2
Luận văn:
“Phân tích vấn đề con người trong triết học
mác - lênin trong thời kỳ sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”
3
MỞ ĐẦU
Con người là chủ thể đích thực tạo ra lịch sử là trung tâm của mọi sự phát
triển xã hội. Chính bởi vậy, vấn đề con người luôn làđề tài được rất nhiều bộ
môn khoa học khác nhau nghiên cứu và là chủđề trung tâm của lịch sử triết
học từ cổđại đến hiện đại.
Ngay từ khi mới bước vào nghiên cứu lĩnh vực triết học, Mác đãý thức
được rằng: Triết học phải phục vụ cho cuộc đấu tranh chính trị thực tiễn nhằm
giải phóng nhân loại. Vì vậy mục tiêu cao cả nhất mà Mác đặt ra cho triết học
của mình là giải phóng những người lao động bịáp bức trên toàn thế giới. Triết
học Mác - Lê Nin nhằm giải quyết những nội dung liên quan đến con người
như bản chất con người là gì? vị trí vai trò của con người đối với thế giới như
thế nào? Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội trong đời sống con người Tất
nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp."
Do đó, nếu không nghiên cứu một cách có hệ thống vàđúng đắn về vấn
đề con người thì chúng ta không thể cóđược những chính sách đúng đắn để
phát triển con người. Ngược lại, nếu chúng ta nghiên cứu một cách toàn diện
và khoa học về con người mới cóđịnh hướng đúng, mới có thể xây dựng được
con người mới " Phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú
về tinh thần, trong sáng vềđạo đức" như Nghị quyết IV của Ban chấp hành
Trung ương khoá VII đã khẳng định.
Công việc nghiên cứu, bồi dưỡng, đào tạo sử dụng đúng đắn nhân tố con
người lại càng bức xúc khi Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy tới một bước
công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc giữa
nhiệm kỳ, khoá VII Đảng ta khẳng định: "Tư tưởng chỉđạo xuyên suốt các chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về các lĩnh vực văn hoá, xã hội là
chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, với tư cách vừa làđộng
lực, vừa là mục tiêu của cách mạng". 5
Với những yêu cầu bức thiết đó trong bài tiểu luận này em xin trình bày
một số lý luận triết học vềđề tài: "Phân tích vấn đề con người trong triết học
Mác - Lênin trong thời kỳ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước"
nhằm phần nào làm rõ những vấn đề liên quan đến nhân tố con người.
Đây là lần đầu tiên em viết tiểu luận, nên sẽ có nhiều thiếu sót, chưa đầy
đủ, mong thầy giúp đỡ chỉ bảo để bài tiểu luận của em được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn cô! 6
Mạnh Tử quy tính thiện của con người vào năng lực bẩm sinh, do ảnh hưởng
của phong tục tập quán xấu mà con người bị nhiễm cái xấu, xa rời cái đẹp.
Vì vậy, phải thông qua tu dưỡng, rèn luyện để giữđược đạo đức của
mình.
Cũng như Khổng Tử, Mạnh Tử cho rằng phải lấy lòng nhân ái, quan
hệđạo đức để dẫn dắt con người hướng tới các giá trịđạo đức tốt đẹp.
Triết học Tuân Tử lại cho rằng, bản chất con người khi sinh ra làác,
nhưng có thể cải biến được, phải chống lại cái ác ấy thì con người mới tốt
được.
Trong triết học phương đông, còn có quan niệm duy tâm cho rằng trời và
con người có thể hoà hợp với nhau (thiên nhân hợp nhất). Đổng Trọng Thư,
một người kế thừa Nho giáo theo khuynh hướng duy tâm cực đoan quan niệm
trời và con người có thể thông hiểu lẫn nhau (thiên nhân cảm ứng).
