Bài tập lớn học kì môn Luật tố tụng hình sự
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………....1
NỘI DUNG……………………………………………………………………………..1
I . khái quát chung về bị can, bị cáo địa vị pháp lý của bị can bị cáo………………...1
1. khái niệm bị can, địa vị pháp lý của bị can………………………………………...1
2. Khái niệm bị can, địa vị pháp lý của bị cáo…………………………………………1
II. Các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về địa vị pháp lý của bị can, bị
cáo…………………………………………………………………………………………….2
1. Các quy định của pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của bị can……………….2
a. Các quyền tố tụng……………………………………………………………….2
* Quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì……………………………………………2
* Quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ…………………………………………3
* Quyền được trình bày lời khai…………………………………………………………3
* Quyền được đưa ra tài kiệu, đồ vật, yêu cầu ………………………………………..3
* Quyền được đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên
dịch…………………………………………………………………………………………..3
* Quyền được bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa………………………………4
* Quyền được nhận các quyết định văn bản tố tụng…………………………………..4
* Quyền khiếu nại, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng………………………………………………………………..5
b. Các quyền tố tụng………………………………………………………………..5
2. Các quy định của pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của bị cáo……………….6
a. Các quyền tố tụng…………………………………………………………………….6
* Quyền được nhận các quyết định, văn bản tố tụng…………………………………..6
* Quyền được tham gia phiên toà………………………………………………………7
* Quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ………………………………………….8
* Quyền được yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên
dịch theo quy định của pháp luật……………………………………………………..………8
* Đưa ra tài liệu, đồ vật yêu cầu………………………………………………..….……8
tố về hình sự.
Như vậy, theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành thì bị can là người bị
khởi tố về hình sự và tham gia tố tụng từ khi có quyết định khởi tố bị can. Bị can sẽ tham gia
vào các giai đoạn điều tra, truy tố và một phần giai đoạn xét xử sơ thẩm. Tư cách tố tụng của
bị can sẽ chấm dứt khi cơ quan điều tra đình chỉ điều tra, Viện kiểm sát đình chỉ vụ án, Toà
án đình chit vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đối với bị can hoặc toà án ra quyết định
đưa vụ án ra xét xử. Khi một người bị khởi tố về hình sự thì họ sẽ trở thành đối tượng bị
buộc tội trong vụ án. Tuy vậy, điều đó không có nghĩa xác định họ là người có tội. Đây là
vấn đề có tính nguyên tắc. Vì vậy theo quy định tại Điều 72 Hiến pháp 1992 và Điều 9
BLTTHS 2003 thì: “ Không ai bị coi là cố tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết
tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật.”
Trong tố tụng hình sự chưa có một khái niệm chính thức nào về địa vị pháp lý của bị
can. Nhưng dựa vào những đặc điểm đã phân tích ở trên có thể thấy: địa vị pháp lý của bị
can là tổng thể các nguyên tắc và nghĩa vụ của người đã bị khởi tố về hình sự trong quá trình
tham gia tố tụng hình sự. Khi một người có đại vị pháp lý là bị can thì họ sẽ có các quyền và
nghĩa vụ nhất định theo quy định của pháp luật. Quyền và nghĩa vụ của bị can được quy định
cụ thể tại Khoản 2 Điều 49 BLTTHS 2003.
2. Khái niệm bị can, địa vị pháp lý của bị cáo.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 50 BLTTHS thì: Bị cáo là người đã bị Toà án quyết
định đưa ra xét xử.
Như vậy bị cáo tham gia tố tụng kể từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến khi
bản án hoặc quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật. Và khái niệm bị cáo không đồng
nghĩa với khái niệm chủ thể của tội phạm. Bị cáo cũng không phải người có tội. Họ chỉ trở
thành người có tội nếu sau khi xét xử họ bị Toà án ra bản án kết tội và bản án đã có hiệu lực
pháp luật.
