Bài tập cá nhân môn luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam - Pdf 35

Bài tập cá nhân - Môn Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam

Đề bài số 1: Những khẳng định sau đây đúng hay sai, tại sao?
a) Không chỉ các cơ quan tiến hành tố tụng mới có quyền áp dụng biện pháp ngăn
chặn.
b) Viện kiểm soát không có quyền thu thập chứng cứ.

1


Bài tập cá nhân - Môn Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam

1. Không chỉ các cơ quan tiến hành tố tụng mới có quyền áp dụng biện pháp ngăn
chặn.
Đây là khẳng định: Đúng
Giải thích: Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự
được áp dụng với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với những người chưa bị khởi
tố nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục
phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành vi gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành án hình sự.
Theo Điều 79 BLTTHS năm 2003 quy định về các biện pháp và căn cứ áp dụng
biện pháp ngăn chặn thì: “Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ
bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm
tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án
trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc người có thẩm quyền theo quy định
của Bộ luật này có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây: bắt, tạm
giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo
đảm.” và theo khoản 1 Điều 33 BLTTHS quy định: “ Các cơ quan tiến hành tố tụng
gồm có: a. Cơ quan điều tra; b.Viện kiểm sát; c. Tòa án ”. Căn cứ vào hai quy định trên
có thể thấy: Cơ quan tiến hành tố tụng gồm 3 cơ quan là Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát và Tòa án. Điều 79 đã quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn của các

đến cơ quan có thẩm quyền là chính xác, góp phần đảm bảo cho các hoạt động của các
cơ quan tiến hành tố tụng được kịp thời, thuận lợi. Ngoài ra còn nâng cao hiệu quả của
công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong quần chúng nhân dân.
2. Viện kiểm soát không có quyền thu thập chứng cứ.
Đây là khẳng định: Sai
Giải thích: Thu thập chứng cứ là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, những
người có thẩm quyền do pháp luật tố tụng hình sự quy định phát hiện, thu giữ, bảo quản
các thông tin, tư liệu liên quan đến vụ án theo các trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng
3


Bài tập cá nhân - Môn Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam

hình sự quy định. Như vậy thu thập chứng cứ thực chất là phát hiện thông tin, tư liệu,
dấu vết liên quan đến đối tượng chứng minh, thu giữ bảo quản các nguồn chứa đựng
thông tin, tư liệu đó nhằm lưu giữ và bảo vệ giá trị chứng minh của các chứng cứ thu
thập được trong cả quá trình giải quyết vụ án. Theo quy định tại Điều 65 BLTTHS về
thu thập chứng cứ thì: “ Để thu thập chứng cứ, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà
án có quyền triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những
vấn đề có liên quan đến vụ án, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm
và các hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án”
Theo quy định trên, các cơ quan tiến hành tố tụng gồm: Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát và Tòa án có quyền tiến hành thu thập chứng cứ bằng nhiều cách như triệu tập
những người biết về vụ án, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và
các hoạt động điều tra khác theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Như vậy, theo
luật định thì Viện kiểm soát có quyền tham gia vào việc thu thập chứng cứ, ví dụ như
theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 37 về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
kiểm sát viên thì: Kiểm sát viên có quyền triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy
lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn dân sự, người có quyền,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status