bài tập lớn học kỳ - môn Luật tố tụng dân sự - Pdf 33

Bài tập lớn học kỳ - môn Luật tố tụng dân sự - Trần Thị Nhung

MỞ ĐẦU
Trong cuộc sống những tranh chấp dân sự xảy ra rất phổ biến. Và khi họ không tự thỏa thuận
cách giải quyết được với nhau thì họ làm đơn gửi Tòa án giải quyết. Khi tham gia vào quan hệ tố tụng
dân sự, các đương sự luôn mong muốn quyền và lợi ích hợp pháp của mình được bảo đảm. Việc đảm
bảo quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự không chỉ bảo vệ quyền lợi cho các đương sự
tham gia tố tụng mà còn đảm bảo sự công bằng nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo trật tự xã hôi.
Nhận thấy tầm quan trọng của việc đảm bảo quyền lợi của đương sự trong tố tụng dân sự Bộ luật tố
tụng dân sự đã luật hòa thành nguyên tắc cơ bản và được quy định tại điều 9.
I.
Cơ sở lí luận:
1. Khái niệm của nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự.

Trong từ điển Tiếng Việt bảo đảm được hiểu là: “Bảo đảm là làm cho chắc chắn thực hiện được
hoặc có đầy đủ những gì cần thiết.”
Như vậy đảm bảo quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự được hiểu là tổng thể các quy
định của pháp luật và các biện pháp, hoạt động của thể của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng nhằm giúp cho đương sự có đủ điều kiện cần thiết để chắc chắn đề thực hiện được các quyền
tố tụng, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của họ trước Tòa án.
2. Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự
- Đảm bảo quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự được áp dụng cho tất cả các đương

sự khi tham gia tố tụng dân sự nhằm đảm bảo được quyền và lợi ích chính đáng cho họ. Vì
vậy đảm bảo quyền bảo về của đương sự trong tố tụng dân sự tạo tính dân chủ, sự công bằng
giữa các đương sự trong tố tụng dân sự.
- Đảm bảo quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự chính là sự cụ thể hóa quy định
của pháp luật trong việc đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các bên đương sự khi tham
gia tố tụng.
- Đảm bảo quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự còn giúp cho Tòa án và các cơ
quan tiến hành tố tụng khác giải quyết vụ án dân sự chính xác hơn. Vì để tiến hành các biện

Chủ thể nộp đơn khởi kiện có quyền được khiếu nại về việc trả lại đơn của Tòa án sau
khoảng thời gian là 3 ngày kể từ ngày nhận lại đơn khởi kiện và những tài liệu chứng cứ kèm
theo. (điều 170 Bộ luật tố tụng dân sự).

Thứ hai: Đảm bảo quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của đương sự trong tố tụng dân sự:
Tại điều khoản 2 điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Trong quá trình giải quyết vụ việc dân
sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một
cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội”.
Để đảm bảo được quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của đương sự khi tham gia tố tụng thì Tòa
án sau khi thụ lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự thì Tòa án phải giải thích cho họ có quyền
được bổ sung, thay đổi hoặc rút yêu cầu của mình.
b. Đảm bảo quyền cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự, và quyền yêu cầu cá

nhân, cơ quan, tổ chức khác cung cấp chứng cứ, yêu cầu Tòa án xác minh thu thập
chứng cứ:
Thứ nhất: Đảm bảo quyền chứng minh và thu thập chứng cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự:
Theo quy định tại các điều 165, 175, 212, 272 thì các đương sự có quyền cung cấp cho Tòa án
các chứng cứ tài liệu liện quan đến vụ việc trước hoặc tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm và các giai
đoạn khác của Tố tụng dân sự.Để đảm bảo quyền chứng minh thu thập chứng cứ thì Tòa án phải tiếp
nhận, đưa vào hồ sơ, xem xét và nghiên cứu.
Lớp N01 – TL2 – Nhóm 2

Page 2


Bài tập lớn học kỳ - môn Luật tố tụng dân sự - Trần Thị Nhung
Thứ hai: Đảm bảo quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức khác cung cấp chứng cứ, yêu cầu
Tòa án xác minh thu tập chứng cứ:
Theo điều 94 Bộ luật tố tụng dân sự thì đương sự có quyền yêu cầu các nhân, cơ quan, tổ chức

Lớp N01 – TL2 – Nhóm 2

Page 3


Bài tập lớn học kỳ - môn Luật tố tụng dân sự - Trần Thị Nhung
Và theo khoản 5 điều 213 trước khi bắt đầu phiên tòa thì Chủ toạ phiên toà giới thiệu họ, tên
những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch. Và phải hỏi xem đương sự có yêu
cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hay không?
e. Đảm bảo quyền thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ việc dân sự của đương sự:

Theo điều 5, 10, 180 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án có trách nhiệm hòa giải vụ việc dân sự để
các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ việc dân sự. Chỉ khi không được hòa giải hoặc hào
giải không thành thì Tòa án mới được đưa ra xét xử. Tòa án phải tôn sự thỏa thuận của các bên đương
sự về giải quyết vụ án dân sự nếu việc thỏa thuận đó không trái pháp luật và đạo đức xã hội (điều
220).
f.

Đảm bảo sự tham gia phiên tòa phiên họp của đương sự:

Theo các điều khoản: 195, 199, 202, 221, 222, 232, 294, 271, 272, 292, 295, 313, 314 Bộ luật tố
tụng dân sự thì Tòa án phải cho các đương sự biết về việc mở phiên tòa, phiên họp bằng cách gửi cho
đương sự quyết định đưa vụ án ra xét xử, hoặc quyết định đưa vụ án ra giải quyết tại phiên họp.
Nếu đương sự vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa, phiên họp. Chỉ tiế hành phiên tòa, phiên họp
vắng mặt đương sự trong trường hợp họ có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt hoặc họ đã có người đại
diện hợp pháp tham gia phiên tòa, phiên họp. Hoặc họ là bị đơn, người bị yêu cầu, người có quyền và
nghĩa vụ liên quan đã được triệu tậ hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt (điều 195, 200, 201,
202).Theo điều 221 Bộ luật tố tụng dân sự, trong phiên tòa, phiên họ thì Thẩm phán chủ tọa phải cho
họ được trình bày quan điểm, được tranh luận.
g. Đảm bảo quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật và

luật tố tụng dân sự về đảm bảo quyền của đương sự trong tố tụng dân sự còn nhiều bất cập làm hạn
chế quyền tố tụng của đương sự.
Thứ nhất: Việc xác định tư cách các đương sự trong vụ án dân sự là rất quan trọng. Tuy nhiên
điều 56 bộ luật tố tụng dân sự còn chưa có khái niệm đương sự mà mới chỉ liệt kê những ai là đương
sự trong vụ án dân sự mà thôi.
Thứ hai: Bộ luật tố tụng dân sự mới chỉ quy định về đương sự trong vụ án dân sự mà chưa quy
định về việc xác định đương sự trong việc dân sự cũng như chưa có quy định về quyền và nghĩa vụ
của những người này.
Thứ ba: Khoản 6 điều 57 Bộ luật tố tụng dân sự quy định đương sự là người từ đủ 15 tuổi đến
chưa đủ 18 tuổi đã tham gia lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình
tham gia tố tụng về những việc liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó. Quy định này
của Bộ luật tố tụng dân sự thực sự là không phù hợp vì độ tuổi từ 15 đến chưa đủ 18 tuooit chưa có
năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hơn nữa quan hệ tố tụng dân sự là quan hệ phức tạp hơn các quan hệ
thông thường như quan hệ lao động hay quan hệ dân sự.
Thứ tư: Điều 9 Bộ luật tố tụng dân sự quy định Tòa án là cơ quan bảo đảm quyền bảo vệ của
đương sự trong tố tụng dân sự là chưa hợp lý. Vì trong quan hệ tố tụng dân sự không chỉ có riêng Tòa
án mà còn có các cơ quan khác như Viện Kiểm sát, cơ quant hi hành án và những người tiến hành tố
tụng khác liên quan đến việc bảo đảm quyền lợi cho đương sự. Vì thế nên quy định tại điều 9 Bộ luật
tố tụng dân sự là chưa đầy đủ và vô hình chung đã loại bỏ trách nhiệm của cac cơ quan khác trong
việc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự.

