Bài tập lớn học kì môn luật hiến pháp Việt Nam – sv Bùi Thị
Hải
LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vấn
đề hoàn thiện nâng cao hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy quyền làm chủ của nhân
dân đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là một trong những vấn đề cơ bản và cấp thiết.
ngay từ khi khởi xướng đường lối đổi mới Đảng Cộng Sản Việt Nam đã coi việc xây dựng
nền dân chủ xã hội không chỉ là nội dung thể hiện bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa mà
còn là mục tiêu, động lực để xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Để thực hiện mục tiêu đó vấn đề tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước nói
chung và các cơ quan Nhà nước nói riêng được coi là một trong những nhân tố thúc đẩy
nhanh hơn quá trình dân chủ hóa và đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong khi đất nước ta đang thực
hiện chế độ quản lý Nhà nước ở tầm vì mô thì vai trò của hệ thống các cơ quan Nhà nước,
đặc biện là Hội đồng nhân dân các cấp là vô cùng quan trọng. Hội đồng nhân dân-cơ quan
quyền lực Nhà nước ở địa phương trong suốt quá trình hoạt động của mình đã từng bước
hoàn thiện và trưởng thành góp phần quan trọng trong tổ chức bộ máy Nhà nước cũng như
đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân. Bởi vậy việc nắm vững tổ chức và hoạt động của hội
đồng nhân dân là một việc làm cần thiết.
NỘI DUNG
1. Địa vị pháp lý của Hội đồng nhân dân.
HĐND là thiết chế thực hiện quyền lực của nhân dân địa phương hay nói cách khác,
trong chế độ dân chủ, quyền lực của nhân dân địa phương được tập trung trong một cơ quan
đại diện cho họ trong việc giải quyết tất cả các vấn đề quan trọng của đời sống xã hội ở địa
phương – đó chính là HĐND. Điều 119 Hiến pháp năm 1992 và Điều 1 Luật tổ chức HĐND
làm chủ của nhân dân, tăng cường pháp chế XHCN, ngăn ngừa các biểu hiện quan liêu, hách
dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm và các biểu hiện tiêu cực khác của
cán bộ, công chức và trong bộ máy chính quyền địa phương”
2.1. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân
Điều 4, Luật tổ chức HDND và UBND năm 2003 thì HDND và UBND được tổ chức ở
các đơn vị hành chính sau: tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh);
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện); xã, phường, thị trấn (gọi
chung là cấp xã). Tuy nhiên, HĐND ở các cấp khác nhau thì được tổ chức khác nhau. Hiện
nay, 10 tỉnh đang thí điểm về việc không tổ chức HĐND cấp huyện. Trong cơ cấu tổ chức
của HĐND có Thường trực HĐND và các ban của HĐND.
2.1.1. Thường trực Hội đồng nhân dân
Thường trực HĐND mới được thành lập ra từ sau khi có Luật tổ chức HĐND và UBND
6 – 1989. Lúc đầu, Thường trực HĐND mới chỉ thành lập ở cấp tỉnh và huyện gồm chủ
tịch, phó chủ tịch và thư kí; ở cấp xã không thành lập thường trực mà chỉ có ban thư kí. Đến
hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994 có một số thay đổi về tổ
chức Thường trực HĐND. Lúc này Thường trực chỉ còn gồm có chủ tịch và phó chủ tịch
mà không còn chức danh thư kí và không cón coi là một cơ quan của HDND với hàm ý gắn
thường trực với HĐND chứ không tách thành một cơ quan riêng. Ở cấp xã bỏ Ban Thư kí
mà thành lập HĐND (có phó chủ tịch). Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định
tổ chức thường trực HĐND ở tất cả các cấp nhưng ở tỉnh và huyện có thêm Ủy viên thường
trực, còn ở cấp xã vẫn chỉ có Chủ tịch và Phó chủ tịch HĐND. Như vậy, theo Luật hiện
hành thì thường trực HĐND có ở cả 3 cấp (tỉnh, huyện, xã).
Thường trực HĐND do HĐND cùng cấp bầu ra. Tại kì họp đầu tiên của mỗi khóa
HĐND, Thường trực được chọn bầu ra trong số đại biểu, theo thể thức: bầu Chủ tịch HĐND
theo sự giới thiệu của chủ tọa kì họp (chủ tọa kì họp này là Chủ tịch HĐND khóa trước, nếu
khuyết thì do phó chủ tịch và nếu khuyết cả hai thì là triệu tập viên do Thường trực HĐND
cấp trên trực tiếp chỉ định), bầu Phó chủ tịch và ủy viên thường trực theo sự giới thiệu của
chủ tịch. Đại biểu HĐND có quyền giới thiệu và ứng cử vào các chức vụ đó. Thành viên của
thường trực không thể đồng thời là thành viên của UBND cùng cấp. Kết quả bầu này phải
H ND: H i đ ng nhân dânĐ ộ ồ Page 2
gia các hoạt động của Ban. Thành viên của các Ban không thể đồng thời là thành viên
UBND cùng cấp.
Trưởng Ban và các thành viên của Ban do HĐND bầu bằng cách bỏ phiếu kín theo danh
sách từng ban do chủ tịch HĐND từng ban giới thiệu. Các đại biểu cũng có quyền giới thiệu
và ứng cử vào các chức vụ trên. Phó ban bầu ra.
2.2. Các hình thức hoạt động của Hội đồng nhân dân
Điều 8 Luật tổ chức HĐND và UBND năm2003 quy định:”hiệu quả hoạt động
của HĐND được đảm bảo bằng hiệu quả của các kỳ họp HĐND,hiệu quả hoạt động
của Thường trực HĐND,các ban của HĐND và của các đại biểu HĐND”.Như vậy,
hoạt động của HĐND bao gồm hoạt động của HĐND thông qua kỳ họp, hoạt động
của Thường trực HĐND,của các ban HĐND và hoạt động của đại biểu HĐND.
2.2.1.Kỳ họp của Hội đồng nhân dân.
Kỳ họp chiếm địa vị đặc biệt quan trọng trong hoạt động của HĐND, bởi vì đó là
hình thức hoạt động chủ yếu và quan trong nhất của HĐND. HĐND làm việc tập
trung và có hiệu quả nhất trong các kỳ họp của mình.thông qua kỳ họp, ý chí,nguyện
H ND: H i đ ng nhân dânĐ ộ ồ Page 3
• UBND: Ủy ban nhân dân
Bài tập lớn học kì môn luật hiến pháp Việt Nam – sv Bùi Thị
Hải
vọng của nhân dân địa phương được chuyển thành quyết định của cơ quan quyền lực
nhà nước ở địa phương, có ý nghĩa bắt buộc chung.Tại kỳ họp còn quyết định các biện
pháp để thi hành quyết định,chỉ thị,pháp luật của Nhà nước ở địa phương, thực hiện
quyền giám sát việc thực hiện nghị quyết và hoạt động của các cơ quan trực thuộc
HĐND và các cơ quan, tổ chức xã hội khác ở địa phương.
Theo quy định của pháp luật hiện hành,kỳ họp HĐNDcác cấp họp mỗi năm 2
kỳ(trước đây quy định là 3 tháng họp 1 kỳ). Ngoài những kỳ họp thường lệ, HĐND tổ
chức các kỳ họp chuyên đề hoặc kỳ họp bất thường theo đề nghị của Chủ tịch HĐND,
địa phương,Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, người đứng đầu các đoàn thể nhân
H ND: H i đ ng nhân dânĐ ộ ồ Page 4
• UBND: Ủy ban nhân dân
Bài tập lớn học kì môn luật hiến pháp Việt Nam – sv Bùi Thị
Hải
dân địa phương (như Chủ tịch Liên đoàn lao động, Chủ tịch Hội nông dân, Bí thư
Đoàn thanh niên Cộng sản HCM, Hội trưởng Hội liên hiệp phụ nữ, Chủ tịch Hội cựu
chiến binh) và đại diên cử tri được mời tham dự kỳ họp được phát biểu ý kiến nhưng
không biểu quyết. Các cơ quan thông tin báo chí được mời tham dự các kỳ họp công
khai.
Kỳ họp HĐND có thể có nhiều nội dung,công việc khác nhau phụ thuộc vào
tính chất của mỗi kỳ họp và nhu cầu công việc hiện tại. Trong kỳ họp đầu tiên của mỗi
khóa HĐND chủ yếu là công tác tổ chức, xây dựng bộ máy nhà nước ở địa phương.
Kỳ họp đầu năm HDND tập trung thảo luận và quyết định kế hoạch và dự toán ngân
sách,quyết định chương trình hoạt động trong năm, quyết định các vấn đề thiết thực về
kinh tế,văn hóa,an ninh,quốc phòng…Trong các kỳ họp cuối năm HDND nghe và
thảo luận báo cáo kiểm điểm công tác của Thường trực, UBND, Chánh án TAND,
Viện trưởng VKSND, các ngành kinh tế-xã hội…ở địa phương. Có thể có những kỳ
họp dành tập trung thảo luận và quyết định về một chuyên đề cụ thể nào đó như về
quyền sử dụng đất đai, bảo đảm trật tự trị an trên địa bàn.Trong kỳ họp cuối nhiệm
kỳ,HDND, Thường trực HDND và UBND kiểm điểm nhiệm kỳ hoạt động của mình.
Chủ tọa kỳ họp có nhiệm vụ điều khiển các hoạt động theo chương trình đã được
HDND thông qua, tổ chức, thảo luận, lấy biểu quyết các vấn đề nêu ra, xem xét lại các
nghị quyết và biên bản trước khi Chủ tich HDND ký chứng thực.
Một nội dung quan trọng của các kỳ họp HDND là thực hiện quyền chất vấn
của đại biểu HDND đối với UBND, các thành viên của Ủy ban, Thủ trưởng các cơ
quan chuyên môn thuộc UBND, Chánh án TAND và Viện trưởng VKSND cùng cấp.
Nội dung nghị quyết phải chỉ ra chủ trương, biện pháp, thời gian thực hiện
và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, thực hiện nghị quyết đó. Nghị quyết HDND
phải được gửi đến các cơ quan hữu quan để thực hiện, đồng thời được công bố trên
các phương tiện thông tin dại chúng, chuyển lên chính quyền cấp trên để theo dõi và
giám sát. Ngoài ra, HDND còn ra nghị quyết để thông qua (ban hành) các văn bản
pháp quy địa phương như các “nội quy kì họp HDND”, “quy chế xay dựng làng văn
hóa”…Nghị quyết có hiệu lực ngay sau khi được thông qua hoặc sau khi được các cơ
quan nhà nước cấp trên phê chuẩn. Có một số nghị quyết ghi rõ thời gian thi hành.
Nghị quyết hết hiệu lực khi đã thực hiện xong hoặc bị chính HDND sửa đổi, hủy bó
hoặc bị cấp trên đình chỉ bãi bỏ.
Như vậy ta có thể thấy rằng hoạt động của HDND tại kì họp thể hiện trí tuệ
tập thể của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Đồng thời phát huy hơn nữa
hiệu quả hoạt động của HDND theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
Trong các kì họp của HDND thì kì họp thứ nhất chiếm một vị trí hết sức
quan trọng vì nó liên quan đến việc kiện toàn tổ chức của bộ máy nhà nước ở địa
phương; tiến hành thẩm tra tư cách đại biếu HDND; bầu ra thường trực HDND, các
ban của HDND, UBND cùng cấp; ra nghị quyết chấp thuận đại biểu HDND. Kì họp
thứ nhất của mỗi khóa HDND do Chủ tịch HDND khóa trước triệu tập và chủ tọa cho
đến khi HDND bầu ra Chủ tịch HDND khóa mới. Trong trường hợp khuyết Chủ tịch
HDND thì Phó Chủ tịch HDND triệu tập kỳ họp thứ nhất của HDND khóa mới. Nếu
khuyết cả hai thì Thường trựcHDND cấp trên trực tiếp chỉ định triệu tập viên để triệu
tập và chủ tọa kỳ họp cho đến khi HDND bầu ra được Chủ tịch HDND; ở cấp tỉnh do
Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ định triệu tập viên.
2.2.2.Hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân
Trong số các hoạt động của HDND thi hoạt động của Thường trực HDND
cũng giữ một vị trí quan trọng. Đây là hình thức hoạt động có tác dụng lớn đến hiệu
quả hoạt động chung của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Theo Luật tổ
chức HDND và UBND năm 2003, hoạt động của Thường trực HDND được quy định
như sau: Thường trực HDND triệu tập và chủ tọa các kỳ họp của HDND; phối hợp
với UBND trong việc chuẩn bị kỳ họp của HDND; Đôn đốc, kiểm tra UBND cùng
kinh tế - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân trong việc thi hành Hiến pháp,
luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và các nghị quyết của HĐND
cùng cấp. Trong khi thi hành nhiệm vụ các ban của HĐND có quyền yêu cầu UBND
các cơ quan chuyên môn thuốc UBND, TAND, VKSND cùng cấp, các cơ quan Nhà
nước, tổ chức kinh tế xã hội ở địa phương cung cấp thông tin tào liệu cần thiết liên
quan đến hoạt động giám sát. Các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm đáp ứng yêu cầu
của các ban của HĐND; báo cáo kết quả hoạt động giám sát với thường trực HĐND
khi cần thiết.