Cũng tương tự như bị can. Từ trước tới nay chưa có một khái niệm cụ thể nào về địa vị
pháp lý của bị cáo. Và dựa trên những gì đã phân tích ở trên có thể rút ra khái niệm cụ thể về
địa vị pháp lý của bị cáo: Địa vị pháp lý của bị cáo chính là tổng thể các quyền và nghĩa vụ
2
định khởi tố bị can cần phải có đầy đủ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 126
BLTTHS và phải được tống đạt đến bị can theo đúng quy định của pháp luật. Theo quy định
của pháp luật thì cơ quan điều tra phải có trách nhiệm giao ngay quyết định khởi tố bị can và
giải thích các quyền và nghĩa vụ cho bị can.
Như vây, việc thực hiện và đảm bảo tốt quyền này của bị can sẽ tạo điều kiện cho
CQTHTT và NTHTT nhanh chóng kịp thời điều tra, xác minh sự thật vụ án góp phần giảm
bớt những oan sai trong việc thụ lý và giải quyết vụ án hình sự.
* Quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ.
Khi biết mình bị khởi tố về tội gì thì bị can sẽ rất mong muốn được biết mình có những
quyền và nghĩa vụ gì để thực hiện nhằm gỡ tội cho mình. Và để đảm bảo cho bị can biết
được mình có những quyền và nghĩa vụ gì thì BLTTHS 2003 đã quy định cụ thể là bị can có
quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ. Việc thực hiện được quyền này của bị can đồng
nghĩa với việc CQTHTT và NTHTT phải thực hiện tốt nghĩa vụ của mình. Đó là nghĩa vụ
giải thích cho bị can hiểu rõ họ có những quyền và nghĩa vụ gì.
3
Bài tập lớn học kì môn Luật tố tụng hình sự
Quyền này của bị can là một quyền mới được quy định trong BLTTHS 2003. Trong
BLTTHS 1998 thì bị can không có được quyền này. Mà theo như BLTTHS 1998 thì quyền
này gần như được ngầm hiểu theo quyền biết mình bị khởi tố về tội gì.
Việc đảm bảo quyền này của bị can cũng có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo quyền
con người của bị can cũng như góp phần nhanh chóng kịp thời giải quyết vụ án, xác minh sự
thật vụ án.
* Quyền được trình bày lời khai.
Đây cũng là một quy định mới của BLTTHS 2003 về các quyền và nghĩa vụ của bị can
trong tố tụng hình sự. Theo quy định này thì bị can có quyền trình bày lời khai về những vấn
đề liên quan đến vụ án mà họ bị khởi tố.
Đây là quyền chứ không phải nghĩa vụ của bị can. Do vậy nhiều khi bị can đã sử dụng
của tố tụng hình sự. Bởi vì, việc thay đổi NTHTT, người giám định, người phiên dịch để
4
Bài tập lớn học kì môn Luật tố tụng hình sự
đảm bảo vụ án được điều tra xét xử một cách công khai minh bạch, sự thật của vụ án được
xác minh một cách khách quan, công bằng là điều rất cần thiết.
Theo đó, bị can có quyền đề nghị thay đổi NTHTT, người giám định, người phiên dịch
nếu có căn cứ rõ ràng để cho rằng họ không thể vô tư trong khi làm nhiệm vụ vè việc họ tiến
hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng có thể làm cho vụ án được giải quyết theo hướng không
có lợi cho bị can. Khi các CQTHTT nhận được thay đổi NTHTT, người giám định, người
phiên dịch của bị can thì cần phải xem xét giải quyết yêu cầu đó nếu thấy yêu cầu đó là có
căn cứ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Việc đảm bảo tốt quyền được đề nghị thay đổi NTHTT, người giám định, người phiên
dịch của bị can góp phần đảm bảo tính công khai minh bạch trong tố tụng hình sự và đảm
bảo nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tham gia tiến hành tố tụng.
* Quyền được bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.
Đây là một quyền quan trọng vủa bị can trong tố tụng hình sự. Bị can có quyền tự bào
chữa. Theo đó thì bị can có quyền dùng những lý lẽ và chứng cứ để gỡ tội và để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình tham gia tố tụng. Quyền tự bào chữa
không phải là một quyền độc lập, tách rời với các quyền khác của bị can mà quyền bào chữa
chính là sự tổng hoà các quyền của bị can trong tố tụng hình sự để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình. Bởi vì khi tham gia vào quá trình tố tụng, ngoài việc bị can đưa ra
những lý lẽ, chứng cứ để gỡ tội cho mình thì bị can còn thực hiện quyền bào chữa của mình
thông qua việc thực hiện các quyền như quyền trình bày lời khai, quyền đưa ra tài kiệu đồ
vật, yêu cầu… Việc thực hiện các quyền này của bị can không chỉ nhằm gỡ tội cho bị can
mà còn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khác của bị can.
Ngoài quyền tự bào chữa, bị can còn có quyền nhờ người khác bào chữa cho mình.
Quyền này thể hiện sự đảm bảo của pháp luật cho quyền bào chữa của bị can. Pháp luật đảm
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Theo quy định tại Điều 328 BLTTHS 2003 thì bị can chỉ có quyền khiếu nại trong thời
gian 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng mà bị can cho rằng
có vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, Điều 328 cũng quy định, trong trường hợp vì đau ốm, thiên
tai, địch hoạ, đi công tác, học tập ở những nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan mà bị
can không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời gian có trở ngại đó
không tính vào thời hiệu khiếu nại.
Các chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải xem xét và giải quyết khiếu nại
theo đúng quy định và thời hạn pháp luật quy định. Kết quả xem xét, giải quyết khiếu nại
phải được thông báo bằng văn bản cho bị can biết.
Theo quy định tại Điều 329 BLTTHS 2003 thì đối với khiếu nại về quyết định, hành vi
tố tụng của điều tra viên, phó thủ trưởng cơ quan điều tra do thủ trưởng cơ quan điều tra xem
xét và giải quyết trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý
với kết quả giải quyết khiếu nại thì bị can có quyền khiếu nại đến viện kiểm sát cũng cấp
phải xem xét, giả quyết. Việm kiểm sát cùng cấp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của thủ trưởng cơ quan điều tra và các quyết định
của cơ quan điều tra đã được viện kiểm sát phê chuẩn do viện kiểm sát cùng cấp giải quyết
trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với kết quả giải
quyết thì bị can có quyền khiếu nại đến viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, viện kiểm sát cấp trên phải xem xét và giải quyết.
Viện kiểm sát cấp trên có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.
Theo quy định tại Điều 330 BLTTHS 2003 thì khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của
phó viện trưởng viện kiểm sát, Kiểm sát viên do viện trưởng viện kiểm sát giải quyết ttrong
thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết
thì bị can có quyền khiếu nại đến viện kiểm sát cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết. Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng viện kiểm sát do viện kiểm sát
cấp trên trực tiếp giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.
d. Các quyền tố tụng.
nghĩa vụ tương ứng với mình. Quyền đầu tiên của bị cáo là quyền được nhận quyết định đưa
vụ án ra xét xử; quyết định áp dụng thay đổi hoặc huỷ bỏ ác biện pháp ngăn chặn; quyết định
đình chỉ vụ án; bản án, quyết định của Toà án; các quyết định tố tụng khác theo quy định của
BLTTHS.
Trong đó, quyền được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử là quyền quan trọng của bị
cáo. Vì quyết định đó sẽ khiến người bị buộc tội chuyển từ tư cách bị can sang tư cách bị
cáo. Và bị can dựa vào quyết định đưa vụ án ra xét xử sẽ có thể biết được mình bị đưa ra xét
xử với tội danh gì, thời gian, địa điểm mở phiên toà, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký toà án
tham gia phiên toà (Thẩm phán dự khuyết, Hội thẩm dự khuyết nếu có), Kiểm sát viên tham
gia phiên toà (Khiểm sát viên dự khuyết nếu có), người bào chữa, người phiên dịch, những
người được triệu tập để xét hỏi tại phiên toà, vật chứng cần xem xét tại phiên toà.
Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải có đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 178
BLTTHS 2003. Theo quy định tại khoản 1 Điều 182 BLTTHS thì quyết định đưa vụ án ra
xét xử phải được giao cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ chậm nhất là 10 ngày
trước khi phiên toà mở. Trong trường hợp xét xử vắng mặt bị cáo thì quyết định đưa vụ án ra
xét xử sẽ được giao cho người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp của bị cáo. Quyết
định đưa vụ án ra xét xử cũng cần phải được niêm yết tại trụ sở chính quyền xã, phường, thị
trấn nơi cư trú hoặc nơi làm việc cuối cũng của bị cáo. Nếu CQTHTT, NTHTT không đảm
bảo thực hiện tốt quyền này của bị cáo thì bị cáo có quyền yêu cầu hoãn phiên toà.
Trog quá trình xét xử, khi có lý do hợp pháp và xét thấy cần thiết hoặc không cần thiết
phải áp dụng biện pháp ngăn chặn thì CQTHTT, NTHTT có thể ra quyết định áp dụng, thay
đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn. Để đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ của bị cáo thì bị cáo
7
Bài tập lớn học kì môn Luật tố tụng hình sự
có những quyền được nhận quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn.
Quyết định này phải được gửi ngay cho bị cáo cũng như Viện kiểm sát cũng cấp hay trại
giam nơi bị cáo đang bị tạm giam.
nghĩa vụ tham gia phiên toà của mình. Có nhiều trường hợp bị cáo trốn tránh không tham dự
phiên toà xét xử. Điều đó đã gây khó khăn cho việc xét xử của Toà án làm ảnh hưởng đến
việc xác minh sự thật vụ án. Do vậy, để đảm bảo cho việc xét xử được tiến hành thuận lợi thì
khoản 2 Điều 187 đã quy định Toà án có thể xét xử vắng mặt bị cáo trong các trường hợp: bị
cáo trốn tránh và việc truy nã không có hiệu quả; bị cáo đang ở nước ngoài và không thể
triệu tập đến phiên toà; nếu sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử và họ đã
được giao giấy triệu tập hợp lệ.
Theo hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số
05/2005/ NQ – HĐTP ngày 8/12/2005 hướng dẫn thi hành một số quyết định trong phần thứ
8
Bài tập lớn học kì môn Luật tố tụng hình sự
tự xét xử phúc thẩm của BLTTHS thì:” trong trường hợp bị cáo có kháng cáo, bị kháng
cáo, kháng nghị thì Toà án xét xử vắng mặt họ theo quy định tại khoản 2 Điều 187
BLTTHS.”. Theo khoản 2 Điều 187 thì Toà án xét xử vắng mặt bị cáo trong trường hợp bị
cáo là người có kháng cáo thì không hợp lý. Việc bị cáo vắng mặt mà không có lý do chính
đáng sẽ gây khó khăn, trở ngại cho việc xét xử của Toà án thì cần phải coi là bị cáo đã từ bỏ
việc kháng cáo của mình và phiên toà phúc thẩm sẽ bị huỷ bỏ.
* Quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ.
Trong quá trình tham gia tố tụng, người bị buộc tội sẽ có địa vị pháp lý khác nhau
tương ứng với mỗi tư cách tố tụng trong từng giai đoạn tố tụng. Và khi người bị buộc tội
tham gia tố tụng với tư cách bị cáo thì họ sẽ có những quyền và nghĩa vụ tương ứng với tư
cách bị cáo. Do vậy, họ cũng cần được CQTHTT, NTHTT giải thích cho họ hiểu về quyền
và nghĩa vụ của mình.
