Bài tập học kỳ - Môn Luật tố tụng hình sự Việt Nam
A. MỞ ĐẦU.
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được tiến hành sau khi tòa án nhận được cáo
trạng quyết định truy tố bị can và hồ sơ vụ án do viện kiểm sát chuyển đến. Do
vậy, mọi chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án chỉ là tài liệu để tòa án xem xét, kiểm
tra nhằm đưa ra những phán quyết khách quan phù hợp với quy định của pháp
luật. Tất cả những thông tin, tài liệu, đồ vật thu thập được trong giai đoạn điều
tra, truy tố đều được đưa ra xem xét công khai tại phiên tòa thông qua việc xét
hỏi và tranh luận. Xét xử sơ thẩm là xét xử lần đầu nên trong giai đoạn này tòa
án phải giải quyết mọi vấn đề của vụ án trên cơ sở cáo trạng mà viện kiểm sát
truy tố. Xét xử sơ thẩm có ý nghĩa rất quan trọng nhằm bảo vệ pháp chế xã hội
chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, góp phần đấu tranh phòng ngừa
và chống tội phạm. Việc xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự phải dựa trên thẩm
quyền của các cấp tòa án, không phải bất kì cấp nào cũng có thể xét xử một vụ
án cụ thể. Việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của tòa án có ý nghĩa rất
quan trọng và là cơ sở để xác định thẩm quyền xét xử của tòa án trong các giai
đoạn tiếp theo.
B. NỘI DUNG.
I. Khái niệm thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Thẩm quyền của tòa án theo nghĩa chung nhất được hiểu là quyền xem xét
và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Khi xét xử, tòa án ra bản án
nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bản án của tòa cụ thể hóa
đường lối, chính sách, quan điểm của Nhà nước đối với việc xử lí người có hành
vi phạm tội.
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm là quyền mà pháp luật quy định cho phép tòa
án được xét xử sơ thẩm vụ án hình sự căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm
1
Bài tập học kỳ - Môn Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Bài tập học kỳ - Môn Luật tố tụng hình sự Việt Nam
cách dè dặt, đánh giá thấp khả năng trình độ của thẩm phán thì sẽ dẫn đến tình
trạng tòa án cấp trên phải xét xử quá nhiều, án tồn đọng với số lượng lớn.
Thực tiễn xét xử ở nước ta cho thấy, hiện nay trình độ của đội ngũ thẩm
phán, hội thẩm nhân dân ngày càng được nâng cao và có khả năng xét xử được
những vụ án mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là mười lăm
năm tù trở xuống, bên cạnh đó số lượng biên chế của tòa án cấp huyện và cơ sở
vật chất đã tương đối ổn định. Vì vậy thẩm quyền xét xử của tòa án cấp huyện
ngày càng được mở rộng hơn so với trước đây, cụ thể:
Khoản 1 Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về thẩm
quyền xét xử của tòa án nhân dân cấp huyện và tòa án quân sự khu vực: Tòa án
nhân dân cấp huyện và toà án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về
những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm
trọng, trừ những tội phạm sau đây:
a)
b)
Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;
Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến
c)
tranh;
Các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219,
222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của
Bộ luật hình sự năm 1999.
Như vậy Bộ luật tố tụng hình sự 2003 đã xác định thẩm quyền của tòa án
- Vụ án phức tạp (có nhiều tình tiết khó đánh giá thống nhất về tính chất
vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành).
- Vụ án mà bị cáo là thẩm phán, kiểm sát viên, sĩ quan Công an, cán bộ
lãnh đạo chủ chốt ở cấp huyện, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín
cao trong dân tộc ít người.
2. Thẩm quyền xét xử theo đối tượng.
Thẩm quyền xét xử theo đối tượng là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa
tòa án nhân dân và tòa án quân sự căn cứ vào đối tượng phạm tội.
Điều 3 Pháp lệnh tổ chức tòa án quân sự năm 2002 quy định các tòa án
quân sự có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự như sau:
4
Bài tập học kỳ - Môn Luật tố tụng hình sự Việt Nam
“Các tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự mà bị cáo
là:
1.
Quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân quốc phòng, quân nhân dự
bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn
sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ phối thuộc với quân đội trong chiến
đấu, phục vụ chiến đấu và những người được trưng tập làm nhiệm vụ
2.
quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lí;
Những người không thuộc các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này
mà phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho
quân đội”.
như địa điểm, thiết bị, kế hoạch quân sự… thì tòa án quân sự xét xử. Những việc
phạm tội khác, tòa án quân sự có thể chuyển vụ án cho tòa án nhân dân. Nếu có
tranh chấp về thẩm quyền giữa tòa án nhân dân và tòa án quân sự thì chánh án
Tòa án nhân dân tối cao xem xét và quyết định.
3. Thẩm quyền theo lãnh thổ.
Thẩm quyền theo lãnh thổ là sự phân định thẩm quyền xét xử căn cứ vào
nơi tội phạm được thực hiện và nơi kết thúc điều tra.
Thông thường, vụ án hình sự được xét xử ở tòa án nơi tội phạm thực hiện.
Trong trường hợp tội phạm được thực hiện ở nhiều nơi khác nhau hoặc không
xác định được nơi thực hiện tội phạm thì tòa án có thẩm quyền xét xử là tòa án
nơi kết thúc việc điều tra.
Trường hợp bị cáo phạm tội ở nước ngoài thì thẩm quyền xét xử của tòa
án nhân dân được xác định như sau: Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở
Việt Nam thì tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị
cáo xét xử. Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị
cáo thì tùy trường hợp chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí
Minh xét xử. Nếu vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự thì do tòa
6
Bài tập học kỳ - Môn Luật tố tụng hình sự Việt Nam
án quân sự cấp quân khu trở lên xét xử theo quyết định của chánh án Tòa án
quân sự trung ương.
Đối với những vụ án xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ở nước ngoài thì tòa án nhân dân ở
Việt Nam nơi có sân bay, bến cảng mà tàu bay, tàu biển đó trở về đầu tiên trên
lãnh thổ Việt Nam hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng kí có thẩm quyền xét
xử.
4. Thẩm quyền chuyển vụ án.
luật tố tụng hình sự. Như vậy, rõ ràng đây là điều chưa phù hợp của pháp luật tố
tụng hình sự.
Pháp luật tố tụng hình sự chưa quy định rõ ràng về việc giải quyết tranh
chấp về thẩm quyền xét xử sơ thẩm. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
thì việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử do Chánh án Tòa án cấp trên
trực tiếp quyết định, việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa Tòa
án nhân dân và Tòa án quân sự do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định.
Bộ luật tố tụng hình sự có quy định “Khi thấy vụ án không thuộc thẩm quyền
giải quyết của mình thì Tòa án chuyển vụ án cho Tòa án có thẩm quyền giải
quyết”. Tuy nhiên, Bộ luật tố tụng hình sự chỉ mới quy định chung chung như
vậy mà không quy định thủ tục chuyển vụ án. Chính vì quy định như trên mà
trên thực tế, gặp rất nhiều trường hợp Tòa án chuyển trả hồ sơ vụ án cho Viện
kiểm sát để Viện kiểm sát chuyển cho cấp có thẩm quyền truy tố; có Tòa lại
chuyển cho Tòa án cấp có thẩm quyền để cho Viện kiểm sát cùng cấp truy tố
lại… việc này làm mất rất nhiều thời gian và tốn kém chi phí xét xử và còn làm
chậm cho tiến độ xét xử vụ án.
Việc xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân theo đối tượng
cũng đang còn gặp nhiều vướng mắc trong thực tiễn, bởi theo lẽ thông thường
Tòa án nhân dân cấp tỉnh quyết định lấy các vụ án mà người phạm tội là cán bộ
8
Bài tập học kỳ - Môn Luật tố tụng hình sự Việt Nam
chủ chốt cấp tỉnh, cấp huyện, cấp trung ương, người người có chức sắc tôn giáo,
địa vị lớn trong xã hội…lên để xét xử. Chính điều này, không có một văn bản
nào quy định cụ thể, đã gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Việc quy
định như thế này còn dễ dẫn đến tùy tiện trong áp dụng và trong thực tế sẽ gây
khó khăn cho việc giải quyết vụ án do khi chuyển vụ án từ cấp dưới lên sẽ phải
làm lại cáo trạng truy tố vì Viện kiểm sát cấp dưới không thể ủy nhiệm cho Viện
kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử được, do đó hồ sơ
thì dù vụ án đó do Toà án nhân dân xét xử hay Toà án quân sự xét xử thì bản án
xét xử lại phần dân sự trong vụ án hình sự vẫn là “bản án hình sự”, trong khi đó
những người tham gia tố tụng tố tụng được ghi trong bản án không phải là bị
cáo, người bị hại, mà là nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự dân sự.
