Phân tích hiện tượng tha hóa của con người, vấn đề giải phóng con người trong triết học mác lê nin - Pdf 34

MỤC LỤC

Phân tích hiện tượng tha hóa của con người? Vấn đề giải phóng con người
trong triết học Mác – Lê nin?
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như
sinh vật học, tâm lý học, đạo đức học, dân tộc học, y học, triết học … Song giải
đáp những vấn đề chung nhất của con người, ý nghĩa cuộc sống của con người,
trước hết là nhiệm vụ của triết học, bởi vì đặc trưng của tư duy triết học là sự phản
tư của tư duy con người đối với chính bản thân mình. Triết học Mác nói chung,
triết học Mác- Lê Nin nói riêng đã chỉ ra bản chất của con người, sự tha hóa của
con người từ đó là vấn đề giải phóng con người, từ giải phóng những con người cụ
thể sẽ tiến đến giải phóng nhân loại. Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, sau đây

1


nhóm chúng em trình bày đề tài: “Phân tích hiện tượng tha hóa của con người,
vấn đề giải phóng con người trong triết học Mác-Lê Nin”.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. HIỆN TƯỢNG THA HÓA CỦA CON NGƯỜI
1. Khái niệm tha hóa
Nhân loại, trên đường tìm về bản chất đích thực của mình, không tránh khỏi
phải trải qua một giai đoạn bị tha hoá. Đó là một giai đoạn lịch sử trong tiến trình
nhân loại chuyển từ “vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do”, như
Ph.Ăngghen đã khẳng định.
Tư tưởng về sự tha hoá được lý giải một cách có hệ thống bắt đầu từ triết
học cổ điển Đức với đại biểu nổi tiếng là Ph.Hêghen. Tuy nhiên, Hêghen đã lý giải
sự tha hoá theo kiểu duy tâm. Xuất phát từ quan niệm bản nguyên của thế giới
không phải là vật chất, mà là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần thế giới”, Hêghen
cho rằng giới tự nhiên, kể cả con người, chẳng qua chỉ là sự “tha hoá của ý niệm

sự chuyển dịch bản chất con người, khiến cho con người từ chủ thể biến thành
khách thể, có nghĩa Thượng đế do con người tưởng tượng ra, nhưng trở lại thống
trị con người (tha hóa tôn giáo).v.v. Tha hóa còn chỉ những hiện tượng, những quan
hệ xã hội nào đó biến thành một cái gì khác với bản thân chúng, trở thành cái thống
trị con người, trở thành mục đích sống của con người. Tha hóa là quá trình con
người tự đánh mất “những năng lực bản chất người” của mình, trở thành một
thực thể khác. Như vậy, tha hóa trước hết là một quá trình xã hội, trong đó, hoạt
động của con người và những sản phẩm của nó biến thành lực lượng đối lập, thù
địch và chống lại con người.

3


2. Nguồn gốc và nguyên nhân của sự tha hóa
Mác bắt đầu xây dựng lý luận của mình bằng cách sử dụng khí niệm tha hóa,
cắt nghĩa tình trạng tha hóa của con người và vawch ra con đường khắc phục sự tha
hóa. Nhưng khác với Phơ bách, Mác tìm nguyên nhân dẫn đến sự tha hóa bản chất
con người từ “lao động bị tha hóa”. Điều đó biểu hiện:
- Sản phẩm do lao động của người lao động tạo ra tở thành cái đối lập, chi
phối cuộc sống của con người.
- Có tình trạng đó vì bản thân hoạt động lao động đã không còn là biểu hiện
bản chất sáng tạo mà trở thành lao động cưỡng bức, do đó, trong lao động của
mình con người không tự khẳng định mình mà lại phủ định mình.
- Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, ngay cả sức lao động, cái năng lực
bản chất của con người cuãng đã thuộc về người khác.
“Lao độngtha hóa” làm cho con người tha hóa khỏi con người, mỗi cá thể
trở thành xa lạ với cá thể khác trong đời sống tính loài và đời sống cá nhân xa lạ
với nhau.
Nguồn gốc của sự tha hóa là do sự phát triển của phân công lao động xã hội
và sự xuất hiện của chế độ tư hữu. Triết học Mác đã chỉ ra những dấu hiệu đặc

người tạo ra chúa dựa theo hình ảnh của mình. Chúa trời- một thực thể siêu nhiên,
chính là biểu tượng tôn giáo do con người sáng tạo ra, là sự tuyệt đối hoá những
đặc điểm và những tính chất của con người dưới một hình thức lý tưởng hoá, nghĩa
là dưới hình thức một điển hình lý tưởng.Như vậy tha hoá tôn giáo biểu hiện con
người đã tự làm mình nghèo đi, bởi vì con người đã tước bỏ những đặc điểm riêng
của mình để chiếu hình của chúng vào trí tuệ mình. Sản phẩm đó mang hình thức
một tín ngưỡng xã hội, nó tự “trí hoá” sự tồn tại của nó đối với chính kẻ sáng tạo
ra nó, biểu hiện ra với con người như một lực lượng xa lạ, nhiều khi đối địch và bắt
đầu thống trị con người. Một khi đã được tạo ra và được khách quan hoá để mang
5


tính xã hội, những tín ngưỡng tôn giáo trở nên không những xa lạ với con người,
nhiều khi đối địch và bắt đầu thống trị con người.
*Tha hoá xã hội-chính trị:
- Quan niệm của C.Mác về sự tha hoá này xuất phát từ chính quan niệm của
ông về sự “rạn nứt” nội tại diễn ra trong con người xuất hiện trong hai vai trò,
nhưng dưới một hình thức duy nhất và như nhau: như thành viên của “tổ chức
công dân” và như thành viên của “tổ chức nhà nước”. Trong tổ chức thứ nhất thì
đối với người công dân, nhà nước thể hiện ra là mặt đối lập hình thức; trong tổ
chức thứ hai thì đối với nhà nước, bản thân người công dân thể hiện ra là mặt đối
lập vật chất. Sự phân đôi những vai trò của con người dẫn tới sự xung đột nội tại
và tới cái tâm trạng khốn khổ chứng tỏ rằng ngay trong thế giới của những sản
phẩm bị tha hoá của con người, con người cũng cảm thấy xa lạ bởi vì con người bị
tha hoá đối với “thực thể” của mình.
- Sự tha hoá xã hội-chính trị biểu hiện tập trung nhất là ở sự tha hoá nhà
nước. Theo một ý nghĩa nào đó nhà nước tương ứng với một đội vũ trang( quân sự,
cảnh sát...), cơ quan hành chính..., quyền lực của nó càng lớn thì sự tha hoá của nó
càng nguy hiểm, nó càng với tư cách một lực lượng tự trị , thoát khỏi sự kiểm soát
của con người.Nhà nước, với tư cách là một bộ máy cưỡng bức có khả năng thống

+Lao động không còn là nhu cầu, là bản chất con người mà trở thành một
lực lượng xa lạ, đối lập và nô dịch con người, nó chỉ còn là phương tiện để thoả
mãn nhu cầu tồn tại thể xác của con người. Vì vậy lao động của người công nhân

7


trở thành lao động cưỡng bức, và bản thân người lao động cũng né tránh

lao

động. Người lao động chỉ cảm thấy tự do khi ở ngoài quá trình lao động.
+Lao động tha hoá còn biểu hiện ở chõ: Lao động đó không thuộc về bản
thân người lao động mà thuộc về người khác, và bản thân anh ta trong quá trình lao
động , không thuộc về anh ta mà thuộc về người khác. Vì vậy hoạt động lao động
của người lao động là hoạt động tự đánh mất bản thân mình. Đó là quá trình tự
tha hoá.
Thứ ba: Tha hoá bản chất con người và tha hoá con người với con người
-Lao động bị tha hoá dẫn tới giới tự nhiên chỉ còn là phương tiện để duy trì
sự tồn tại thân xác cuả con người. Lao động bị tha hoá làm cho lao động trở thành
đối lập với giới tự nhiên, lao động không còn là hoạt động cải tạo tự nhiên, chiếm
lĩnh tự nhiên phục vụ cho đời sống con người và thông qua đó mà còn người hoàn
thiện chính mình nữa.Lao động tha hoá, khiến cho con người vì là một sinh vật có
ý thức, chỉ biến chính hoạt động sinh sống của mình, bản chất của mình thành
phương tiện để duy trì sự tồn tại thân xác của con người, mọi hoạt động tinh thần
khác bị loại khỏi đời sống con người. Như vậy lao động tha hoá đã biến cái thế hơn
của con người so với con vật thành cái tiêu cực đối vơí con người.
- Sự tha hoá lao động dẫn tới kết quả “ Bản chất có tính loài của con ngườigiới tự nhiên cũng như tài sản tinh thần có tính loài của con người- bị biến thành
một bản chất xa lạ với con người, thành phương tiện duy trì sự tồn tại của cá nhân
con người.

trị chính trị về tay giai cấp vô sản, đây là điều kiện tất yếu để xóa bỏ tha hóa. Thứ
hai là xây dựng chủ nghĩa cộng sản, đây là phương thức duy nhất để xóa bỏ hoàn
toàn mọi sự tha hóa và phát triển tự do toàn diện con người.
9


II. VẤN ĐỀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC MÁC
– LÊ NIN
Khi xây dựng quan niệm duy vật về lịch sử, triết học Mác- Lê Nin giải đáp
một cách duy vật vấn đề con người, bản chất con người, con người với tư cách
thực thể sinh học- xã hội, vị trí vai trò của con người trong tiến trình lịch sử nhân
loại. Những quan niệm duy vật đó không chỉ nhằm mục đích xây dựng lý luận về
con người, mà hơn thế nữa còn nhằm mục đích giải phóng con người, giải phóng
xã hội. Giải phóng con người là xóa bỏ người bóc lột người, xóa bỏ tha hóa để con
người trở về với chính mình, phát triển bản tính chân chính của mình. Lênin nhận
định rằng điểm chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai trò
lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là thực hiện sứ mệnh giải phóng con người.
Xã hội tư bản, theo Các-Mác, là một bước tiến trong lịch sử phát triển của
nhân loại. Nội dung bước tiến ấy là cơ sở cho sự phát triển của bản chất con người,
là điều kiện cho sự giải phóng xã hội, giải phóng nhân loại. Nhưng trong khuôn
khổ của chủ nghĩa tư bản, khi mà tư liệu sản xuất chủ yếu còn nằm trong tay giai
cấp tư sản thì con người chưa thực sự được giải phóng về chính trị, cũng chưa
được giải phóng về kinh tế, văn hóa. Do vậy, nếu không xóa bỏ nó (chế độ tư hữu
tư sản) thì tuyệt đại đa số nhân dân lao động sẽ không có sở hữu, và như thế thì
tình trạng con người chịu sự nô lệ vào người khác còn tồn tại. Từ đó,
C.Mác - Ph.Ăngghen đã khẳng định: “không thể thực hiện được một sự giải
phóng thực sự nào khác nếu không thực hiện sự giải phóng ấy trong thế giới hiện
thực và bằng những phương tiện hiện thực”. Xóa bỏ đi kiểu quan hệ sản xuất tư
bản chủ nghĩa - cũng đồng thời với việc lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản là cơ
sở xóa bỏ tận gốc mọi điều kiện con người bị áp bức. Chính điều này, trong

nghĩa vụ, trách nhiệm cá nhân. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới là giải phóng tối ưu
cho các vấn đề xã hội liên quan tới sự phát triển xã hội con người.

11


Mọi biện pháp về kinh tế, chính trị … rốt cuộc, nhằm xây dựng một xã hội,
trong đó sự phát triển tự do và toàn diện của mỗi người là điều kiện cho sự phát
triển tự do và toàn diện của con người. Chúng ta cần khắc phục quan niệm giản
đơn, phiến diện lâu nay coi những biện pháp mang ý nghĩa phương tiện như cải tạo
kinh tế, củng cố chính quyền. .. đó là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Sự nghiệp giải phóng con người là sự nghiệp tự giải phóng, cách mạng là sự
nghiệp của quần chúng. Mác và Ăng ghen đã từng lưu ý rằng, chủ nghĩa xã hội
không phải là một lý tưởng mà là hiện thực phait khuôn theo. Chủ nghĩa xã hội là
một phong trào hiện thực, trong đó con người, quần chúng đông đảo vừa là mục
tiêu, vừa là chủ thể. Để có xã hội cộng sản chủ nghĩa, phải có trình độ phát triển rất
cao cả về kinh tế và về con người.
C.

KẾT LUẬN

Chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa nhân đạo hiện thực, giá trị lớn nhất của nó làm
cho học thuyết của Mác và Ăng Ghen vượt lên trên các học thuyết khác chính là
tư tưởng về sự giải phóng triệt để con người. Có thể nói cho đến nay chưa có một
học thuyết nào ngoài học thuyết của chủ nghĩa Mác- Lê Nin chỉ ra được con đường
giải phóng triệt để cho nhân loại cần lao, giải phóng triệt để con người. Những vấn
đề mà Mác và Ăng Ghen đưa ra, đặc biệt vấn đề tha hoá là cơ sở để những người
nghiên cứu tiếp tục đi sâu phân tích làm rõ những biểu hiện của nó trong CNXH và
thời kỳ quá độ. Qua quá trình tìm hiểu, phân tích hiện tượng tha hóa của con
người, vấn đề giải phóng con người trong triết học Mác- Lê Nin, chúng ta có thể



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status