Đương sự và việc xác định tư cách
của đương sự trong vụ án dân sự
Bài nghiên cứu của nhóm trong chương trình đào tạo tín chỉ môn Luật Tố
tụng dân sự
1. Khái quát chung về đương sự trong vụ án dân sự trong vụ án dân sự.
1.1 Khái niệm đương sự trong vụ án dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự thì đương sự là chủ thể không thể thiếu.
Trong tiếng việt “đương sự” được hiểu “là người, là đối tượng trong một sự việc nào
đó được đưa ra giải quyết”. Như vậy theo nghĩa chung nhất thì đương sự chỉ là người,
là đối tượng trong một vụ việc nào đó được đưa ra giải quyết trong cuộc sống hàng
ngày.
Vụ án dân sự là những việc phát sinh tại Tòa án do các đương sự khởi kiện để yêu
cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, lợi ích công cộng, lợi ích nhà
nước hay quyền, lợi ích hợp pháp của người khác đang bị tranh chấp. Trong các vụ
án dân sự có một số người tham gia tố tụng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ
án dân sự tham gia với mục đích là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Trong
một số trường hợp tuy họ không có quyền lợi ích liên quan đến vụ án dân sự nhưng
lại tham gia tố tụng để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước trong lĩnh vực
được tham gia phụ trách. Họ có thể là cá nhân, cơ quan hay tổ chức (có tư cách pháp
nhân và không có tư cách pháp nhân).
Theo quy định tại khoản 1, Điều 56 BLTTDS 2004: “Đương sự trong vụ án dân sự là
cá nhân, cơ quan tổ chức bao gồm: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan”. Như vậy các đương sự trong vụ án dân sự khá phong phú đa dạng bao
gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập.
Có thể định nghĩa về đương sự trong vụ án dân sự như sau: “Đương sự trong vụ án
dân sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc
bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách”.
1
1.2, Năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự.
Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự là hai yếu tố
2
quyết số 01/2005/NQ – HĐTP ngày 31/3/2005 thì người chưa đủ 18 tuổi vẫn có thể
có đầy đủ năng lực hành vi TTDS (người vợ chưa đủ 18 tuổi họ có quyền tham gia
TTDS) hoặc người đủ 18 tuổi nhưng lại không có đầy đủ năng lực hành vi TTDS
(trong trường hợp Tòa án cấm cha, mẹ làm đại diện cho con thì họ không được tham
gia TTDS).
2. Đương sự trong vụ án dân sự.
Đương sự trong vụ án dân sự khá phong phú, đa dạng gồm: nguyên đơn, bị đơn,
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự (người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan không có yêu cầu độc lập, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu
cầu độc lập).
2.1, Nguyên đơn.
Khoản 2, Điều 56 quy định: “nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khời kiện,
người được cá nhân, cơ quan, tổ chức do bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu
tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó
bị xâm hại.
Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu tòa án
bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách cũng
là nguyên đơn”.
Điều đó cho thấy nguyên đơn có vai trò quan trọng trong vụ án dân sự so với các
đương sự khác. Vì để phát sinh vụ án dân sự tại TA, đồng thời là cơ sở đẻ bắt đầu
giải quyết vụ án dân sự phải có nguyên đơn khời kiện hoặc các chủ thể khác theo
quy định của pháp luật tố tụng khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn.
Để trở thành nguyên đơn thì cá nhân, cơ quan, tổ chức phải đáp ứng những yêu cầu
sau:
- Thứ nhất: khi các chủ thể cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm
hại. Điều này cho thấy việc nguyên đơn tham gia tố tụng mang tính chủ động, khi
nhận thấy quyền lợi của bản thân bị xâm hại chủ thể tự mình yêu cầu cơ quan chức
năng bảo vệ quyền lợi cho mình. Nó trái ngượi lại với tính bị động của bị đơn khi
tham gia tố tụng. Việc yêu cầu bảo vệ quyền lợi bị xâm hại xuất phát từ ý chí chủ
nhân, lợi ích công cộng…thì bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng trở
thành nguyên đơn trong trường hợp:
+ Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ
nguyên yêu cầu phân tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn.
+ Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nhưng người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người có nghĩa vụ với yêu cầu
4
độc lập trở thành nguyên đơn.
2.2, Bị đơn.
Nếu nguyên đơn là một trong những đương sự đóng vai trò quan trọng trong vụ án
dân sjw, tạo điều kiện tiên quyết để có vụ án dân sự phát sinh tại Tòa thì bị đơn
đóng vai trò không thể thiếu trong quá trình giải quyết vụa án dân sự. Bị đơn luôn đi
kèm với nguyên đơn, tư cách bị đơn được xác định cùng với tư cách nguyên đơn.
Khoản 3, Điều 56 BLTTDS quy định: “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên
đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện
để yêu cầu TA giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyề và lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn bị người đó xâm phạm”.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xác định là bị đơn trong vụ án dân sự khi đáp ứng được
điều kiện sau:
- Thứ nhất: là người bị nguyên đơn theo của BLTTDS khởi kiện. Xét về tính chất
việc tham gia tố tụng cảu bị đơn mang tính thụ động, do bị bắt buộc tham gia tố
tụng. Họ tham gia tố tụng không phải do họ gửi đơn khởi kiên tới TA mà buộc phải
tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn. Điều này trái ngược với tính
chủ động của nguyên đơn gửi đơn tói Tòa khi nhận thấy quyền lợi bị xâm hại cùng
lúc với việc nguyên đơn khởi kiện vụ án dân sự tại TA thì bị đơn cũng được xác lập,
đó là người mà nguyên đơn cho rằng đã xâm phạm đến quyền lợi của mình và khi
xét xử thì bị đơn được triệu tập nhằm giải quyết quyền lợi của nguyên đơn. Bị đơn
tham gia tố tụng để trả lời về việc kiện do bị nguyên đơn khởi kiện theo quy định của
pháp luật.
- Thứ hai: có năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.
trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải
quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình
đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Toà án chấp nhận đưa họ vào tham
gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”. Như vậy, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hiểu một cách chung nhất là người tham gia tố tụng
vào vụ án đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác với nguyên đơn và bị đơn, họ không phải
là người khởi kiện cũng không phải là người bị kiện. Việc tham gia tố tụng của người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự có thể do họ chủ động hoặc theo
yêu cầu của đương sự khác hoặc theo yêu cầu của TA. Do đó để có thể xác định là
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án dân sự mà TA đang giải quyết,
6
đồng thời phải được TA đưa họ vào tham gia tố tụng do thấy cần thiết hoặc theo yêu
cầu của chính họ.
Một trong những căn cứ chủ yếu để có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan tham gia tố
tụng là quyền đòi bồi hoàn như: quyền của chủ phương tiện đối với người lái xe của
họ trong trường hợp chủ phương tiện phải bồi thường cho người bị hại do người lái xe
gây ra; quyền và nghĩa vụ của người thứ ba liên quan khi giải quyết chia tài sản
chung với vợ chồng….
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có hai loại: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có yêu cầu độc lập và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu
độc lập hay còn gọi là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng
về phía nguyên đơn hoặc bị đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan tham gia vào vụ án dân sự đã xảy ra giữa nguyên đơn và bị đơn
để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, việc tham gia tố tụng của họ độc lập với
nguyên đơn, bị đơn. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cho
rằng đối tượng, phần đối tượng tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là thuộc về họ
chứ không phải thuộc về nguyên đơn hay bị đơn. Do vậy, yêu cầu của họ chỉ chống
- Khoản 1, Điều 56 BLTTDS đã có quy định về đương sự nhưng mới chỉ dừng lại ở
quy định về thành phần đương sự mà không có quy định khái niệm đương sự trong
vụ án dân sự cho nên trong thực tiễn không ít trường hợp TA xác định sai đương sự,
triệu tập thiếu hoặc triệu tập cả những người không phải là đương sự tham gia giải
quyết vụ án dân sự dẫn tới quá trình giải quyết vụ án không đúng đắn, quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự không được tôn trọng và bảo vệ.
- BLTTDS cũng chưa có quy định cụ thể về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án dân sự. Bởi trong thực tiễn có hai loại: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan tham gia tố tụng đứng về phía nguyên đơn hoặc bị đơn và người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng một cách độc lập.
-Trong thực tiễn nhiều vụ án dân sự có nhiều nguyên đơn và bị đơn, quyền và lợi
ích giữa các nguyên đơn và giữa các bị đơn có thể mâu thuẫn (độc lập) với nhau. Vì
vậy việc xác định các trường hợp này sẽ giúp cho việc giải quyết vụ án hiệu quả hơn.
- Điều 57 BLTTDS quy định về năng lực pháp luật TTDS và năng lực hành vi TTDS
đã thể hiện khá đầy đủ các nội dung cơ bản của năng lực pháp luật TTDS và năng lực
hành vi TTDS. Nhưng các quy định này dường như đồng nhất phạm trù năng lực
hành vi dân sự với phạm trù năng lực hành vi TTDS lấy điều kiện tham gia vào quan
hệ pháp luật dân sự là điều kiện tham gia vào quan hệ PLTTDS và QHPL dân sự làm
8
điều kiện tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS là chưa hợp lý. Vì quan hệ pháp luật
TTDS và quan hệ pháp luật là các quan hệ pháp luật khác nhau, có nội dung và yêu
cầu khác nhau.
3.2, Phương hướng hoàn thiện.
- Để việc giải quyết vụ án dân sự một cách đúng đắn, bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của các đương sự và lợi ích của nhà nước cần hoàn thiện một số quy định của
pháp luật về đương sự như sau:
- BLTTDS cần bổ sung thêm khái niệm: “Đương sự là người tham gia tố tụng để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà
nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách”.
- Cần quy định về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng về
mặt ở lần tiếp theo thì tôi phải làm sao?
Trả lời :
Theo Điều 200, điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự qui định khi bị đơn vắng mặt lần thứ nhất có
lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa; thời hạn hoãn phiên toà sơ thẩm không quá 30 ngày kể
từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa (trong quyết định này có ghi rõ thời gian, địa điểm mở lại
phiên tòa).
Trong trường hợp sau khi hoãn phiên tòa mà tòa án không thể mở lại phiên tòa đúng thời
gian, địa điểm mở lại phiên tòa ghi trong quyết định hoãn phiên tòa thì tòa án phải thông báo
ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng biết về thời gian, địa điểm mở
lại phiên tòa.
Khoản 2 điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự qui định bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần
thứ hai mà vẫn vắng mặt thì tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ. Vì vậy, nếu bà A cố tình
vắng mặt ở lần thứ hai thì tòa án vẫn tiến hành xét xử.
Phần trả lời giải đáp pháp luật ngày 22/10/2011
Do tôi làm ăn thua lỗ, tôi hiện đang mắc nợ khoảng 3 công ty tài chính, tổng số tiền
khoảng 100 triệu đồng. Đây là tiền trả góp, tôi đã thanh toán được mấy tháng nhưng 2 tháng
nay tôi chưa góp được, cả ba tổ chức đó đều đòi đưa tôi ra tòa án dân sự. Xin hỏi: Nếu ra tòa
án, tôi bị xử thua thì tôi sẽ đóng án phí khoảng bao nhiêu? Trong trường hợp này có bị xử tù
không? Nếu lúc nhận giấy triệu tập của tòa án, tôi có tiền để thanh toán hết trước ngày đó, tôi
có cần phải ra tòa vào ngày đó không ạ ?
Câu hỏi 1:
10
Anh Tuấn kết hôn với chị B năm 1990 có đăng ký kết hôn. Anh chị có một con chung và một
căn nhà diện tích 100 m2 tại Hà nội. Sau một thời gian sinh sống anh chị phát sinh mâu thuẫn.