Theo quy định của pháp luật thì Toà án có thẩm quyền xét xử vụ án hình
sự là Toà án nơi tội phạm được thực hiện. Trong trường hợp tội phạm được thực
hiện ở nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì
Toà án có thẩm quyền xét xử là Toà án nơi kết thúc việc điều tra. Hiện nay có
nhiều trường hợp tội phạm được thực hiện ở một nơi hoặc nhiều nơi nhưng
không do Cơ quan điều tra địa phương khởi tố, kết thúc điều tra, mà do Cơ quan
điều tra Bộ Công an khởi tố, kết thúc điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ra
bản cáo trạng và uỷ quyền cho Viện kiểm sát địa phương nơi Toà án có thẩm
quyền xét xử vụ án tham gia phiên toà sơ thẩm để bảo vệ bản cáo trạng của Viện
kiểm sát nhân dân tối cao. Đây cũng là vấn đề thực tiễn xét xử gặp nhiều vướng
mắc, nhất là đối với Kiểm sát viên tham gia phiên toà; nhiều trường hợp không
bảo vệ được cáo trạng vì không có thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án. Bởi lẽ, theo
quy định tại khoản 3 Điều 166 Bộ luật tố tụng hình sự thì trong thời hạn ba ngày,
kể từ ngày ra quyết định truy tố bằng bản cáo trạng, Viện kiểm sát phải gửi hồ sơ
và bản cáo trạng đến Toà án. Nếu bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tối
cao thì chỉ có 3 ngày, Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án có thẩm
quyền xét xử sơ thẩm vụ án đó, Kiểm sát viên được uỷ quyền tham gia phiên toà
10
Bài tập học kỳ - Môn Luật tố tụng hình sự Việt Nam
không có thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án, nhiều vụ án, do không có thời gian
nghiên cứu hồ sơ vụ án, nên tại phiên toà Kiểm sát viên lúng túng không chỉ khi
xét hỏi mà khi luận tội cũng như tranh luận với người bào chữa gặp rất nhiều khó
khăn; có trường hợp Kiểm sát viên phải đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà.
IV. Giải pháp nhằm hoàn thiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
khu vực phải tiếp tục nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và tăng cường cơ sở vật
chất trong thời gian nhất định để đủ điều kiện khả năng xét xử sơ thẩm đa số các
vụ án hình sự trong đó có các vụ án hiện nay đang thuộc thẩm quyền của tòa án
nhân dân cấp tỉnh.
Cần tăng cường công tác tổng kết áp dụng thống nhất pháp luật, nâng cao
nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của xét xử sơ thẩm. Tiếp tục hoàn
thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ thẩm phán, tăng cường phối hợp giữa
các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự ở cấp
sơ thẩm.
C. KẾT LUẬN.
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của tòa án có ý nghĩa rất quan trọng đối với
việc tổ chức hệ thống các cơ quan tố tụng nhằm giải quyết vụ án một cách khách
quan và đầy đủ, đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử. Cách phân định thẩm quyền
xét xử sơ thẩm của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 là khá hợp lý, phù hợp với
thực trạng xét xử ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định và cần được giải quyết trong thời
gian tới nhằm đảm bảo cho hoạt động xét xử sơ thẩm của các tòa án diễn ra
thuận lợi và hiệu quả.
12
Bài tập học kỳ - Môn Luật tố tụng hình sự Việt Nam
MỤC LỤC
Bài tập học kỳ - Môn Luật tố tụng hình sự Việt Nam
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO