Nhóm A1 – 1 Dân sự 33A
Bài tập nhóm tháng 2 môn Luật Tố tụng Dân sự
A. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC TẠM ĐÌNH CHỈ VỤ ÁN DÂN SỰ TRONG
TỐ TỤNG DÂN SỰ:
I. Một số khái quát chung về tạm đình chỉ vụ án dân sự:
1. Khái niệm:
Tạm đình chỉ vụ án dân sự là hành vi tố tụng của Tòa án trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử. Cụ thể, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu có căn cứ do pháp
luật quy định để tạm ngừng việc giải quyết vụ án dân sự thì tòa án sẽ quyết định
tạm ngừng giải quyết vụ án. Để có một khái niệm toàn diện về tạm đình chỉ vụ án
dân sự, ta phải làm rõ một số khái niệm bên trong nó.
-
Tạm đình chỉ: theo từ Tiếng Việt thì tạm đình chỉ có ý nghĩa là tạm ngừng,
tạm thời không thực hiện hoạt động đó trong một khoảng thời gian nhất định,
khi có điều kiện sẽ thực hiện tiếp công việc đó.
- Vụ án dân sự: là các tranh chấp quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ
pháp luật về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động.
- Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc toà án quyết định tạm ngừng việc
giải quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ do pháp luật quy định.
2. Đặc điểm của việc tạm đình chỉ vụ án dân sự:
Thứ nhất: Việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự phải dựa trên những căn
cứ mà pháp luật đã quy định trước (quy định tại Điều 189 BLTTDS năm 2004),
trên cơ sở đảm bảo các quyền tố tụng dân sự, đảm bảo sự chính xác và đúng đắn
trong việc giải quyết vụ án hoặc đảm bảo sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức
trong việc giải quyết vụ án.
Thứ hai: Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc cơ quan tiến hành tố
tụng (Toà án) chỉ tạm thời cho ngừng giải quyết vụ án dân sự đã được thụ lí chứ
không phải cho ngừng hẳn việc giải quyết vụ án dân sự. Việc tạm đình chỉ giải
đình chỉ không còn nữa.
+ Căn cứ: căn cứ của việc tạm ngừng phiên toà, phiên họp thì việc tạm
ngừng phiên toà, phiên họp đang tiến hành là do Toà án cần có thêm thời gian để
làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ án đề có thể có quyết định đúng đắn cho việc
giải quyết như toà án cần phải xem xét chứng cứ, tài liệu để có cơ sở chắc chắn
cho kết luận về vụ việc. Còn căn cứ tạm đình chỉ (điều 189 BLTTDS 2004).
ii) Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự với việc hoãn phiên toà, phiên họp:
+ Về bản chất : Việc hoãn phiên toà, phiên họp về bản chất là việc toà án
quyết định không tiến hành phiên toà, phiên họp theo thời gian đã dự kiến và ấn
định từ trước do có những lí do nhất định. Việc quyết định hoãn phiên toà, phiên
họp được tiến hành tại phiên toà, phiên họp và thông thường là ở phần bắt đầu
phiên toà, phiên họp. Khi mở lại phiên toà, phiên họp thì các bước của phiên toà,
phiên họp sau đó phải được tiến hành lại từ đầu.
2
Nhóm A1 – 1 Dân sự 33A
Bài tập nhóm tháng 2 môn Luật Tố tụng Dân sự
+ Căn cứ: xét về căn cứ thì việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là do
chưa có chủ thể kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng, chưa xác định được người
đại diện hoặc chờ đợi kết quả giải quyết một vụ việc khác. Trong khi đó việc
hoãn phiên toà, phiên họp sẽ được toà án quyết định khi đương sự vắng mặt,
thẩm phán, hội thẩm nhân dân, người giám định, người phiên dịch vắng mặt
hoặc không thể tham gia tố tụng mà không có người thay thế ngay.