Chị B và con về nhà bố mẹ đẻ chị B sống từ năm 2002 và đăng ký tạm trú tại huyện Tiên Lãng
thành phố Hải phòng. Anh Tuấn vẫn ở tại nhà cũ tại quận Hoàng Mai – Hà Nội. Nay anh Tuấn và
chị B có đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con và thỏa thuận về việc chia tài
sản chung vợ chồng nhưng không biết gửi đơn đến Tòa án nào. Anh Tuấn muốn hỏi là Tòa án có
thẩm quyền mà các bên đương sự có thể nộp đơn yêu cầu.
Trả lời:
thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”. Với quy định này, chị phải có nghĩa vụ thanh toán toàn
bộ số tiền đã vay cộng với số tiền lãi theo như thỏa thuận. Còn khi đến hạn, nếu chị không trả
nợ được và cững không thỏa thuận tiếp được với phía chủ nợ (03 công ty tài chính) trong việc
gia hạn thời gian trả nợ thì trong trường hợp này về nguyên tắc, nếu chưa hết thời hiệu khởi kiện
(hai năm - tính từ ngày đến hạn chị phải trả nợ) thì phía chủ nợ có quyền khởi kiện chị ra Tòa án
nơi chị cư trú để yêu cầu tòa án giải quyết xử buộc chị phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Khi tòa
thụ lý và tiến hành xét xử, trong trường hợp nếu chị thua kiện, ngoài việc trả nợ, chị sẽ chịu mức
án phí khoảng 5% số tiền nợ.
2. Trường hợp của chị không thể “bị xử tù”, vì người bị phạt tù là người có hành vi phạm
tội (như lừa đảo chiếm đoạt tài sản chẳng hạn). Tức là phải có dấu hiệu gian dối, phải chiếm
đoạt được tài sản của người khác và đặc biệt là phải do Cơ quan Nhà nước điều tra, đưa ra xét
xử (vụ án hình sự). Trường hợp của chị là quan hệ dân sự thuần túy, chị không gian dối gì, có
giấy vay nợ rõ ràng và lỗi của chị chỉ là không trả tiền đúng hạn. Đó không phải là hành vi tội
phạm mà là hành vi "vi phạm hợp đồng".
3. Thông thường, khi chị trả xong nợ thì phía nguyên đơn sẽ rút đơn, không kiện nữa.
Tuy nhiên, vì một lý do nào đó mà tại thời điểm tòa mời, chị đã trả xong tiền thì chị vẫn nên đến
tòa, và giao nộp cho tòa giấy tờ về việc trả nợ. Khi đó tòa sẽ hiểu và sẽ làm việc với phía các
nguyên đơn, để sau đó ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án.
Câu hỏi:
Năm 2006 gia đình tôi có cho một người họ hàng vay 2 cây vàng và hẹn 1 năm sau trả lại.
Nhưng khi đến hạn trả nợ do người này làm ăn thua lỗ nên gia đình tôi cũng chưa đòi lạ. Tuy
12
nhiên, đến nay, xét thấyngười này có điều kiện trả nợ và gia đình tôi muốnđòi lai số tiền trên
nhưng người này chây ỳ không muốn trả nợ khất hết lần này đến lần khác. Vậy, tôi muốn hỏi
nay nếu gia gia đình tôi muốn khởi kiện ra tòa án đòi lại số tiền trên thì còn thời hiệu khởi kiện
hay không ?
Trả lời:
Trước tiên, cần xem xét anh có giấy tờ hay chứng cứ gì để chứng minh việc cho vay hai cây
vàng hay không? Người vay cam kết ngày cuối cùng của thời hạn trả nợ là ngày nào để xác định
thời hiệu khởi kiện có còn hay không?
Điều 164 Bộ luật Tố tụng Dân sự và hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2006/NQ-HĐTP ngày
12/5/2006 (Mẫu số 01). Đơn kiện được gửi đến toà án cấp huyện nơi bị đơn cư trú theo quy
định tại điều 35 BLTTDS 2004, yêu cầu toà tuyên buộc bị đơn phải hoàn trả lại số tiền đã vay.