Lão Tử, người mởđầu chi trường phái Đạo gia, cho rằng con người sinh
ra từ "Đạo" do vậy con người cần phải sống "vô vi", theo lẽ tự nhiên, thuần
phác, không hành động một cách giả tạo , gòép, trái với tự nhiên. Quan niệm
này biểu hiện tư tưởng duy tâm chủ quan của triết học Đạo gia.
Triết học phương đông biểu hiện tính đa dạng và phong phú, thiên về vấn
đề con người trong mối quan hệ chính trị, đạo đức.
1.2-Quan điểm về con người trong triết học phương Tây trước Mác.
Các học thuyết triết học duy tâm tuyệt đối hoá hoạt động của đời sống
tinh thần, coi toàn bộ thế giới tinh thần bao gồm tư tưởng, tình cảm, khát vọng
của con người như một thực thể bị chia cắt khỏi quá trình tâm sinh học. Các
quan niệm duy tâm về bản chất con người tìm thấy sự hoàn thiện của mình
trong hệ thống triết học duy tâm của Hê-Ghen. Công lao của Hê-Ghen trong
lĩnh vực nghiên cứu con người làở chỗông là người đầu tiên đặt vấn đề xem 8
bản học để hướng con người tới tự do. Đó là những tiền đề cóý nghĩa cho việc
hình thành tư tưởng về con người của triết học Mácxít.
2- Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất con người.
2.1- Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt
xã hội.
Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học,
đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh
học và yếu tố xã hội.
Khi bắt tay vào việc nghiên cứu về bản chất của con người, Mác-Anghen
cho rằng nhiệm vụđầu tiên là phải thay con người trừu tượng bằng con người
hiện thực trong sự phát triển lịch sử của nó. Học thuyết của hai ông "chỉ nói
đến con người trong chừng mực họ là những hiện thân của những phạm trù
kinh tế là những đại biểu cho những quan hệ giai cấp và những lợi ích của
giai cấp nhất định".
Nếu các nhà triết học trước Mác khi nghiên cứu bản chất con người chỉ
nghiêng về một mặt, một mối quan hệ cụ thể nào đó của con người mà không
đặt chúng trong một chỉnh thể, một hệ thống. Còn các nhà sáng lập chủ nghĩa
Mác lại không xem xét con người một cách cô lập, phiến diện như vậy màđặt
nó trong mối quan hệ với tự nhiên xã hội.
Như chúng ta đã biết, tự nhiên là cái có trước con người, sinh ra con
người. Con người muốn tồn tại và phát triển thì phải biết sống vào tự nhiên,
phải biết tác động cải tạo tự nhiên đem lại sản phẩm thoả mãn nhu cầu của
mình. Con xã hội xuất hiện cùng với sự xuất hiện của con người. Nhưng nó lại
đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình hình thành con người. Tiền đề
vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người tự nhiên là con người mang tất
cả bản tính sinh học, tính loài. Yếu tố sinh học trong con người làđiều kiện 10
thần, phục vụđời sống của mình; hình thành, phát triển ngôn ngữ và tư duy;
xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản
chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng
đồng xã hội. Con người là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình
thành và phát triển của con người luôn bị quyết định bởi ba quy luật vềsự phù
hợp cơ thể với môi trường, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến dị,
tiến hoá quy định phương diện sinh học của con người.
Ba quy luật ấy cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trong
đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội. Mối quan hệ sinh
học và xã hội là cơ sởđể hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học và nhu cầu
xã hội trong đời sống con người như: nhu cầu ăn, mặc, ở, nhu cầu tái sản xuất,
nhu cầu tính cảm, nhu cầu thẩm mỹ và hưởng thụ các giá trị tinh thần.
Với phương pháp luận duy vật biện chứng chúng ta thấy rằng quan hệ
giữa mặt sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội
trong mỗi con người là thống nhất. Mặt sinh học là cơ sở tự nhiên của con
người, còn mặt xã hội làđặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài
vật. Hai mặt trên thống nhất với nháu, hoà quyện vào nhau để tạo thành con
người tự nhiên-xã hội.