Bị cáo tham gia tố tụng kể từ khi có quyết định của Toà án đưa vụ án ra xét xử. Theo
quy định tại Điều 201 BLTTHS 2003 về thủ tục bắt đầu phiên toà thì Chủ toạ phiên toà là
người giải thích cho bị cáo cũng như nhưng người được triệu tập có mặt tại phiên toà về
quyền và nghĩa vụ của họ.
Tại phiên toà xét xử, bị cáo có quyền đưa ra những tài liệu, đồ vật. Trong quá trình điều
tra, bị cáo cũng có quyền đưa ra những tài liệu, đồ vật nhưng những tài liệu, đồ vật đó có thể
chưa phải là những tài liệu, đồ vật quan trọng hoặc chưa đưa ra vì chưa tìm được. Và đến khi
bị đưa ra xét xử thì những tài liệu đồ vật mà bị cáo đưa ra thường là những tài liệu, đò vật
mới được tìm thấy hoặc là rất quan trọng đối với vụ án, có ý nghĩa gỡ tội cho bị cáo, chứng
minh bị cáo không phạm tội hoặc những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Hội đồng xét xử phải kiểm tra, xác minh và đánh giá các đồ vật, tài liệu đó có phải là
chứng cứ quan trọng trong vụ án không và giá trị của chúng trong việc xác minh sự thật vụ
án.
Bị cáo cũng có quyền đưa ra các yêu cầu. Nhưng BLTTHS không quy định rõ bị cáo có
quyền đưa ra những yêu cầu gì. Và thực tế cho thấy, bị cáo thường yêu cầu những vấn đề
như yêu cầu triệu tập then người làm chứng, yêu cầu đưa them vật chứng, yêu cầu hoãn
phiên toà… các yêu cầu này phải Hội đồng xem xét quyết định.
Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu của bị cáo cần phải được đảm bảo trong suốt quá
trình xét xử từ khi bắt đầu phiên toà đến phần xét hỏi tại phiên toà cũng như trạnh luận tại
phiên toà. Đảm bảo tốt quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu của bị cáo trong suốt quá trình
xét xử sẽ góp phần đảm bảo việc xác minh sự thật vụ án , đảm bảo được quyền và lợi ích
hợp pháp của bị cáo.
* Quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.
Quyền tự bào chữa được thực hiện ngay khi một người bị khỏi tố về hình sự. Khi họ trở
thành đối tượng bị buộc tội thì quyền bào chữa được thực hiện trong suốt quá trình điều tra,
truy tố, xét xử dưới nhiều hình thức khác nhau. Điều 217 BLTTHS 2003 trong phân tranh
luận tại phiên toà có ghi rõ: sau khi kết thúc phần xét hỏi, kiểm sát viên trinh bày lời luận tội
thì bị cáo có quyền trình bày lời bào chữa của mình. Trong trường hợp bị cáo có người bào
chữa thì người bào chữa sẽ bào chữa cho bị cáo và bị cáo bổ sung ý kiến bào chữa. Như vậy,
trong trường hợp bị cáo không hiểu rõ về pháp luật thì việc người bào chữa tham gia phiên
toà bào chữa cho bị cáo đóng vai trò rất quan trọng, đặc biệt là trong trường hợp bị cáo
không hiểu rõ về pháp luật thì việc người bào chữa tham gia phiên toà bào chữa cho bị cáo
đóng vai trò rất quan trọng, đặc biệt là trong trường hợp bị cáo chưa thành niên, có nhược
đồng xét xử sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự… của bị cáo nên có
ý nghĩa rất quan trọng. Pháp luật quy định cho bị cáo nói lời sau cùng cũng là tạo điều kiện,
cơ hội cho bị cáo được bày tỏ thái độ, nguyện vọng của mình trước khi hội đồng xét xử đưa
ra những quyết định đối với vụ án.
