Những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về địa vị pháp lý của bị can - Pdf 34

Bài tập học kì môn Luật Tố Tụng Hình Sự

MỤC LỤC
MỤC LỤC.......................................................................................................................................................1
BẢNG TỪ VIẾT TẮT........................................................................................................................................2
LỜI MỞ ĐẦU.................................................................................................................................................3
NỘI DUNG.....................................................................................................................................................4

1.2. Những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về địa vị pháp lý của
bị can.......................................................................................................................5
1.2.1. Quyền của bị can...........................................................................................5
Không phải trong mọi quyết định và hành vi tố tụng của CQTHTT, NTHTT đều
đúng theo quy định của pháp luật. Do vậy, để đảm bảo thực hiện tốt các quy định
của pháp luật cũng như đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị can thì pháp
luật cho phép bị can có quyền khiếu nại các quyết định và hành vi tố tụng của
CQTHTT, NTHTT. Các chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải xem xét
và giải quyết khiếu nại theo đúng quy định và thời hạn mà pháp luật đề ra. Kết
quả xem xét, giải quyết khiếu nại phải được thông báo bằng văn bản cho bị can
biết. 1.2.2. Nghĩa vụ của bị can...............................................................................8
2. ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO.......................................................................8
2.1. Khái niệm bị cáo và địa vị pháp lí của bị cáo..................................................8
2.2.1. Quyền của bị cáo...........................................................................................8
2.2.2. Những quy định về nghĩa vụ của bị cáo:.....................................................12
Như vậy, cũng giống như bị can, bị cáo cũng có nghĩa vụ phải có mặt theo giấy
triệu tập của CQTHTT và ở đây là tòa án.............................................................12
II. THỰC TRẠNG ĐẢM QUYỀN LỢI CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO TRONG TỐ
TỤNG HÌNH SỰ:.................................................................................................12
1. Những kết quả đã đạt được từ phía cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng...................................................................................................................12
1.1. Từ phía cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng..........................12
1.2. Từ phía bị can, bị cáo.....................................................................................13

NTGTT
CQĐT
VKS
NBC

Cơ quan tiến hành tố tụng
Người tiến hành tô tụng
Người tham gia tố tụng
Cơ quan điều tra
Viện kiểm sát
Người bào chữa

LỜI MỞ ĐẦU
Trong TTHS các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng gồm có CQTHTT,
NTHTT và NTGTT. Trong đó bị can, bị cáo là những NTGTT, là đối tượng bị
buộc tội bởi cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Bộ luật tố tụng hình
sự Việt Nam quy định như thế nào là bị can, như thế nào là bị cáo? Và địa vị pháp
lí của bị can, bị cáo ra sao? Để hiểu rõ được những câu hỏi trên, em đã lựa chọn đề
Page 3


Bài tập học kì môn Luật Tố Tụng Hình Sự

tài: “Địa vị pháp lí của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự” để giải quyết cho bài
tập lớn học kì môn luật tố tụng hình sự của mình.

NỘI DUNG
Theo từ điển Luật học, địa vị pháp lí là vị trí của chủ thể pháp luật trong
mối quan hệ với những chủ thể khác trên cơ sở các quy định của pháp luật. Địa vị
pháp lí của chủ thể pháp luật thể hiện thành tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lí