II. Quy định của pháp luật về việc tạm đình chỉ vụ án dân sự trong tố tụng dân
sự:
1. Những quy định về các căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự:
Theo hướng dẫn tại phần II mục 8 Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP của
HĐTPTADNTC ngày 12/5/2006 thì “ Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ việc
các quy định trong PLTTGQCVADS thì quy định trong BLTTDS đã khắc phục
được hạn chế trước đây. Bởi theo quy định trước đây thì việc tạm đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự được áp dụng trong trường hợp nguyên đơn, bị đơn chết mà
không áp dụng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên Tòa án
đang giải quyết vụ án dân sự cũng chỉ được ra quyết định tạm đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự khi đương sự là cá nhân chết nhưng quyền và nghĩa vụ tố
tụng của họ theo pháp luật quy định là được kế thừa. Điều 62 BLTTDS quy định
“ Đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền và nghĩa vụ tài sản
của họ được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố tụng”. Như vậy chỉ trong
trường hợp quyền và nghĩa vụ của đương sự đã chết là quyền và nghĩa vụ về tài
sản thì người thừa kế sẽ tham gia tố tụng còn đối với các quan hệ về nhân thân
thì không có sự kế thừa về quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự. Đây là một điểm
rất căn bản cần phải lưu ý để xác định là Tòa án sẽ ra quyết định tạm đình chỉ
giải quyết vụ án hay ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
ii) Đương sự là cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng phải chấm dứt hoạt động, bị
giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức mà chưa xác định
người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Theo hướng dẫn tại nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP của HĐTPTANDTC:
“Trường hợp cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, chia tách mà chưa có cơ quan, tổ chức
kế thừa quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó là trường hợp đã có quyết định
của cơ quan có thẩm quyền về việc sáp nhập, chia tách cơ quan đó nhưng cơ quan,
tổ chức mới chưa được thành lập hoặc đã được thành lập nhưng chưa đủ điều
kiện để hoạt động theo quy định của pháp luật đối với loại hình cơ quan , tổ chức
đó.”
Như vậy theo hướng dẫn trên nếu chưa xác định được cơ quan, tổ chức kế
thừa quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đã bị sáp nhập, chia, tách, giải thể
thì Tòa án sẽ ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đến khi khắc
4
không thể trực tiếp tham gia tố tụng để thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng.
Họ được xác định là người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự. Trong
trường hợp này cần có người đại diện theo pháp luật để tham gia tố tụng. Người
đại diện có thể là: cha mẹ đối với con chưa thành niên; người giám hộ đối với
5
Nhóm A1 – 1 Dân sự 33A
Bài tập nhóm tháng 2 môn Luật Tố tụng Dân sự
người được giám hộ; người được Tòa án chỉ định đối với người bị mất năng lực
hành vi dân sự. Như vậy nếu đương sự là người bị mất năng lực hành vi dân sự
nhưng chưa xác định được người đại diện theo pháp luật của họ thì Tòa án phải
tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Quy định này nhằm bảo vệ quyền và các lợi ích
của đương sự cũng như đảm bảo việc giải quyết vụ án được chính xác.
1.3 Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế
(khoản 3 Điều 189 BLTTDS)
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các đương sự có thể tự mình
hoặc nhờ người khác đại diện cho mình tham gia tố tụng. Theo hướng dẫn của
Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006, đại diện hợp pháp của đương
sự bao gồm đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền. Ngoài ra cơ quan
tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng là
đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự của người được bảo vệ (Điều 73
BLTTDS). Quan hệ đại diện là quan hệ pháp luật không tồn tại vĩnh viễn và có
thể bị chấm dứt khi có những sự kiện pháp lý nhất định. Tùy thuộc vào tính chất
của mỗi loại đại diện cụ thể, tùy thuộc vào ý chí của đương sự được đại diện mà
căn cứ chấm dứt mỗi loại đại diện khác nhau. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp,
việc chấm dứt đại diện đều dẫn đến một hệ quả pháp luật giống nhau đó là kết
thúc quan hệ pháp lý giữa người được đại diện và người được đại diện khi xác
lập, thực hiện giao dịch dân sự.
vào tình trạng phá sản thực hiện nghĩa vụ về tài sản phải tạm đình chỉ.
ii) Sự việc được quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới
giải quyết được vụ án.
Đây là trường hợp sau khi Tòa án thụ lý vụ án thì phát hiện được sự việc mà
đương sự yêu cầu phải được cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền giải quyết
trước. Trường hợp này Tòa án sẽ ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự và hướng dẫn đương sự gửi đơn yêu cầu cơ quan, tổ chức có thaamr
quyền giải quyết. Sau khi có kết quả giải quyết đương sự không đồng ý hoặc
không được giải quyết trong thời hạn thì Tòa án lại tiếp tục tiến hành giải quyết
vụ án. Theo quy định hiện nay, các trường hợp cần phải yêu cầu cơ quan, tổ
chức khác giải quyết trước là:
+ Đối với tranh chấp lao động cá nhân khi hội đồng hòa giải lao động cơ
sở hoặc hòa giải viên lao động hòa giải không thành hoặc không giải quyết trong
thời hạn luật định thì Tòa án nhân dân mới có thẩm quyền giải quyết tranh
chấp. Đối với tranh chấp lao động tập thể về quyền, sau khi chủ tịch UBND cấp
huyện đã giải quyết mà hai bên vẫn còn tranh chấp hoặc hết thời hạn giải quyết
theo quy định mà chủ tịch UBND huyện không giải quyết thì TA mới giải quyết.
7
Nhóm A1 – 1 Dân sự 33A
Bài tập nhóm tháng 2 môn Luật Tố tụng Dân sự
+ Đối với tranh chấp đất đai, Điều 136 Luật đất đai năm 2003 quy định
trường hợp tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hoặc một trong các giấy tờ hợp lệ khác tại khoản 1, khoản 2
Điều 50 Luật đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thuộc thẩm quyền
của Tòa án khi tranh chấp đã được hòa giải tại ủy ban nhân dân xã, phường, thị
trấn mà một trong các bên đương sự không nhất trí. Như vậy khi đơn kiện về
Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm có
thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Vì vậy trong thời hạn 5
ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ tòa án phải gửi quyết định
đó cho đương sự và VKSND cùng cấp (Điều 190 BLTTDS). Tòa án sẽ tiếp tục
giải quyết VADS bị tạm đình chỉ khi lý do tạm đình chỉ không còn( Điều 191
BLTTDS).
3. Thời hạn tạm đình chỉ vụ án dân sự:
Pháp luật không có những quy định cụ thể về thời hạn tạm đình chỉ vụ án dân
sự. Tuy nhiên, Tùy thuộc vào từng trường hợp thực tế, sau khi có quyết định tạm
đình chỉ vụ án dân sự, nếu thấy lí do hay căn cứ tạm đình chỉ không còn thì tòa
án sẽ lại tiếp tục giải quyết vụ án.
B. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TẠM ĐÌNH CHỈ VỤ ÁN DÂN SỰ - GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN:
I.
Thực trạng vấn đề tạm đình chỉ vụ án dân sự
1.
Những số liệu thống kê về việc áp dụng quy định pháp luật về tạm đình chỉ
vụ án dân sự trên thực tế:
Theo số liệu thống kê của Tòa Dân sự - Tòa án nhân dân tối cao năm 2008
về tình hình giải quyết các vụ việc dân sự cho thấy trong số các vụ án dân sự mà
Tòa án thụ lý thì số các vụ án bị tạm đình chỉ cũng chiếm một tỷ lệ không nhỏ:
- Đối với các vụ án phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự do Tòa án cấp huyện
giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thì số vụ án tồn lại trước đó là 10760 vụ, số vụ
mới thụ lý là 72321 vụ, đã giải quyết được 72494 vụ, số vụ bị tạm đình chỉ là
5102 vụ chiếm tỷ lệ là 7,03% tổng số vụ đã được giải quyết.
Ở các Tòa án cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì số lượng vụ án bị
tới những khó khăn sau:
2.1. Toà án tạm đình chỉ hay đình chỉ giải quyết vụ án nếu bị đơn là cá nhân
chết nhưng không để lại tài sản thừa kế?