2.2.4 Hoạt động của các đại biểu Hội đồng nhân dân.
Hoạt động của các đại biểu HĐND góp phần quan trọng vào việc xây dựng và
thực hiện các chủ trương công tác của HĐND. Đại biểu HĐND được nhân dân địa
phương tín nhiệm bầu ra là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa
phương. Vì vậy phải gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của nhà nước, tuyên
truyền, vân động nhân dân địa phương thực hiện chính sách, pháp luật và tham gia
vào việc quản lý Nhà nước.Số lượng đại biểu HDND theo số dân.Theo quy định
chung,số lượng đại biểu HDND ở cấp tỉnh từ 50-85 đại biểu, cấp huyện từ 30-40 đại
biểu, cấp xã từ 15-35 đại biểu. Riêng Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh từ 50 – 95
H ND: H i đ ng nhân dânĐ ộ ồ Page 7
• UBND: Ủy ban nhân dân
Bài tập lớn học kì môn luật hiến pháp Việt Nam – sv Bùi Thị
Hải
đại biểu. Theo quy định của pháp luật, hội đồng hoạt động của đại biểu hội đồng nhân
dân tập trung trên hai mặt:
Một là, hoạt động của đại biểu tại kỳ họp và trong các cơ quan của hội đồng nhân
dân. Đại biểu hội đồng nhân dân có nhiệm vụ tham gia đầy đủ các kỳ họp của hội
đồng nhân dân, các sinh hoạt của tổ đại biểu, hoàn thành những nhiệm vụ được
giao.Trong kỳ họp,đại biểu HDND có quyền đề nghị ghi vào chương trình nghị sự
lệnh tạm giữ đại biểu HĐND thì phải thông báo cho chủ tịch HĐND cùng cấp biết.
Đại biểu HĐND có thể xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu và ký do sức khỏe hoặc vì lý do
khác. Việc chấp nhận đại biểu xin thôi làm nhiệm vụ do HĐND cùng cấp xét là quyết
H ND: H i đ ng nhân dânĐ ộ ồ Page 8
• UBND: Ủy ban nhân dân
Bài tập lớn học kì môn luật hiến pháp Việt Nam – sv Bùi Thị
Hải
định. Đại biểu HĐND không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân thì tùy
mức độ phạm sai lầm mà bị HĐND hoặc cử tri bãi nhiệm. Thường trực HĐND và
UBND cùng cấp quyết định việc đưa ra HĐND hoặc đưa ra cử tri bãi nhiệm đại biểu
theo đề nghị của UBMT tổ quốc Việt Nam cùng cấp.
3. Nhận xét đánh giá
Trong tổ chức và hoạt đông của HĐND các cấp đã có nhiều tiến bộ, đặc biệt
trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, trong hoạt động quản lý Nhà nước, giám sát
việc thi hành việc thực thi pháp luật ở địa phương .rong quá trình hoạt động của mình
có sự gắn kết chặt chẽ giữa HĐND cấp trên tạo nên sự thống nhất trong chỉ đạo và
điều hành của HĐND các cấp đáp ứng được yêu cầu đặt ra đồng thời tạo nên sự nhịp
nhàng, trơn tru trong hoạt động chung của các cơ quan Nhà nước. Bên cạnh đó hoạt
động của đội ngũ cán bộ công chức khá tốt chất lượng trình độ chuyên môn ngày càng
được nâng cao tạo nên sự thuận lợi trong việc thực các nhiệm vụ được giao một cách
nhanh chóng và đứng đắn. Tuy nhiên thực tiễn tổ chức và hoạt động của HĐND ở
nước ta còn có những hạn chế nhất định: đó là các nghị quyết của HĐND các cấp
được xây dựng thường không phải bằng trí tuệ của chính các đại biểu mà chủ yếu là
sự hợp thức hóa các quyết định của cấp ủy và của UBND, tổ chức còn nặng về tính
hình thức “cơ cấu” trong khi thực tiễn hoạt động lại kém hiệu quả thậm chí còn tỏ ra
lúng túng. Chất lượng đội ngũ cán bộ công chức mặc dù đã có những cải thiện đáng
kể song nhìn chung chất lượng cán bộ trẻ, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ
chỉ liên quan đến chất lượng hoạt động của HDND mà còn thể hiện tính dân chủ đại
diện của HDND. Thực tế hiện nay cần tăng cường số lượng đại biểu HDND và chú ý
đến hoạt động của số đại biểu này, để nâng cao hơn nữa tính chuyên nghiệp và trách
nhiệm của đại biểu HDND trong giai đoạn hiện nay.
Như vậy, để nâng cao hơn nữa hiệu quả tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước
nói chung, của các cơ quan đại diện nói riêng, cần quán triệt quan điểm tăng cường
quyền lực và khả năng thực thi quyền lực của các cơ quan này. Các cơ quan nhà nước
(trong đó có HDND) “nếu không đủ quyền lực hoặc có quyền lực mà không biết thực
thi, năng lực yếu mà lại không trong sạch thì không thể nói đến hiệu lực, hiệu quả của
bộ máy, thậm chí có khi tê liệt”.
LỜI KẾT
H ND: H i đ ng nhân dânĐ ộ ồ Page 10
• UBND: Ủy ban nhân dân