Địa vị pháp lí của bị can là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của người đã bị
khởi tố về hình sự trong quá trình tham gia tố tụng hình sự. Địa vị pháp lí của bị
can được phân biệt với địa vị pháp lí của các chủ thể khác chính bằng các quyền và
nghĩa vụ của bị can.
1.2. Những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về địa vị pháp lý của
bị can
1.2.1. Quyền của bị can
(1) Quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì:
Theo điểm a khoản 2 Điều 49 BLTTHS bị cáo có quyền: “được biết mình bị
khởi tố về tội gì”. Không phải vô cớ mà các nhà làm luật đặt quyền này lên đầu tiên
khi xây dựng các quy định pháp luật về quyền của bị can, bởi đây là quyền rất quan
trọng, quyền đầu tiên và là quyền ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện các quyền
khác của bị can. Thông qua hành vi giao các quyết định tố tụng và giải thích các
quyền và nghĩa vụ của CQTHTT hoặc NTHTT cho bị can thì quyền này được xác
lập. Với sự tống đạt quyết định khởi tố bị can, người bị nghi ngờ phạm tội sẽ biết
được mình bị pháp luật truy tố về tội danh gì, theo điều nào của BLHS để từ đó có
thể tiến hành tự bào chữa hoặc nhờ NBC - bảo đảm quyền lợi cho mình.
Tuy nhiên trên thực tế việc thực hiện quyền này của bị can vẫn chưa thực sự
được đảm bảo vì nhiều lí do. Có thể kể đến như do NTHTT không giải thích cụ thể
cho bị can biết họ bị khởi tố về tội gì; cũng nhiều trường hợp do chính nhận thức
pháp luật của bị can chưa cao, không hiểu cặn kẽ nội dung của các quyết định tố
tụng. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc chuẩn bị các tài liệu, chứng cứ của bị
can cũng như tự bào chữa cho mình, gây khó khăn hơn cho công tác điều tra, xác
định sự thật vụ án.
(2) Quyền được giải thích quyền và nghĩa vụ:
Tại điểm b khoản 2 Điều 49 quy định bị can: “được giải thích về quyền và
nghĩa vụ”. Việc giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can là điều vô cùng cần thiết,
nhất là trong điều kiện nhận thức về pháp luật của nhiều người dân Việt Nam chưa
cao. Việc giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can cũng chính là việc CQTHTT,

Theo điểm d khoản 2 Điều 49 bị can có quyền cung cấp những tài liệu, đồ
vật có liên quan đến vụ án cũng như những yêu cầu như: trưng cầu giám định, giám
định bổ sung... Khi cơ quan điều tra nhận được các tài liệu, đồ vật đó thì họ phải
tiến hành kiểm tra, đánh giá khách quan để xác định các tài liệu đồ vật đó có phải là
chứng cứ trong vụ án hay không.
Thực tế, CQTHTT và NTHTT không xem xét một cách khách quan những
chứng cứ hay yêu cầu mà bị can đưa ra đã vội vàng bác bỏ khi thấy chúng không
phù hợp với hướng điều tra của mình. Ta có thể thấy biểu hiện của sự vi phạm ngay
trong cách đặt câu hỏi với bị can. Những câu hỏi chỉ có dạng trả lời là “có” hay
“không” đã không gợi mở và tạo cho bị can cơ hội được đưa ra những chứng cứ và
yêu cầu của mình.
(5) Quyền được đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định,
người phiên dịch:
Sự thật vụ án chỉ được xác định một cách chính xác nếu các chủ thể trên thực
hiện tốt được vai trò của mình trong mỗi giai đoạn của tố tụng hình sự. Bởi vậy, khi
có căn cứ rõ ràng để cho rằng NTHTT, người giám định, người phiên dịch không
Page 6


Bài tập học kì môn Luật Tố Tụng Hình Sự

vô tư trong khi làm nhiệm vụ thì bị can có quyền đề nghị việc thay đổi để đảm bảo
vụ án được điều tra xét xử một cách công khai minh bạch, sự thật của vụ án được
xác định một cách khách quan, công bằng.
(6) Quyền được tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa:
Đây là một quyền quan trọng của bị can trong TTHS quy định tại điểm e
khoản 2 Điều 49, bị can có quyền: “tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa”.
Theo đó bị can có quyền dùng những lý lẽ và chứng cứ để gỡ tội và để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Quyền tự bào chữa không phải là quyền độc
lập mà nó chính là sự tổng hòa các quyền của bị can trong TTHS. Ngoài việc bị can