Lớp N01 – TL2 – Nhóm 2

Page 5


Bài tập lớn học kỳ - môn Luật tố tụng dân sự - Trần Thị Nhung
Thực trạng nguyên tắc đảm bảo quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự và
những giải pháp hoàn thiện.
1. Thực trạng của nguyên tắc đảm bảo quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự.

kế. Quá trình giải quyết vụ án, tháng 7-2007, các bên đã ngồi lại hòa giải theo hướng không tranh
Lớp N01 – TL2 – Nhóm 2

Page 6


Bài tập lớn học kỳ - môn Luật tố tụng dân sự - Trần Thị Nhung
chấp căn nhà với người đang quản lý, sử dụng với điều kiện là phải bán nhà để trả nợ.Trong buổi hòa
giải này có ba đương sự vắng mặt. Nội dung thỏa thuận ảnh hưởng đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ,
đúng ra phải lấy ý kiến bằng văn bản xem họ có đồng ý hay không thì TAND tỉnh Tiền Giang lại...
quên và ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự. Việc này là vi phạm tố tụng
nghiêm trọng, trái với quy định tại khoản 3 Điều 187 BLTTDS.
Thứ ba: Không đảm bảo được quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của
đương sự
Tháng 6-2004, TAND huyện Ninh Hòa (Khánh Hòa) thụ lý vụ kiện tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng đất giữa bà C. và ông L. Theo hồ sơ, tháng 5-1999, ông L. bán một lô đất cho bà C. Khi làm
thủ tục sang tên, bà biết thêm thông tin là vào năm 1994, ông L. bán lô đất này cho ông H. Do vậy, bà
khởi kiện yêu cầu ông L. thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất cho bà. Nếu phải hủy hợp đồng, bà
yêu cầu ông L. phải bồi thường thiệt hại theo giá thị trường. Tiếp đó bà yêu cầu tòa áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa chuyển nhượng mua bán đất và được tòa chấp nhận. Sau đó, tòa án
huyện đưa vụ án ra xét xử, tuyên buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn 112 triệu đồng. Án sơ thẩm
không có nội dung giữ nguyên hay hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nêu trên.
Ông H. kháng cáo đề nghị xem xét hủy bỏ quyết định ADBPKCTT nêu trên của bà C., tiếp tục thực
hiện hợp đồng chuyển nhượng... Xử sơ thẩm, TAND tỉnh Khánh Hòa đã bác đơn kháng cáo, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
2. Những giải pháp hoàn thiện nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố

tụng dân sự.
Để khắc phục những sai lầm trong thực tiến công tác xét cử vụ án dân sự và đảm bảo tốt hơn nữa
quyền bảo vệ của đương sự sau đây tôi xin đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện, bổ sung, năng

Thứ ba: Cần tăng cường vai trò của Viện Kiểm sát, cơ quan thi hành án trong việc đảm bảo
quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự:
Bàn về vấn đề này có nhiều luồng quan điểm khác nhau: có quan điểm cho rằng nên loại bỏ hết
vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự vì sự tham gia của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự
là thực sự không cần thiết. Có quan điểm cho rằng vai trò của VKS không nên đi sâu vào nội dung vụ
án, chỉ nên dừng lại ở việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật về mặt tố tụng mà thôi.
Dưới quan điểm của cá nhân thì tôi cho rằng nên tăng cường hơn nữa vai trò của Viện kiểm sát
trong tố tụng dân sự đặc biệt trong việc đảm bảo quyền bảo vệ của đương sự vì Tòa án không phải là
cơ quan duy nhất đại diện cho quyền lực nhà nước tham gia vào hoạt động giải quyết vụ việc dân sự
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự mà còn có Viện kiểm sát, cơ qqaun thi hành án. Hơn
nữa nếu chỉ có riêng Tòa án có vai trò trong việc đảm bảo quyền bảo vệ của tố tụng dân sự thì vai trò
của Tòa án là quá lớn và thực trạng xét xử sai vụ án dân sự diễn ra còn rất hổ biến nên cần tăng
cường vai trò của Viện kiểm sát và cơ quan thi hành án trong việc đảm bảo quyền bảo vệ của đương
sự
KẾT LUẬN

Lớp N01 – TL2 – Nhóm 2

Page 8


Bài tập lớn học kỳ - môn Luật tố tụng dân sự - Trần Thị Nhung
Như vậy nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự là một tỏng những
nguyên tắc cơ bảo của tố tụng dân sự, có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự, và đảm bảo sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật. Trên thực tế nguyên tắc này
được thực hiên khá nghiêm túc tuy nhiên những sai phạm trong việc xét xử vụ án dân sự còn xảy ra
làm cho quyền lợi hợp pháp của đương sự không được bảo đảm. Để thực hiện tốt hơn nữa nguyên tắc
đảm bảo quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự thì đòi hỏi các biện pháp không chỉ về mặt
lý luận mà còn cả trên thực tiễn.






Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status