Khi nói lời sau cùng bị cáo cũng có quyền trình bày mọi vấn đề liên quan đến vụ án và
bày tỏ thái độ của mình đối với việc buộc tội… Pháp luật quy định trong khi bị cáo nói lời
sau cùng thì Hội đồng xét xử không được phép đặt câu hỏi. Quy định nhằm nhấn mạnh việc
Hội đồng xét xử cần phải chú ý và tôn trọng quyền nói lời sau cùng của bị cáo. Nhưng để
tránh cho bị cáo trình bày dài dòng hay không trình bày vấn đề chính thì luật cũng quy định
Hội đồng xét xử có quyền yêu cầu bị cáo không được trình bày những quan điểm không liên
quan đến vụ án nhưng không được hạn chế thời gian đối với bị cáo.
Khi nói lời sau cùng trước khi nghị án thì bị cáo khai báo thêm tình tiết mới có ý nghĩa
trong quan trọng việc xác định sự thật vụ án thì Hội đồng xét xử phải quyết định trở lại phần
xét hỏi. Quy định này sẽ đảm bào cho Hội đồng xét xử không bỏ qua những tình tiết có ý
nghĩa quan trọng đối với vụ án.
* Quyền kháng cáo bản án quyết định của Toà án.
Kháng cáo là quyền cho phép bị cáo chống lại bản án và quyết định của Toà án chưa có
hiệu lực pháp luật và đòi xét xử lại. Theo quy định tại Điều 233 BLTTHS 2003 thì bị cáo
phải gửi đơn đến Toà án đã xét xử sơ thẩm hoặc Toà án phúc thẩm. Trong trường hợp bị
cáo đang bị tạm giam thì ban giám thị trại giam phải đảm bảo cho bị cáo thực hiện quyền
kháng cáo. Trong trường hợp này, Toà án phải lập biên bản về việc kháng cáo đó theo quy
định tại Điều 95 BLTTHS.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo
vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo sẽ được tính từ ngày bản án được giao cho họ
hoặc được niêm yết. Và nếu đơn kháng cáo của bị cáo được gửi qua đường bưu điện thì ngày
kháng cáo được tính căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng đấu phong bì. Trong trường hợp
đơn kháng cáo được gửi banh giám thị trại giam thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào
ngày Ban giám thị trại giam nhận được đơn. Các quy định này nhằm đảm bảo sự công bằng,
khách quan trong việc kháng cáo của bị can.
11
lợi ích hợp pháp của mình thì bị cáo có quyền khiếu nại. Bị cáo có quyền khiếu nại các quyết
định, hành vi tố tụng của chánh án, phó chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký phiên toà.
Đối tượng của khiếu nại là các quyế định không thuộc đối tượng của kháng cáo như:
quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định đình chỉ, tạm
đình chỉ vụ án của thầm phán được phân công chủ toạ phiên toà…
Bị cáo cũng có quyền khiếu nại hành vi của người tiến hành tố tụng nếu các hành vi đó
trái pháp luật. Theo đó, bị cáo có quyền khiếu nại các hành vi của Chánh án, phó chánh án,
Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án nếu các hành vi đó là trái pháp luật và xâm hại đến
quyền lợi hợp pháp của bị cáo, ảnh hưởng đến việc xác minh sự thật vụ án.
Khiếu nại trong giai đoạn xét xử chủ yếu liên quan đến các quyết định, hành vi tố tụng
cuat Toà án nên chủ thể giải quyết khiếu nại chủ yếu là Toà án mà người đại diện là chánh
án. Theo quy định tại Điều 331 BLTTHS, khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của thẩm
phán, Phó chánh án trước khi mở phiên toà do chánh án toà án giải quyết trong thời hạn 7
ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu bị cáo không đồng ý với quyết định giải quyết
khiếu nại thì có quyền tiếp tục khiếu nại với Toà án cấp trên trực tiếp. Toà án cấp trên trực
12
Bài tập lớn học kì môn Luật tố tụng hình sự
tiếp có thẩm quyền và nhiệm vụ giải quyết trong thời hạn 15 ngày. Quyết định gải quyết
khiếu nại của Toà án cấp trên là quyết định cuối cùng và không thể bị khiếu nại.