" Ngay sau khi sự việc xảy ra tôi đã được đua điến bệnh việc điều trị 15 ngày và khoản viện
phí tôi phải chi trả là 15 triệu đồng. Tôi muốn khởi kiện người gây ra tai nạn và yêu cầu phải bồi
thường thiệt hại cho tôi. Nhờ chương trình cho tôi biết tôi cần phải có những tài liệu, chứng cứ gì
để gửi đến toà án khi nộp đơn khởi kiện tình huống này ?"
Câu hỏi:
Tháng 9 vừa rồi tôi bị một người đàn ông cùng nơi cư trú là người điều khiển xe máy đi
cung chiều gây ra tai nạn. Theo biên bản khám nghiệm hiện trường do CA Phú Uyên lập thì
nguyên nhân của vụ tai nạn là do người đàn ông đó. Ngay sau khi sự việc xảy ra tôi đã được đua
điến bệnh việc điều trị 15 ngày và khoản viện phí tôi phải chi trả là 15 triệu đồng. Tôi muốn khởi
kiện người gây ra tai nạn và yêu cầu phải bồi thường thiệt hại cho tôi. Nhờ chương trình cho tôi
biết tôi cần phải có những tài liệu, chứng cứ gì để gửi đến toà án khi nộp đơn khởi kiện tình
huống này?
Trả lời:
Qua những tài liệu và chứng cứ mà chị gửi đến toà án khi chị khởi kiện sẽ được làm căn cứ
xác định xem yêu cầu của chị có căn cứ và hợp pháp hay không ?
Trong trường hợp của chị, tài liệu chị cung cấp cho toà án cần phải chứng minh được
rằng :
+ Thứ nhất, vụ tai nạn đó có xảy ra và lỗi thuộc về người đâm chị.
+ Thứ hai, tổn thất về mặt sức khỏe và tỉ lệ thương tật bao nhiêu phần trăm ?
14
+ Thứ ba, tổn thất về mặt kinh tế là chi phí cho việc điều trị và tiền viện phí, tiền thuốc
chữa bệnh.
Vì vậy, các tài liệu chị cần chuẩn bị gồm :
• Biên bản khám nghiệm hiện trường – do CA huyện (cơ quan nhà nước có thẩm quyền )
lập ghi lại tình tiết vụ việc tai nạn và qua đó chứng minh được lỗi thuộc về người đâm chị. Và để
có đuợc biên bản khám nghiệm hiện trường của CA huyện, chị có quyền yêu cầu cá nhân những
cơ qua tổ chức đang lưu giữ và quản lý chứng cứ cung cấp chứng cư đó để mình giao cho cơ
- Nếu là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập mà việc
vắng mặt người này không ảnh hưởng đến việc hòa giải của các đương sự khác thì Tòa án
hòa giải bình thường, nếu ảnh hưởng đến việc hòa giải của các đương sự khác thì Tòa án
phải đưa vụ án ra xét xử (Điều 184, khoản 3).
Thứ ba: Tại phiên tòa mà có đương sự vắng mặt thì áp dụng Điều 199, Điều 200,
Điều 201, Điều 202.
Phần thủ tục đương sự vắng mặt nay xuất hiện thì cần phải hỏi lý do họ đến Tòa
muộn. Nếu việc đến muộn có lý do chính đáng cho việc đến muộn và có yêu cầu thì Hội
đồng xét xử tiến hành thủ tục hỏi đối với họ. Hội đồng xét xử tiến hành bình thường
2. Theo nghị quyết 01/2005/HĐTP hướng dẫn thi hành BLTTDS thì trường hợp Tòa
án đang tiến hành giải quyết việc dân sự, nếu có tranh chấp thì Tòa án đình chỉ việc giải
quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 311, Điều 192, đồng thời hướng dẫn đương sự
khởi kiện vụ án dân sự để Tòa án thụ lý giải quyết. Vậy, trường hợp nào thì Tòa án không
chấp nhận đơn yêu cầu của đương sự theo điểm g, khoản 1 Điều 315.
