ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI BÁ THÀNH
QUYỀN TỰ BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI THEO
QUY ĐỊNH TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI BÁ THÀNH
QUYỀN TỰ BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI THEO
QUY ĐỊNH TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí
HÀ NỘI – 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của riêng
TANDTC
: Tòa án nhân dân tối cao
TTHS
: Tố tụng hình sự
VKSND
: Viện Kiểm sát nhân dân
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
6
DANH MỤC BẢNG
B
ả
Sn
g
B
ả
n
g
1
3
của
bị
can,
bị
cáo
do
luật
sư
cung cấp
7
DANH MỤC HÌNH
H
ì
Sn Nội dung T
h
Biều đồ tỉ
H lệ các vụ
ì án
đã
n được thụ
h
giải 6
1 lý,
3 quyết giai
. đoạn
1 2016
2019
tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến
của kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn
và những người có quyền, lợi ích hợp pháp. Các cơ quan tư pháp có trách
nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng: tham gia hỏi
cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên tòa” [1];
Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020khẳng định “nâng cao chấtlượng tranh tụng tại
các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạtđộng tư pháp” [2].
Quyền tự bào chữa được xác định là quyền con người của người bị
buộc tội khi tham gia tố tụng, đồng thời là bộ phận không thể tách rời của
9
quyền bào chữa tạo thành thể thống nhất được ghi nhận trong các bản Hiến
pháp của nước ta từ 1945 đến nay, đặc biệt là Hiến pháp năm 2013. Việc đảm
bảo thực thi có hiệu quả quyền tự bào chữa đóng góp to lớn vào việc bảo vệ
các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội; giúp cơ quan tiến hành
tố tụng giải quyết vụ án hình sự một cách khách quan, toàn diện và chính xác.
Tuy vậy, thực tiễn TTHS cho thấy việc bảo đảm quyền tự bào chữa của người
bị buộc tội còn có những chế, bất cập, chưa bảo đảm đầy đủ hoạt động tự bào
chữa trong các giai đoạn tố tụng hình sự của các cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng. Việc vi phạm quyền tự bào chữa của người bị buộc tội còn xảy
ra, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng chứng minh sự vô tội hoặc các tình tiết
giảm nhẹ tội dẫn đến việc giải quyết vụ án thiếu khách quan thậm chí còn làm
oan người vô tội. Những hạn chế, bất cập này cần phải được khắc phục nhằm
bảo đảm tốt hơn nữa quyền con người trong TTHS, góp phần thực thi có hiệu
quả chiến lược cải cách tư pháp và Hiến pháp năm 2013. Vì vậy, học viên chọn
đề tài: “ Quyền tự bào chữa của người bị buộc tội theo quy định trong Bộ
luật TTHS năm 2015” làm luận văn thạc sĩ của mình.
- Hoàng Thị Sơn: Thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong
luật TTHS Việt Nam, Luận án tiến sỹ luật học, năm 2003.
- Hoàng Thị Sơn: Thực trạng thực hiện nguyên tắc đảm bảo quyền bào
chữa của bị can, bị cáo, Tạp chí Luật học, số 4/2002.
- Hoàng Thị Sơn: Về khái niệm quyền bào chữa và việc bảo đảm quyền
bào chữa của bị can, bị cáo, Tạp chí Luật học, số 5/2000.
- Trần Văn Bảy: Người bào chữa và vấn đề bảo đảm quyền của người
bào chữa trong TTHS Việt Nam, Tạp chí KHPL, số 1/2001.
- Nguyễn Duy Hưng (2006): Bị can và bảo đảm quyền của bị can trong
Bộluật TTHS năm 2003 - thực trạng và định hướng hoàn thiện. Tài liệu hội
thảo đề tài khoa học cấp bộ Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự
Việt Nam, Tp. Hồ Chí Minh.
11
- Phạm Hồng Hải: Những điểm mới về trách nhiệm, nghĩa vụ của người
bào chữa trong Bộ luật TTHS năm 2003, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số
5/2004.
- Lê Hồng Sơn: Vấn đề thực hiện quyền của người bào chữa trong
TTHS, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 7/2002.
Các công trình, bài viết nêu trên chỉ đề cập đến quyền bào chữa chứ
chưa thực sự nghiên cứu quyền tự bào chữa như một chế định độc lập. Mặc
dù là một bộ phận không thể tách rời của quyền bào chữa, nhưng quyền tự
bào chữa cũng có sự độc lập tương đối trong mối tương quan với các quyền
khác được pháp luật quy định. Thêm nữa, trong các công trình nghiên cứu kể
trên, các tác giả cũng chỉ nghiên cứu pháp luật thực định, đi sâu vào các nội
dung quyền bào chữa mà chưa nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về
quyền tự bào chữa.
Hiện nay chưa có công trình, bài viết nào nghiên cứu chuyên sâu về
Với đề tài này, phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào quyền tự
bào chữa của người bị buộc tội dưới góc độ lý luận, phân tích những quy định
của pháp luật đặc biệt là những quy định trong BLTTHS năm 2015 về nội
dung của quyền này và chỉ ra vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật
của quyền tự bào chữa.
Đề tài đưa ra những luận cứ đồng thời phân tích các quy định hiện hành
của bộ luật TTHS năm 2015, làm kết quả để hoàn thiện pháp luật tố tụng hình
sự về quyền bào chữa của người bị buộc tội. Đồng thời đề tài đưa ra những lý
luận chặt chẽ để các chủ thể tham gia tố tụng nhận thức đúng vai trò về quyền
tự bào chữa của người bị buộc tội nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
của người bị buộc tội, góp phần giải quyết vụ án khách quan công bằng, hạn
chế oan sai, bỏ lọt tội phạm qua đó xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững
mạnh.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
13
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
(chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí
Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật, về cải cách tư pháp.
Phương pháp nghiên cứu: phương pháp so sánh, phân tích và phương
pháp tổng hợp kết hợp với việc phân tích thực tiễn áp dụng quyền tự bào chữa
thông qua báo cáo công tác của các cơ quan tư pháp và minh họa với các vụ
án cụ thể, điều luật cụ thể để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các
vấn đề tương ứng để nghiên cứu. Đồng thời, luận văn sử dụng một số phương
pháp nghiên cứu cụ thể sau: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp
thống kê, so sánh; phương pháp lịch sử; kết hợp với việc phân tích thực tiễn.
6. Bố cục của Luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục,
thực tế thì quyền này phải được quy định trong các văn bản pháp lý mang tính
bắt buộc thi hành. Trước hết, quyền tự bào chữa phải được xây dựng dựa trên
cơ sở, chuẩn mực quốc tế, sau đó, được nội luật hóa bằng các quy định pháp
luật trong từng quốc gia cụ thể, với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Khi
nghiên cứu về quyền tự bào chữa, chúng ta bắt buộc phải nghiên cứu chế định
này trong mối tương quan với quyền bào chữa. Với quá trình hình thành và
phát triển lâu đời, hiện nay, quyền tự bào chữa đã được công nhận như là một
15
chuẩn mực mang tính toàn cầu, được tất cả các quốc gia trên thế giới công
nhận. Để có cái nhìn tổng quát về quyền tự bào chữa, chúng ta có thể tham
khảo những quy định đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận trong các văn bản
pháp lý quốc tế.
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 (UDHR) đã xác
định những quyền cơ bản của một người khi phải đối mặt với những cáo buộc
hình sự. Tại Điều 10 của UDHR ghi nhận “Mọi người đều bìnhđẳng về quyền
được xét xử công bằng và công khai bởi một Toà án độc lập và khách quan để
xác định các quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như về bất cứ sự buộc tội nào
đối với họ”[38]. Điều 11 của Tuyên ngôn xác định“Bất cứ ai bị cáo buộc về
một hành vi phạm tội đều được quyềnsuy đoán vô tội cho đến khi được chứng
minh là phạm tội trước một phiên tòa công khai, nơi mà anh ta được cung cấp
những bảo đảm cần thiết cho việcbào chữa”[37]. Với cách quy định này, Tuyên
ngôn không quy định trực tiếp thế nào là quyền tự bào hay quyền tự bào chữa
cho một người chữa nhưng Tuyên ngôn đã ghi nhận một trong những tiêu chí
cơ bản của xét xử công bằng là quyền được có những bảo đảm hợp lý cho việc
bào chữa của người bị buộc tội. Theo tinh thần chung của UDHR thì các quy
định về bảo đảm quyền bào chữa nói chung trong đó có quyền tự bào chữa đã
được ghi nhận và cụ thể hóa ở nhiều văn kiện quốc tế khác.
định trong quá trình xét xử hình sự, mọi người phải được đáp ứng những bảo
đảm tối thiểu liên quan đến quyền tự bào chữa. Các quyền đó bao gồm quyền
được biết lý do buộc tội, quyền bào chữa, được trợ giúp pháp lý, được xét xử
nhanh chóng, được đối chất với người làm chứng...Để có thể thực hiện việc
bào chữa, người bị buộc tội phải được thông báo về lý do buộc tội (điểm a).
Trong bộ Các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam giữ hay tù
dưới bấtkỳ hình thức nào (1988)được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông
qua bằng Nghị quyết 43/173 ngày 9/12/1988 tiếp tục nhấn mạnh quyền được
17
thông báo này của người bị bắt giữ, theo đó “Bất kỳ người nào bị bắt giữ đều
phải được thông báo ngay khi bị bắt giữ về lý do của việc bắt giữ, và phải
được thông báo ngay về bất kỳ lời buộc tội nào đối với họ”[47]. Bên cạnh
quyền có đủ thời gian để chuẩn bị cho việc bào chữa (điểm b), bị cáo lại có
quyền được xét xử nhanh chóng, quyền tự bào chữa và quyền nhờ luật sư,
quyền được có phiên dịch. Bị can, bị cáo không phải đưa ra lời khai chống lại
chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội và nghĩa vụ chứng minh trong
vụ án hình sự thuộc về bên buộc tội.
Những quy định này được cụ thể hóa tại Bình luận chung số 32 của Ủy
ban giám sát thực hiện Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị về
quyền bình đẳng trước Tòa án và quyền được xét xử công bằng đã hướng dẫn
cụ thể về các bảo đảm tối thiểu được quy định tại Điều 14 Công ước. Thuật
ngữ “thời gian đầy đủ (hay thời gian thích đáng)” được giải thích là : thời
gian đầy đủ” cho việc chuẩn bị phụ thuộc vào từng vụ việc.... Tòa án chỉ có
thể ra quyết định hoãn xét xử khi bị đơn bị kết tội hình sự nghiêm trọng và
cần thời gian chuẩn bị cho việc bào chữa. Các điều kiện đầy đủ bao gồm:
quyền tìm kiếm các tài liệu, chứng cứ khác; việc tiếp cận này bao gồm các tài
liệu liên quan đến việc khởi tố và thông tin có thể dùng để bào chữa.Bình luận
Công ước Châu Âu về quyền con người (EHRC) cũng có các quy định
về quyền tự bào chữa cho người bị cáo buộc về hình sự. Theo đó bất kỳ ai khi
bị cáo buộc phạm tội hình sự có các quyền tối thiểu sau:
“…(a) Được thông báo kịp thời bằng một ngôn ngữ mà người đó
hiểu chi tiết về bản chất và lý do buộc tội mình;
(b) Có đủ thời gian và điều kiện để chuẩn bị bào chữa và liên hệ
với người bào chữa do chính mình lựa chọn;
(c) Được tự bào chữa hoặc thông qua sự trợ giúp pháp lý do người
đó lựa chọn; hoặc nếu họ không có đủ khả năng chi trả cho người bào
chữa, họ sẽ được cung cấp sự trợ giúp pháp lý miễn phí vì lợi ích của
công lý;
19
(d) Đối chất hoặc được đối chất những nhân chứng buộc tội mình,
và được mời người làm chứng gỡ tội cho mình tham gia đối chất với điều
kiện tương tự như những nhân chứng buộc tội;
(e) Được có phiên dịch miễn phí nếu không hiểu hoặc không nói
được ngôn ngữ sử dụng trong phiên toà;…”[39].
Như vậy, qua nghiên cứu các văn bản pháp lý quốc tế được cộng đồng
thế giới thừa nhận rộng rãi, quyền tự bào chữa đặt ra với người bị buộc tội, có
thể khẳng định, quyền tự bào chữa là một bộ phận không thể tách rời của
quyền bào chữa nói chung. Bên cạnh đó, quyền tự bào chữa cũng liên quan mật
thiết đến những quyền, những đảm bảo pháp lý tối thiểu đối với người bị buộc
tội như các quyền về biết lý do bị buộc tôi, quyền được trợ giúp pháp lý, quyền
được đối chất… Quyền tự bào chữa được ghi nhận có ý nghĩa vô cùng to lớn
trong hoạt động đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội.
1.1.2. Chủ thể của quyền tự bào chữa trong TTHS
Quyền tự bào chữa chỉ đặt ra trong trường hợp một người thực hiện
hành vi phạm tội hoặc họ bị tình nghi phạm tội bởi hành vi của mình đã thực
tố tụng hình sự Việt Nam chưa đưa ra được khái niệm thống nhất về người bị
buộc tội. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 chỉ ghi nhận quyền
của người bị buộc tội mà chưa xác định được định nghĩa pháp lý với nhóm
người này. Theo đó, tại Điều 31 quy định: “Người bị buộc tội được coi là
không có tội cho đến khiđược chứng minh theo trình tự luật định và có bản án
kết tội của Tòa án đã cóhiệu lực pháp luật” [9]. Trong BLTTHS năm 2015,
thuật ngữ người bị buộc tội đã được giải thích: “Người bị buộctội gồm người
bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”[12].Từng loại người được liệt kê nêu
trên được định nghĩa trong nhiều điều, nhiều phần riêng, tùy thuộc vào giai
đoạn tố tụng họ xuất hiện. Theo nội dung được quy định trong những văn bản
này thì, thuật ngữ “người bị buộc tội” thường chỉ quy định theo hướng liệt kê
các đối tượng thuộc diện nghi là phạm tội, thêm nữa, quy định pháp luật về
21
nhóm người này cũng còn nhiều điểm chưa thực sự hợp lý. Người bị buộc tội
nên được hiểu là người bị tình nghi phạm tội, người này đang được đặt trong
quá trình giải quyết vụ án hình sự và có thể bị các cơ quan tiến hành tố tụng
áp dụng biện pháp cưỡng chế của tố tụng hình sự nhằm xác định sự thật khách
quan vụ án. Người bị buộc tội có thể phải nhận một số quyết định áp dụng
pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng như: lệnh bắt, lệnh tạm giam, quyết
định tạm giữ, quyết định khởi tố, quyết định đưa vụ án ra xét xử…Tuy nhiên,
theo qui định của pháp luật họ vẫn là người vô tội, chỉ khi nào bản án, quyết
định có hiệu lực pháp luật của tòa án xác định họ là người có tội thì họ mới bị
coi là người phạm tội.
Trong TTHS, người bị buộc tội được xác định là người bị các cơ quan
tiến hành tố tụng đặt ra nghi vấn là người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội, mà BLHS coi là tội phạm. Hành vi phạm tội có thể ở dạng hành động
hoặc không hành động. Ở dạng hành động, đó là các hành vi vi phạm những
bị kết án, đã phản ánh tính nhân văn tiến bộ của pháp luật hiện đại. Tóm lại,
nhóm người bị buộc tội là chủ thể của quyền tự bào chữa trong TTHS. Những
người này có thể là người bị tình nghi, người bị buộc tội đang tham gia trong
quá trình giải quyết vụ án hình sự, họ đang bị các cơ quan tiến hành tố tụng áp
dụng các biện pháp cưỡng chế về TTHS nhằm xác định sự thật khách quan
của vụ án. Như vậy, người bị buộc tội có thể là: người bị bắt, người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo. Về cơ bản, những người này chưa bị coi là người phạm
tội, đối với họ, vấn đề đặt ra xem xét chỉ là tình nghi phạm tội.
1.1.3.Nội dung quyền tự bào chữa trong tố tụng hình sự
Thông qua những tìm hiểu về quyền tự bào chữa trong TTHS và chủ
thể của quyền tự bào chữa đã được đề cập ở phần trên, người viết đã có những
tổng hợp, so sánh và đưa ra được nhận định: quyền tự bào chữa là một bộ
phận không thể tách rời quyền bào chữa, những đảm bảo cho quyền tự bào
chữa là đảm bảo cho quyền được xét xử công bằng được thực hiện, quyền tự
23
bào chữa bắt buộc phải đặt trong mối tương quan với những quyền cơ bản
khác trong TTHS khi một người đứng trước khả năng bị buộc tội từ phía cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền. Điều đó mang vai trò to lớn nhằm hướng đến
mục đích xét xử công bằng, bảo đảm quyền con người tối thiểu cho nhóm
người bị buộc tội. Quyền tự bào chữa bắt đầu từ khi một người bị bắt hay tạm
giữ về hình sự và kéo dài xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự cho
đến khi người này bị kết án bởi tòa án có thẩm quyền. Theo những chuẩn mực
quốc tế được thừa nhận trong các công ước quốc tế, điều ước quốc tế nêu trên
có thể nhận định quyền tự bào chữa được phản ánh trực tiếp thông qua các
quyền năng sau:
Một là, quyền được thông báo về việc bị buộc tội và lý do buộc tội.
Hai là, quyền được cung cấp đủ điều kiện và thời gian chuẩn bị để tự
bị buộc tội đã được pháp luật ghi nhận, điều đó thể hiện qua việc thực hiện
đúng và đầy đủ những quy định pháp luật nhằm tạo điều kiện tối đa cho người
bị buộc tội thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Trong quan hệ pháp luật
hình sự, xuất hiện mối quan hệ giữa một bên là người bị buộc tội và một bên
là đại diện các cơ quan tiến hành tố tụng, có nghĩa vụ chứng minh hành vi
phạm tội của người bị tình nghi là có hành vi phạm tội. Phải khẳng định trong
mối quan hệ này, những người bị buộc tội đương nhiên được coi là nhóm
người yếu thế hơn so với cơ quan, người tiến hành tố tụng được ủy quyền
thực hiện quyền lực Nhà nước trong giải quyết vụ án hình sự. Để chống lại
khả năng bị các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng áp đặt ý
chí mang tính buộc tội một chiều, pháp luật nói chung đã trao cho người bị
buộc tội quyền tự bảo vệ mình, quyền được chứng minh và tự chứng minh sự
vô tội trước các cáo buộc của các cơ quan tiến hành tố tụng, đó chính là quyền
tự bào chữa. Pháp luật TTHS một mặt là công cụ của Nhà nước để bảo vệ
quyền con người, mặt khác cũng tạo ra cơ chế để công dân nói chung và
người bị buộc tội nói riêng tự bảo vệ quyền lợi của mình thông qua các hành
25