Không phải trong mọi quyết định và hành vi tố tụng của CQTHTT, NTHTT
đều đúng theo quy định của pháp luật. Do vậy, để đảm bảo thực hiện tốt các quy
định của pháp luật cũng như đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị can thì pháp
luật cho phép bị can có quyền khiếu nại các quyết định và hành vi tố tụng của
CQTHTT, NTHTT. Các chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải xem xét
và giải quyết khiếu nại theo đúng quy định và thời hạn mà pháp luật đề ra. Kết quả
xem xét, giải quyết khiếu nại phải được thông báo bằng văn bản cho bị can biết.
1.2.2. Nghĩa vụ của bị can
Bị can là đối tượng bị buộc tội, còn CQTHTT là chủ thể có nghĩa vụ phải
chứng minh hành vi phạm tội và đưa ra kết luận cuối cùng để giải quyết vụ án, do
đó pháp luật không quy định nhiều về nghĩa vụ của bị can.
Bị can phải có mặt theo giấy triệu tập của CQĐT, VKS. Trong trường hợp bị
can được tại ngoại, khi cần triệu tập bị can để tiến hành các hoạt động điều tra hoặc
các hoạt động tố tụng khác, CQTHTT phải triệu tập bị can bằng giấy triệu tập theo
đúng thủ tục luật định. Bị can có nghĩa vụ phải có mặt theo giấy triệu tập của
CQTHTT, nếu vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị áp giải; nếu bỏ
trốn thì bị truy nã.
2. ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO
2.1. Khái niệm bị cáo và địa vị pháp lí của bị cáo
Theo quy định tại khoản 1 Điều 50 BLTTHS 2003: “bị cáo là người đã bị
Tòa án quyết định đưa ra xét xử”. Bị cáo tham gia tố tụng từ khi có quyết định đưa
vụ án ra xét xử đến khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Cũng tương tự như bị can, địa vị pháp lí của bị cáo là tổng thể các quyền và
nghĩa vụ của người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử trong quá trình tham gia
tố tụng hình sự. Địa vị pháp lí của bị cáo được phân biệt với địa vị pháp lí của các
chủ thể khác chính bằng các quyền và nghĩa vụ của bị cáo.
2.2. Những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về địa vị pháp lý của
bị cáo
2.2.1. Quyền của bị cáo
(1) Quyền được nhận các quyết định, văn bản tố tụng:

nguyên tắc, thể hiện sự bình đẳng, khách quan trong TTHS đó là bình đẳng giữa
một bên là Hội đồng xét xử, kiểm sát viên – chủ thể mang quyền lực nhà nước và
một bên là bị cáo – người bị buộc tội. Tại phiên tòa bị cáo sẽ bình đẳng với Kiểm
sát viên và những người tham gia tố tụng khác trong việc đưa ra chứng cứ tài liệu
đồ vật yêu cầu và tranh luận dân chủ tại phiên tòa.
Đây đồng thời là quyền nhưng cũng là nghĩa vụ vì Điều 187 BLTTHS 2003
đã quy định rõ. Pháp luật quy định sự có mặt của bị cáo tại phiên tòa xét xử sẽ đảm
bảo cho bị cáo thực hiện tốt việc bảo vệ quyền lợi của mình. Hơn nữa, sự có mặt
của bị cáo tại phiên tòa còn thể hiện tính công khai minh bạch khi xét xử, đảm bảo
được quyền bình đẳng trước tòa của bị cáo. Tuy nhiên không phải trong mọi trường
hợp bị cáo đều thực hiện tốt quyền hay cũng là nghĩa vụ tham gia phiên tòa nên để
đảm bảo cho việc xét xử được tiến hành thuận lợi thì khoản 2 Điều 178 đã quy định
Tòa án có thể xét xử vắng mặt bị cáo.
(3) Quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ:

Page 9


Bài tập học kì môn Luật Tố Tụng Hình Sự

Theo quy định tại Điều 201 BLTTHS về thủ tục bắt đầu phiên tòa thì Chủ
tọa phiên tòa sẽ giải thích cho bị cáo biết về quyền và nghĩa vụ của họ. Từ đó giúp
bị cáo thực hiện hiệu quả hơn các quyền tố tụng của mình, đặc biệt là quyền tự bào
chữa và quyền đưa tài liệu, đồ vật yêu cầu và quyền kháng cáo.
Tuy nhiên thiết nghĩ việc bị cáo được Chủ tọa phiên tòa giải thích quyền và
nghĩa vụ trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa có phải là muộn hay không? Vì từ khi
có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì bị cáo đã có các quyền và nghĩa vụ luật định
và phải đến khi phiên tòa xét xử diễn ra thì bị cáo mới được giải thích rõ. Điều này
có thể gây ảnh hưởng lớn trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của bị cáo.
Do không được biết trước nên bị cáo thường không có sự chuẩn bị cho mình để

Quyền bào chữa được thực hiện ngay từ khi một người bị khởi tố về hình sự,
khi họ trở thành đối tượng buộc tội và được thực hiện quyền trong suốt quá trình
điều tra, truy tố, xét xử dưới nhiều hình thức khác nhau. Nhưng quyền này được thể
hiện rõ nét nhất qua việc bị cáo tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa tại
phiên tòa. Trong khi tranh luận, bị cáo trình bày lời bào chữa, nếu bị cáo có người
bào chữa thì người này bào chữa cho bị cáo và bị cáo có quyền bổ sung ý kiến của
mình. Tòa án phải tông trọng quyền bào chữa của bị cáo. Việc tôn trọng quyền bào
chữa của bị cáo không chỉ là đảm bảo quyền lợi cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo
và dân chủ trong tố tụng hình sự mà còn là đảm bảo quan trọng để xác định sự thật
của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ.
(7) Quyền trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa:
Bị cáo có quyền đưa ra ý kiến, những lập luận của mình và đối đáp với
những ý kiến không thống nhất của các chủ thể khác. Quyền này được quy định tại
Điều 218 BLTTHS nó thể hiện sự bình đẳng, khách quan trong quá trình xét xử qua
việc bị cáo phát biểu ý kiến, đưa ra yêu cầu cũng như đối đáp với Kiểm sát viên tại
phiên tòa.
Trên thực tế quyền này của bị cáo nhiều khi chưa được đảm bảo do những
NTHTT không tôn trọng bị cáo, có thái độ xem nhẹ quyền này bằng việc cắt ngang
hoặc không lắng nghe bị cáo trình bày.
(8) Quyền nói lời sau cùng trước khi nghị án:
Sau khi Hội đồng xét xử kết thúc xét xử và tranh luận, bị cáo được nói lời
sau cùng trước khi nghị án. Pháp luật quy định quyền này là tạo điều kiện để bị cáo
có cơ hội được bày tỏ thái độ và nguyện vọng của mình trước khi Hội đồng xét xử
đưa ra những quyết định đối với vụ án. Trong khi nói lời sau cùng, bị cáo có quyền
trình bày mọi vấn đề liên quan đến vụ án, tỏ thái độ của mình đối với việc buộc
tội… Hội đồng xét xử phải chú ý và tôn trọng quyền nói lời sau cùng trước khi nghị
án. Nhiều trường hợp, khi nói lời sau cùng, bị cáo lại đưa ra những tình tiết có ý
nghĩa quan trọng đối với vụ án, khi đó Hội đồng xét xử phải quay lại việc xét hỏi.
(9) Quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án:
Kháng cáo là quyền chống lại bản án và quyết định của Tòa án, yêu cầu được

Bộ luật tố tụng năm 2003 đã có sự kế thừa những quy định của pháp luật
TTHS trước và tiếp nhận thêm những tư tưởng quan điểm mới đã hoàn thiện thêm
một bước đáng kể các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những
CQTHTT và NTHTT. Các quy định này có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo cho
quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo được thực hiện nhanh chóng, hiệu quả, xác
định chính xác sự thật khách quan của vụ án. Bởi vì, khi những NTHTT thực hiện
tốt nhiệm vụ của mình sẽ đảm bảo cho quyền và nghĩa vụ của NTGTT và đặc biệt
là quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo được thực hiện trong thực tế.
Theo báo cáo tổng kết công tác năm 2010 của ngành tòa án thì đã thụ lí
71.680 vụ án và đã giải quyết, xét xử được 68.381 vụ án đạt 95%. Nhìn chung các
vụ án hình sự đều được giải quyết, xét xử trong thời hạn quy định của pháp luật.
Việc giải quyết nhanh chóng, kịp thời, đúng thời hạn các vụ án hình sự đã góp phần
không nhỏ trong việc đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong
tố tụng hình sự đặc biệt là bị can, bị cáo. So với những năm trước thì chất lượng xét
Page 12


Bài tập học kì môn Luật Tố Tụng Hình Sự

xử đã được nâng cao, án oan giảm, tình trạng vi phạm quyền lợi của bị can bị cáo
đã dần được khắc phục.
Như vậy, chúng ta có thể thấy việc đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của bị
can, bị cáo như: quyền được nhận các quyết định, văn bản tố tụng, quyền được sự
bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, quyền tham gia phiên tòa, quyền kháng
cáo…hay nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,
Tòa án đã được những NTHTT đảm bảo thực hiện tương đối tốt trong thời gian vừa
qua.
1.2. Từ phía bị can, bị cáo.
Bản thân bị can, bị cáo là những người bị buộc tội trong tố tụng hình sự.
Quyền và lợi ích của họ bị ảnh hưởng nhiều nhất khi tham gia vào quá trình tố