Đối với khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của chánh án thì do Toà án cấp trên giải
quyết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định này là quyết định
cuối cùng, không thể bị khiếu nại tiếp và bị cáo có nghĩa vụ phải chấp hành.
Khi bản án quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật thig về nguyên tắc bị cáo không
thể kháng cáo và phải chấp hành nhưng vẫn có khiếu nại. Việc giải quyết khiếu nại trong
trường hợp này phải được giải quyết theo trình tự, thủ tục quy định tai chương XXX – thủ
tục Giám đốc thẩm và chương XXXI – Thủ tục tái thẩm của BLTTHS 2003.
Thời hiệu khiếu nại của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được hành vi,
đã giảm hình phạt cho các bị cáo đầu vụ thấp hơn hình phạt đối với các bị cáo vai trò thứ yêu
13
Bài tập lớn học kì môn Luật tố tụng hình sự
trong vụ án. Điều đó làm ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi hợp pháp của các bị cáo có vai trò
thứ yếu trong vụ án.
Ngoài ra sự chuẩn bị của một số thẩm phán chưa tốt, thể hiện ở việc điều khiển phiên
toà và đặc biệt là phần xét hỏi. Có những trường hợp thẩm vấn bị cáo còn chưa được khách
quan. Trong một số vụ án, thẩm phán lung túng khi xuất hiện những tình tiết mới. tên tuổi
của bị cáo, số liệu còn nhầm lẫn. Một số bản án không thể hiện những ý kiến quan trọng của
công tố và luật sư. Những điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự xác minh sự thật vụ án
cũng như đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp ccuar bị cáo.
Trong tố tụng hình sự thì quyền bào chữa của bị can, bị cáo là một quyền rất quan trọng
và có ý nghĩa lớn trong việc xác định sự thật vụ án. Nhưng vấn đề cấp giấy chứng nhận
người bào chữa cho bị can, bị cáo còn nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó, trong luật tố tụng hình sự vẫn còn tồn tại những vấn đề như mớm cung, ép
cung, dùng nhục hình. Việc làm trái quy định pháp luật đó của những NTHTT đã xâm hại
nghiêm trọng đến quyền lợi ích của bị can, bị cáo và còn làm sai lệch nghiêm trọng sự thật
khách quan của vụ án.
b. Từ phia bị can, bị cáo.
Bị can, bị cáo là những người có quyền và lợi ích bị ảnh hưởng nhiều nhất trong tố tụng
hình sự nhưng nhiều trường hợp bị can, bị cáo chưa thực sự có ý thức bảo vệ quyền lợi của
mình, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa nơi có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, trình độ dân
trí kém phát triển.
Theo số liệu thống kê của TNDTC thì năm 2006 TAND xét xử 61634 vụ án với 99340
bị cáo nhưng chỉ có 6007 vụ án tham gia của người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi ích
hợp pháp của đương sự. Năm 2009 là 7255 vụ án có sự tham gia của người bào chữa trên
tổng số 68425 vụ án được đưa ra xét xử.
đến khi quyết định đó được viện kiểm sát phê chuẩn. Theo đó cần có hướng dẫn cụ thể về
vấn đề này nhằm đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp cua bị can.
Quy định tại điểm b khoản 1 Điều 179 BLTTHS trong phần chuẩn bị xét xử: Theo đó
thẩm phán sẽ ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung cho Viện kiểm sát khi có căn cứ cho
rằng bị cáo phạm tội khác hoặc có đồng phạm khác. Theo quy định tại Điều 50 BLTTS thì bị
cáo là người đã bị toà án đưa vụ án ra xét xử. Nhưng quy định trên lại thuộc phần xét xử.
