điều 137 LDN thì tất cả các thành viên hợp danh củaCTHD
là người đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động hàng ngày của
công ty. Tức là các thành viên hợp danh là chủ sở hữu chung của công ty có đầy
đủ các quyền điều hành và quản lý công ty. Đồng thời với những quyền chung
như vậy thì điểm đ khoản 2 Điều 134 LDN cũng quy định nghĩa vụ của thành
viên hợp danh phải “liên đới chịu trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại của
công ty nếu tài sản của công ty không đủ để trang trải số nợ của công ty”.
Như vậy, khác với chủ DNTN, thành viên hợp danh của CTHD chịu chế độ
trách nhiệm vô hạn với tính chất liên đới.
Tính chất liên đới của trách nhiệm vô hạn đem lại nhiều ưu thế hơn cho chế
độ trách nhiệm này. Bởi lẽ, chế độ trách nhiệm vô hạn liên đới đảm bảo quyền
của chủ nợ có thể yêu cầu một trong số các thành viên hợp danh phải thanh toán
tất cả khoản nợ của các thành viên khác hay một thành viên hợp danh không chỉ
có trách nhiệm đối với phần nợ của mình, mà còn có trách nhiệm đối với khoản
danh trong công ty thỏa thuận quyết định.
2.2.2. Loại thành viên:
DNTN chỉ có một chủ sở hữu duy nhất, nên vấn đề phân loại thành viên
không đặt ra đối với chủ DNTN.
Điều 130 LDN quy định CTHD có hai loại thành viên là thành viên hợp
danh và thành viên góp vốn. Chế độ pháp lý, quyền và nghĩa vụ của hai loại
thành viên này là khác nhau.
Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản
của mình về các nghĩa vụ của công ty. Một CTHD được thành lập phải có tối
thiểu hai thành viên hợp danh.
CTHD có thê có hoặc không có thành viên góp vốn, thành viên góp vốn chịu
trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công
ty.
2.2.3. Quyền của các thành viên:
Do là cá nhân duy nhất làm chủ doanh nghiệp, tự đầu tư vốn và gánh chịu
mọi rủi ro trong hoạt động của doanh nghiệp nên chủ DNTN có toàn quyền quản
lý, điều hành hoạt động và phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp mà không bị
giới hạn bởi bất kỳ chủ thể nào khác.
Trong khi đó, thành viên hợp danh của CTHD cũng có các quyền quản lý và
quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty, song quyền này
không hoàn toàn tuyệt đối và riêng biệt, vì nó còn phụ thuộc vào các thành viên
hợp danh khác và Hội đồng thành viên. Không những thế, thành viên hợp danh
còn bị hạn chế một số quyền như: không được kinh doanh cùng ngành nghề kinh
doanh của công ty nhân danh cá nhân hoặc người khác; …
Ngoài ra, chủ DNTN có thêm những đặc quyền khác mà thành viên hợp
danh không có là quyền cho thuê doanh nghiệp (Điều 144 LDN) và quyền bán
doanh nghiệp (Điều 145 LDN).
Nguyên nhân lý giải cho sự khác nhau về quyền của chủ DNTN và thành
tại khoản 1 Điều 132 LDN thì khi góp vốn vào CTHD các thành viên góp vốn
phải thực hiện việc chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty.
Do vậy, so với DNTN thì tài sản của CTHD có sự độc lập và tách biệt hẳn
với khối tài sản của thành viên công ty, đây cũng là một trong những ưu điểm
lớn của CTHD.
Khác biệt này là do sự tồn tại hai chế độ trách nhiệm trong CTHD. Do vậy
pháp luật phải quy định việc quản lý cũng như phân định rạch ròi phần tài sản
mà mỗi thành viên góp vào công ty để làm căn cứ xác định trách nhiệm của các
thành viên góp vốn đối với các nghĩa vụ của công ty.
2.4. Tư cách pháp lý.
Khoản 2 Điều 130 LDN quy định CTHD có tư cách pháp nhân kể tử ngày
được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Trong khi đó, Luật doanh nghiệp lại không công nhận tư cách pháp nhân cho
DNTN.
Đây là một trong những hạn chế của DNTN so với CTHD, bởi lẽ, tư cách
pháp nhân mặc dù không ảnh hưởng lớn đến hoạt động hợp pháp của doanh
nghiệp song trong một số trường hợp, tư cách pháp nhân lại đem đến cho doanh
nghiệp sự tin cậy hơn với các đối tác khó tính.
2.5. Tổ chức và hoạt động.
Do chỉ có một chủ sở hữu duy nhất nên việc tổ chức và hoạt động của
DNTN rất đơn giản, gọn nhẹ và do chủ DNTN quyết định, pháp luật không hề
quy định bắt buộc nào về tổ chức của DNTN.
Đối với CTHD, do tính phức tạp hơn về số lượng thành viên và chế độ trách
nhiệm nên LDN có một số quy định về tổ chức và hoạt động của công ty như
Điều 135, 136, 137 LDN. Tại đó, quy định về Hội đồng thành viên của CTHD,
tổ chức và hoạt động cũng như những vấn đề bắt buộc phải được Hội đồng
thành viên thông qua.
2.6. Thủ tục thành lập.
thức.
III. THỰC TIẾN THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH
NGHIỆP TƯ NHÂN VÀ CÔNG TY HỢP DANH.
1. Thực tiến:
1.1. Doanh nghiệp tư nhân:
Hiện tại, các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam tồn tài chủ yếu ở quy mô nhỏ
và vừa. Sự phát triển của DNTN chưa xứng tầm với những thuận lợi của nên
kinh tế.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong việc phát triển
quy mô DNTN là do những rào cản cũng như những ưu tiên cho loại hình DN
nhà nước từ phía Nhà nước. Trong khi, theo nghiên cứu, không có bất kỳ cản trở
nào trong việc cho phép DNTN phát hành trái phiếu, mặc dù khả năng thanh
toán nợ của loại hình doanh nghiệp này còn lớn hơn cả Công ty TNHH và Công
ty cổ phần.
Bên cạnh đó là các ưu đãi đối với các loại hình doanh nghiệp khác không
phải là DNTN mà đặc biệt là những ưu đãi đối với các Công ty Nhà nước tạo ra
sự bất bình đẳng trong cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, cản trở cơ chế tự động
đào thải của nền kinh tế thị trường. Cuộc điều tra về thị trường đất đai đã cho
thấy trong khi các doanh nghiệp tư nhân gặp rất nhiều khó khăn về mặt bằng sản
xuất thì những các doanh nghiệp nhà nước không những được ưu đãi về đất đai
sản xuất mà còn chiếm hữu đất ngoài sản xuất, thường được gọi là đất nhàn rỗi.
(Khu vực kinh tế tư nhân - Nguồn huyết mạch chưa khai thông - Trần Bình).
Bên cạnh đó khả năng tiếp cận tín dụng của DNTN còn yếu và rất hạn chế.
Nguyên nhân của tình trạng này là do việc các doanh nghiệp này có tài sản thế
chấp nhỏ, quy mô doanh nghiệp và pháp luật không cho phép phát hành chứng
khoán.
1.2. Công ty hợp danh.
So với DNTN , CT HD có nhiều ưu đãi hơn từ phía các quy định pháp luật
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Giáo trình Luật Thương mại ( Trường Đại học Luật Hà Nội ).
2) Luật doanh nghiệp năm 2005.
3) Phát luật về tổ chức các hình thức kinh doanh ( NXB Tư pháp, Hà Nội,
2007 ).
4) Nghị định 102 NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật
Doanh nghiệp.
5) Giáo trình lí luận chung nhà nước và pháp luật ( Trường Đại học Luật Hà
Nội ).