không nhỏ trong việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo, đặc
biệt là người bào chữa, người giám định và người phiên dịch. Họ đã có những đóng
góp rất lớn trong việc xác định sự thật vụ án đảm bảo cho bị can, bị cáo có thể thực
hiện và đảm bảo tốt quyền và nghĩa vụ của mình.
2. Những hạn chế, vướng mắc còn tồn tại.
2.1. Từ phía người tiến hành tố tụng.
Năm 2005 đến năm 2009, số lượng án đình chỉ của cả hai ngành Viện kiểm
sát và Cơ quan điều tra là 10.925 vụ với 17.130 bị can, ta cũng thấy được rằng
những NTHTT, CQTHTT đã không thực hiện tốt quyền hạn và trách nhiệm của
mình dẫn đến việc truy tố không đúng người, đúng tội, xâm hại đến quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân là bị can.
Theo báo cáo tổng kết của ngành Tòa án nhân dân năm 2010 thì tỉ lệ các bản
án bị hủy là 0.75% trong đó do nguyên nhân chủ quan là 0.44% và nguyên nhân
khách quan là 0.31%. Tỉ lệ án bị sửa là 5.1% trong đó do nguyên nhân chủ quan là
0.45% và do nguyên nhân khách quan là 4.65%. So với cùng kì năm trước thì tỉ lệ
các bản án, quyết định bị hủy do nguyên nhân chủ quan tăng 0.06% , bị sửa do
nguyên nhân khách quan giảm 0.09%.
Như vậy, tỉ lệ các bản án bị hủy, sửa vẫn còn cao. Nguyên nhân phần lớn là
do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, cấp sơ thẩm điểu tra, thu thập chứng cứ
không đầy đủ…Bên cạnh đó việc chậm ban hành các bản án tại các tòa vẫn chưa
được khắc phục làm ảnh hưởng đến công tác thi hành bản án cũng như quyền lợi
của bị can, bị cáo.
Ngoài ra, sự chuẩn bị của một số thẩm phán chưa tốt, thể hiện ở việc điều
khiển phiên tòa và đặc biệt là phần xét hỏi. Có những trường hợp thẩm vấn bị cáo
còn chưa được khách quan. Trong một số vụ án, thẩm phán lúng túng khi vụ án
xuất hiện những tình tiết mới. Tên tuổi bị cáo, số hiệu còn nhầm lẫn. Một số bản án
không thể hiện những ý kiến quan trọng của công tố và luật sư. Những điều đó đã
làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc xác định sự thật vụ án cũng như đảm bảo quyền
lợi hợp pháp của bị cáo.
Bên cạnh đó, trong TTHS vẫn còn tồn tại những vấn đề như mớm cung, ép

Qua đó ta có thể thấy rằng số vụ án có sự tham gia của người bào chữa,
người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự vẫn còn rất thấp, chưa đáp ứng được
đòi hỏi của công tác điều tra, truy tố, xét xử nhằm xác minh sự thật vụ án cũng như
đảm bảo quyền lợi của các đương sự trong TTHS, đặc biệt là bị can, bị cáo.
Nguyên nhân là số vụ án nhiều, trong khi số luật sư hành nghề thì ít. Người
dân chưa có thói quen nhờ người bào chữa vì chi phí lớn hoặc chưa tin cậy luật sư.
Theo thống kê thì ít khi luật sư tham gia các phiên toà do tòa án nhân dân cấp
huyện xử. Số vụ án hình sự có người bào chữa tham gia chiếm tỉ lệ hết sức khiêm
tốn, chiếm khoảng hơn 10% so với tổng số vụ án mà các toà án đã xử và chủ yếu là
bào chữa theo yêu cầu của CQTHTT.
2.3. Từ phía những người tham gia tố tụng khác.
Trong một số trường hợp những người tham gia tố tụng khác như người bào
chưa, người phiên dịch, người giám định …không làm tốt nhiệm vụ của mình đã
Page 15