Khi đó thẩm phán đang xem xét để ra quyết định đưa vụ án ra xét xử hay không và tư cách
của người bị khởi tố trong vụ án hình sự vẫn là bị can. Bởi vậy, pháp luật quy định là “ cho
rằng bị cáo phạm một tội khác…” là không đúng và cần phải sửa thành “cho rằng bị can
phạm một tội khác…”
Quy định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS 2003: Vấn đề từ chối người bào chữa quy định
tại khoản 2 Điều 57 BLTTH 2003 cần hoàn thiện thêm vì quy định như vậy còn bất cập,
không hợp lý. Việc không phân biệt quyền từ chối người bào chữa của hai nhóm đối tượng
được quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 điều luật này là một sự không chặt chẽ về mặt lý
luận
Quy định về thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa: cần bổ sung quy định về thủ
tục CGCNNBC ngay trong BLTTHS đồng thời bổ sung chế tài đối với người có hành vi vi
phạm thời hạn cấp giấy chứng nhận. Đặc biệt là cần có chế tài xử lý nghiêm đối với những
NTHTT có hành vi tác động đến bị can, bị cáo để họ phải từ chối luật sư, nhằm ngăn cản
luật sư tham gia tố tụng.
Sửa đổi Điều 196 về giới hạn của việc xét xử: Theo quy định tại Điều 196 thì: Toà án
cũng có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiếm sát truy tố trong cùng
một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn mà viện kiểm sát đã truy tố. Điều này
có thể gây bất lợi cho bị cáo trong việc thực hiện quyền bào chữa của mình. Do vậy cần phải
sửa đổi theo hướng để toà án trong bất kì trường hợp nào cũng không được vượt quá giới
hạn truy tố của viện kiểm sát nếu điều đó làm bất lợi cho bị cáo. Toà án chỉ có thể vượt quá
giới hạn truy tố của Viện kiểm sát nếu không làm bất lợi cho bị cáo, không ảnh hưởng đến
quyền bào chữa của bị cáo.
Quy định tại chương 34 BLTTHS về thủ tục rút gọn: điều đó làm ảnh hưởng không nhỏ
đến bị can thực hiện các quyền của mình trong tố tụng hình sự. Do đó cần có sự sủa đổi, bổ
nhưng NTHTT. Như vậy sẽ đảm bảo các điều kiện tốt nhất để NTHTT thực hiện tốt chức
năng, nhiệm vụ được giao góp phần đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của bị an, bị cáo trong
tố tụng hình sự.
KẾT LUẬN
Địa vị pháp lý của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự được thể hiện thông qua quyền và
nghĩa vụ cụ thể của họ trong quá trình tố tụng. Ngoài các quyền và nghĩa vụ cụ thể được quy
định tại Điều 49 và 50 BLTTHS 2003 thì bị can, bị cáo còn có các quyền khác được quy
định như một nguyên tắc trong tố tụng hình sự như quyền bất khả xâm phạm về thân thể,
quyền bình đẳng trước pháp luật… Có thể thấy, câc quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo
trong tố tụng hình sự đã tạo cho họ một vị thế chắc chăn để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của
mình.
Việc đảm bảo tốt quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự là quyền lợi
cũng là trách nhiệm của chính bị can, bị cáo và những NTHTT trong quá trình tố tụng.
16
Bài tập lớn học kì môn Luật tố tụng hình sự
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường đại học Luật Hà Nội – Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam – NXB công
an nhân dân, Hà Nội, 2008.
2. Nguyễn Mai Bộ - một số vướng mắc, bất cập trong các quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự và hướng hoàn thiện – tạp chí nhà nước pháp luật số 4/2009.
3. Khoá luận tốt nghiệp “địa vị pháp lý của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự” – Vũ
Thị Kim Thuỳ.
4. Bộ Luật Tố tụng hình sự
17