Thực tiễn cho thấy nhiều vụ án bị đơn là cá nhân chết tuy có người thừa kế
nhưng bị đơn lại không để lại không để lại di sản thừa kế. Trong trường hợp này,
có Toà án đã vận dụng quy định tại khoản 1 Điều 189 BLTTDS, theo đó sẽ ra
quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với trường hợp “ Đương sự là cá nhân đã
chết… mà chưa có cá nhân… kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cá nhân…
đó”. Vậy nếu vận dụng như trên thì Toà án sẽ tiếp tục giải quyết vụ án. Toà án
10
Nhóm A1 – 1 Dân sự 33A
Bài tập nhóm tháng 2 môn Luật Tố tụng Dân sự
sẽ ra bản án buộc bị đơn đã chết trả nợ hay ra bản án bác đơn đòi nợ? Chúng ta
có thể thấy chưa có cơ sở pháp lý để trả lời cho câu hỏi này.
2. Vướng mắc khi vận dụng quyền của nguyên đơn đề nghị Toà án tạm đình chỉ
giải quyết vụ án.
Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 59 BLTTDS: “ Nguyên đơn có quyền
đề nghị Toà án tạm đình chỉ giải quyết vụ án”. Tuy nhiên, việc áp dụng quy định
này trong thực tế cũng gặp nhiều vướng mắc. Quy định này chưa thực sự rõ
ràng, bởi vì người ta không thể biết đề nghị này có cần phải phù hợp với các căn
cứ quy định tại Điều 189 BLTTDS không, do đó có các cách hiểu không thống
nhất. Hiện nay có nhiều Toà án áp dụng điểm d khoản 1 Điều 59 làm căn cứ dẫn
đến khoản 5 Điều 189 BLTTDS để ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án,
nhưng cũng có Toà án không ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hoặc
chỉ ra quyết định tạm đình chỉ khi xét thấy việc đương sự xin tạm đình chỉ giải
quyết vụ án có nêu được lý do chính đáng trong đơn đề nghị.
BLTTDS sẽ ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án.
3. Quyền tự định đoạt của đương sự bị hạn chế:
Trong nhiều trường hợp tất cả các đương sự trong vụ việc dân sự đều thoả
thuận và cùng đề nghị Toà án tạm đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự trong một
thời hạn nhất định để các bên có thời gian để hoà giải hoặc một bên đương sự
yêu cầu và các đương sự khác đều đồng ý, tuy nhiên pháp luật cũng chưa có quy
định nào điều chỉnh cụ thể để cho phép có một quyết định tạm đình chỉ vụ án
trong trường hợp này. Điều này ít nhiều ảnh hưởng đến quyền tự định đoạt của
nguyên đơn nói riêng và cảu đương sự nói chung.
II. Một số kiến nghị của nhóm:
Thứ nhất, đối với việc có hay không ra quyết định tạm đình chỉ vụ án trong
trường hợp bị đơn là cá nhân chết nhưng không để lại tài sản thừa kế. Xét về bản
chất, sự kiện người có nghĩa vụ chết không để lại di sản sẽ không thuộc căn cứ
tạm đình chỉ giải quyết vụ việc mà phải thuộc về căn cứ của việc đình chỉ giải
quyết vụ án. Tuy nhiên, do pháp luật không có quy định rõ ràng về người thừa
kế để xác định căn cứ đình chỉ vụ án nên dẫn tới việc vận dụng thực tế thiếu
thống nhất như trên. Theo chúng tôi, nếu đương sự là bị đơn trong vụ án chết, có
người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng nhưng không có tài sản để lại thì việc
ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án là không cần thiết. Trong trường
hợp này, pháp luật nên quy định Toà án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ
12
Nhóm A1 – 1 Dân sự 33A
Bài tập nhóm tháng 2 môn Luật Tố tụng Dân sự
án để tránh kéo dài thời gian giải quyết vụ việc. Đòng thời, cần phải có hướng
dẫn rõ ràng, chi tiết về đối tượng điều chỉnh trong từng trường hợp tại các văn
bản pháp quy, nhằm đảm báo việc vận dụng pháp luật được thống nhất trên
thực tế.