Bài tập học kì môn Luật Tố Tụng Hình Sự

gây ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi của bị can bị cáo và việc xác định sự thật
khách quan của vụ án.
Trong đó, có những trường hợp tại phiên tòa người bào chữa đã từ chối bào
chữa cho bị cáo, mặc dù bị cáo bị truy tố tội giết người với khung hình phạt cao
nhất là tử hình. Cụ thể như vụ án Nguyễn Trọng Nhân và Lương Hoài Sang sát hại
phó bí thư quận ủy Phú Nhuận- Đặng Thu Hồng. Sau khi kết thúc phần xét hỏi, luật
sư Phạm Quốc Hưng bào chữa cho cả hai bị cáo Nhân và Sang bất ngờ đứng lên từ
chối bào chữa cho bị cáo Sang với lí do “lời khai tại tòa hôm nay hai bị cáo mâu
thuẫn nhau, nếu bào chữa cho cả hai sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi cho các bị
cáo”. Mặc dù tòa giải thích, Nhân đã có hai luật sư khác bào chữa và yêu cầu luật
sư Hưng bào chữa cho bị cáo Sang nhưng vị luật sư này đã từ chối. Điều này ảnh
hưởng không nhỏ đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo Sang.

nhận được thông báo. Mặt khác, quy định này chỉ yêu cầu thông báo về lịch “hỏi
cung” còn các hoạt động tố tụng khác thì CQĐT không phải thông báo. Cần phải
sửa đổi bổ sung những quy định này nhằm nâng cao hơn nữa các quyền khác cho
người bào chữa.
Luật không quy định cụ thể CQTHTT phải chịu chế tài thế nào nếu không
tạo điều kiện cho luật sư hành nghề nên nhiều quyền của người bào chữa không
được thực hiện và hầu như bị vi phạm. Do vậy cần quy định các chế tài đối với các
hành vi cản trở của Điều tra viên cũng như CQĐT đối với sự tham gia của luật sư.
2. Các giải pháp khác:
Để bị can, bị cáo thực hiện tốt được các quyền và nghĩa vụ của mình thì việc
nâng cao nhận thức và kiến thức pháp luật cho không chỉ bị can, bị cáo mà cho
đông đảo quần chúng nhân dân là vô cùng cần thiết. Công tác tuyên truyền, phổ
biến và giải thích pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa bộ luật vào thực
hiện trên thực tế. Do vậy cần phải tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo
dục pháp luật, thực hiện trợ giúp pháp lý cho người dân thông qua các trung tâm tư
vấn pháp luật. Sự hỗ trợ về các dịch vụ pháp lý miễn phí cho bị can, bị cáo có hoàn
cảnh khó khăn là rất thiết thực.
Ngoài ra, công tác đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ NTHTT cũng có ý
nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo. Những
chủ thể này là người bảo vệ pháp luật, nhưng cũng chính những người có khả năng
xâm phạm đến quyền của bị can, bị cáo là cao nhất nếu như chính họ không nhận
thức rõ trách nhiệm tuân thủ pháp luật của mình.
Đảng và Nhà nước cần đưa ra những chủ trương chính sách thu hút nguồn
nhân lực có năng lực lên công tác tại các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa để có thể
cải thiện trình độ dân trí cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ ngành tư pháp. Đặc
biệt là chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để thu hút các luật sư có năng lực
làm việc tại khắp các tỉnh thành trên cả nước mà không chỉ tập chung ở các thành
phố lớn. Có như vậy quyền lợi của bị can, bị cáo mới được bảo đảm cho dù bị can,
bị cáo đó tham gia tố tụng tại bất cứ địa phương nào trên cả nước.


− Tòa án nhân dân tối cao (2010) báo cáo tổng kết công tác năm 2010 và
phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2011.
− Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam trường Đại học luật Hà Nội. Nxb
Tư pháp.
− Bình luận khoa học bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Võ Khánh Vinh. Nxb
công an nhân dân
− Khóa luận tốt nghiệp Trường đại học luật Hà Nội: Địa vị pháp lí của bị can,
bị cáo trong tố tụng hình sự - Vũ Thị Kim Thùy
− Cần sửa đổi bổ sung một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về khởi tố
bị can, thay đổi, bổ sung, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can – Nguyễn Tiến
Sơn – Tạp chí kiểm sát số 23/12/2008.
− http://luathinhsu.wordpress.com. Bài viết: Thực trạng thực hiện quyền tự bào
chữa và quyền nhờ người khác bào chữa của bị can, bị cáo
− http://toaan.gov.vn. Bài viết: Cần hoàn thiện quy định về bị can, bị cáo
− http://www.vanphongluatsu.vn. Bài viết: Hoàn thiện các quy định của Bộ
luật tố tụng hình sự về quyền, Nghĩa vụ của bị can, bị cáo và cơ chế bảo đảm
thực hiện

Page 19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status