Tại sao trường hợp trên Tòa án không áp dụng điểm g khoản 1 Điều 315 ra quyết
định công nhận yêu cầu của đương sự vì có tranh chấp. Còn việc khởi kiện vụ án dân sự
hay không là tùy vào ý chí của các đương sự?
Trả lời: Để có thể xác định một loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
là việc dân sự, dấu hiệu đặc trưng và căn bản là loại việc này không có tranh chấp (phân
biệt với loại việc cũng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là vụ án dân sự) theo Điều
1 BLTTDS.
16
Vì vậy, nếu có tranh chấp thì về hình thức, đó đã không còn là một việc dân sự. Ví
dụ việc thuận tình ly hôn đòi hỏi đương sự phải thuận tình ly hôn, thỏa thuận được về
quan hệ tài sản, thỏa thuận về quan hệ về nuôi con. Sau khi nộp đơn yêu cầu, đương sự
lại không thống nhất được về tài sản hoặc về con thì loại việc này không được coi là việc
thuận tình ly hôn (việc dân sự theo khoản 2 Điều 28), mà đó là yêu cầu có tranh chấp
quan hệ tài sản, quan hệ về con (vụ án dân sự theo khoản 1 Điều 27).
Trường hợp áp dụng Điều 315 khoản 1 điểm g thì đây là trường hợp Tòa án đang
giải quyết về nội dung, thấy yêu cầu không có cơ sở chấp nhận. Ví dụ yêu cầu Tòa án
dụ việc thuận tình ly hôn.
Tuy nhiên, hiện tại việc thuận tình ly hôn có được tòa án hòa giải trong quá trình
giải quyết vụ án hay không đang là vấn đề có nhiều ý kiến. Trong trường hợp cụ thể này
cần đợi hướng dẫn của Tòa án tối cao hoặc các Tòa nên có văn bản trực tiếp đề nghị Tòa
án tối cao hướng dẫn.
6. án phí trong việc dân sự?
Trả lời: Về nguyên tắc các quy định cụ thể về án phí, lệ phí như mức án phí, mức lệ
phí, người phải chịu án phí, người phải chịu lệ phí… được quy định trong văn bản do Uỷ
ban thường vụ quốc hội ban hành (Điều 134 Bộ luật tố tụng dân sự).
Vấn đề này, Điều 1, Mục IV, Nghị định số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của
Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau: Đối với những việc dân
sự mà theo quy định của pháp luật tố tụng trước đây được coi như vụ án dân sự, thì áp
dụng theo mức án phí tương ứng với Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 về án phí, lệ phí
Tòa án. Đối với các loại việc dân sự mà các văn bản quy phạm pháp luật có quy định mực
lệ phí, thì thực hiện các quy định đó.
Trong thực tế, các Tòa án thụ lý và giải quyết các việc dân sự thường xem xét vận
dụng quy định về mức án phí dân sự của loại án không có giá ngạch quy định trong Nghị
định 70/CP, mức thu là 50.000 đồng.
18
“Tôi và một người khác đang tranh chấp đất đai và công nợ. Nay muốn đề
nghị tòa xét xử thì thủ tục thế nào” (bạn đọc Hồng Nga).
Trả lời:
Theo Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, muốn khởi kiện một
người ra tòa, người khởi kiện (nguyên đơn) phải làm đơn kiện gửi tới tòa, kèm theo
các tài liệu chứng minh cho nội dung khởi kiện. Ví dụ, kiện đòi nợ thì kèm theo đơn
phải là giấy biên nhận tiền, thanh toán nợ, lãi
Tòa án có thẩm quyền thụ lý là TAND quận, huyện nơi cư trú của người bị
kiện, hoặc TAND tỉnh, thành phố (nếu có yếu tố nước ngoài). Sau khi xem xét đơn
khởi kiện, tòa án báo cho nguyên đơn nộp tạm ứng án phí và thụ lý vụ kiện. Thời
hạn đưa vụ kiện ra xét xử tối đa là 6 tháng kể từ ngày thụ lý đơn khởi kiện.