2.2- Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà
những quan hệ xã hội.
Mác không chỉ xem xét con người trong hoạt động thực tiễn mà còn xem
xét nó trong thời đại lịch sử, trong môi trường xã hội nhất định. Mác viết,
"chúng ta cần phải thấy thế nào là bản chất con người nói chung và bản chất
ấy biến hình thế nào trong mỗi thời đại nhất định", ở mỗi thời đại khác nhau
bản chất con người là khác nhau vì xã hội loài người luôn luôn vận động từ
hình thái kinh tế xã hội thấp lên hình thái kinh tế xã hội cao nên con người
cũng phải biến đổi cho phù hợp. Con người ở thời đại nào đều mang dấu ấn
13
sống và bộ mặt xã hội. Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ
thể trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của xã hội. Mặc dù là " tổng hoà
các quan hệ xã hội" con người có vai trò tích cực trong tiến trình lịch sử với
tư cách là chủ thể sáng tạo. Bởi vậy, bản chất con người cũng vận động biến
đổi cho phù hợp, mỗi sự vận động và tiến lên của lịch sử sẽ quy định tương
ứng (mặc dù không trùng khắp) với sự vận động và biến đổi của bản chất con
người.
Để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làm cho
hoàn cảnh ngày càng mang tính người. Con người và hoàn cảnh sống tác động
qua lại lẫn nhau.
Bởi vậy, muốn xem xét vấn đề con người một cách khoa học nhất, đúng
đắn nhất thì phải nghiên cứu con người trong tính thống nhất giữa mặt sinh
học và mặt xã hội. Mỗi mặt có một chức năng khác nhau, không thể thay thế
cho nhau. Trong đó mặt xã hội chi phối sự hình thành bản chất con người.
Những luận điểm đúng đắn về con người của chủ nghĩa Mác cóý nghĩa
vô cùng quan trọng trong việc định hướng cho giáo dục với mục đích vì con
người, phục vụ con người, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Trong
nước ta hiện nay, chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành thế giới quan và nhân sinh
quan của hàng triệu con người, là hệ tư tưởng đang thống trị trong xã hội ta.
Do sự thay đổi của tình hình thế giới nói chung và do sự khủng hoảng
trầm trọng của hệ thống xã hội chủ nghĩa nói riêng, trong đó có sự khủng
hoảng kinh tế - xã hội ở nước ta trong thời gian qua, ảnh hưởng của nóít nhiều
bị giảm xuống cho rằng, chủ trương "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
văn minh" hợp với lòng dân. Chính chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc sẽ
làđộng lực tinh thần mạnh mẽđểđưa nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ
nguyên của công nghiệp hoá và hiện đại hoáđất nước.
II- CONNGƯỜITRONGLỊCHSỬPHÁTTRIỂNCỦANHÂNLOẠI.
15
lao động phải có lối sống lành mạnh, nhân nghĩa, nếp sống văn minh, coi
trọng chữ tín, sống khoan dung và tôn trọng sựđa dạng, khác biệt, gắn bó với
nhau trên cơ sởđồng thuận và bình đẳng công dân vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Họ phải hiểu biết và tôn trọng pháp luật,
kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng biểu hiện trong lao động ở hành
vi, cách ứng sử, giao tiếp với người khác, với cộng đồng đồng thời, với tư
cách là chủ thể của hoạt động lao động sản xuất, chủ thể quyết định sự tồn tại
và phát triển của xã hội, họ phải biết phấn đấu vàđấu tranh thực hiện dân chủ,
công bằng và bình đẳng xã hội. Để làm được điều này người lao động phải có
sự hiểu biết, có trình độ học vấn nhất định và nhất là phải có văn hoá dân chủ.
Đặc biệt, người lao động Việt Nam trong quá trình thực hiện công nghiệp
hoá, hiện đại hoá phải có năng lực phát huy những giá trị truyền thống, giá trị
văn hoá của dân tộc, kết hợp với việc tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân
loại. Đòi hỏi người lao động Việt Nam vừa biết kế thừa những mặt tích cực,
những nét đẹp của truyền thống và các giá trị truyền thống vừa biết phát triển
những giá trịđó lên tâm cao hơn, đồng thời biết tiếp thu những tinh hoa quí giá
của văn hoá nhân loại. Nếu không biết kết hợp truyền thống với cách tân để
vượt lên, để hội nhập, để tìm mọi cách bước vào xã hội hiện đại thì tương lai
chỉ là sự tụt hậu. Tóm lại, người lao động Việt Nam phải biết hiện đại hoá các
giá trị truyền thống, những giá trị mà người lao động Việt Nam tạo ra hôm nay
sẽ trở thành những giá trị tinh hoa để lại cho đời sau, góp phần làm lên sự
trường tồn trong phồn vinh với bản sắc riêng của dân tộc Việt Nam.
Không chỉ hiểu biết về nền văn hoá, văn minh của thời đại mà con người
Việt Nam ngày nay còn phải là những con người có kiến thức văn hoá, khoa
học, kỹ thuật, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo và có kỷ luật,
giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội Phải được phát triển như
cầu hoà nền kinh tế thế giới với tư cách là xu thế phát triển khách quan, do
đóđòi hỏi người lao động Việt Nam còn phải biết chủđộng hội nhập quốc tế. 17
Hội nhập quốc tế cũng nghĩa là chấp nhận cạnh tranh với thế giới bên ngoài
trong điều kiện ở Việt Nam còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém đặt ra những đòi
hỏi bức xúc về chất lượng nguồn lực con người Việt Nam. Rõ ràng trong điều
kiện kinh tế thị trường và Hội nhập quốc tế sâu rộng, người lao động dù có
lòng yêu nước như thời kháng chiến chống đế quốc, thậm chí có nhiệt huyết
cách mạng cao thì cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Bởi ngoài bản lĩnh chính trị vững vàng, ý thức dân tộc cao,
họ còn phải có trình độ trí tuệ ngang tầm đòi hỏi ít ra là của khu vực. Trình độ
trí tuệđó của con người được phản ánh qua trình độ học vấn và năng lực sáng
tạo. Để cóđược điều này, ngoài tư chất ban đầu, vai trò chủ yếu thuộc về giáo
dục vàđào tạo, vì nó là phương tiện cơ bản nhất và hữu hiệu nhất để phát triển
trí tuệ, trang bị tri thức chuyên môn, nghề nghiệp cho người lao động, là giáđỡ
cho tiềm năng sáng tạo của con người. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá trong điều kiện ngày nay đòi hỏi người lao động phải có năng lực sáng
tạo, khả năng thích nghi nhanh và kỹ năng lao động giỏi, đó là những yêu cầu
chung đối với người lao động. Cơ cấu nòng cốt của đội ngũ lao động làđội ngũ
tri thức với cơ cấu đồng bộ trong các lĩnh vực khoa học công nghệ, quản lý
kinh tế xã hội, văn hoá-văn nghệ Họ phải thành thạo chuyên môn, nghề
nghiệp có năng lực tiếp thu chọn lọc vàứng dụng có hiệu quả những thành tựu
của khoa học-công nghệ hiện đại, những tinh hoa văn hoá-văn minh thế giới,
những di sản văn hoá dân tộc vào thực tiễn Việt Nam. Đồng thời, họ phải có
năng lực sáng tạo về lý thuyết cũng như thực hành, nhằm giải quyết cả những
vấn đề trước mắt cũng như lâu dài của đất nước. Đội ngũ tri thức phải thực
hiện có hiệu quả các chức năng nghiên cứu, ứng dụng, phát triển, giáo dục -
lao động phải có lối sống lành mạnh, nhân nghĩa, nếp sống văn minh, coi
trọng chữ tín, sống khoan dung và tôn trọng sựđa dạng, sự khác biệt, gắn bó
với nhau trên cơ sởđồng thuận và bình đẳng công dân vì mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. 19
Đồng thời, với tư cách là chủ thể của hoạt động lao động sản xuất, chủ
thể quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội, họ phải biết phấn đấu vàđấu
tranh thực hiện dân chủ, công bằng và bình đẳng xã hội. Để làm được điều này
người lao động phải có sự hiểu biết, có trình độ học vấn nhất định và nhất là
phải có văn hoá dân chủ.
Đây là sự phác thảo những năng lực và phẩm chất chủ yếu cần có của
người lao động Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoáđó cũng
chính là những yếu tố cơ bản của một nhân cách phát triển toàn diện.
Nói một cách tổng quát: Chủ nhân của đất nước ở thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá phải là" những con người phát triển cả về trí lực và thể lực,
cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị-xã hội, vềđạo đức, tình cảm
trong sáng"
III- VẬNDỤNGQUANĐIỂMCHỦNGHĨA MÁC-
LÊNINVỀCONNGƯỜIVÀOVẤNĐỀXÂYDỰNGCONNGƯỜITRONGSỰNGHIỆPC
ÔNGNGHIỆPHOÁ, HIỆNĐẠIHOÁỞNƯỚCTA.
Bước vào thời kỳđẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước, chúng
ta ngày càng nhận thức một cách đầy đủ và sâu sắc hơn ý nghĩa quan trọng và
tính chất phức tạp của vấn đề xây dựng con người. Rất nhiều vấn đề mới đặt
ra, đòi hỏi chúng ta phải có quan điểm và phương pháp đánh giáđúng thực
trạng, phân tích đúng những nguyên nhân, có biện pháp giải quyết kịp thời
đồng thời hoạch định chính sách lâu dài và cơ bản.
Đại hội lần thứ VIII của Đảng đãđề ra nhiệm vụ chính trị trung tâm của
kỳ khủng hoảng với tốc độ tăng trưởng thấp, lạm phát cao, tốc độ tăng trưởng
kinh tếđã khá lên, tốc độ tăng trưởng công nghiệp cũng được cải thiện.
Tuy nhiên, do nước ta vừa thoát khỏi cuộc chiến tranh đẫm máu. Nóđể
lại những hậu quả nặng nề trên con người Việt Nam. Đó là những di chứng
của chất độc màu da cam, là sự huỷ hoại của bom đạn đối với những người 21
lính trong chiến tranh và sự tàn phá nền kinh tế nặng nề. Đểđảm bảo sự phát
triển hài hoà trên mọi lĩnh vực với nhiều mối quan hệ khác nhau, chúng ta đã
có hàng loạt các chính sách chăm lo đến cuộc sống của họ: Chính sách đền ơn
đáp nghĩa, chăm sóc người già, thương bệnh binh, Liệt sỹ, Bà mẹ Việt Nam
anh hùng Tất cả những chính sách này nhằm đảm bảo sự phát triển bình
thường về mặt thể xác và tinh thần và mang một ý nghĩa nhân đạo sâu sắc.
Nólà sự thể hiện mối quan hệ của cá nhân với cộng đồng, của cá nhân với xã
hội, với loài người.
Sau khi giành được độc lập, Đảng, Nhà nước đã quyết tâm thực hiện mục
tiêu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong mỏi là xây dựng thành công một
nước Việt Nam XHCN dân giàu, nước mạnh, bỏ qua giai đoạn phát triển
CNTB, có thể sánh vai với các cường quốc năm châu. Đảng xác định: Muốn
xây dựng thành công CNXH thì phải thực hiện thành công sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, điều này đòi hỏi ngoài môi trường chính trịổn định
phải có các nguồn lực cần thiết như: Con người, vốn, tài nguyên, kỹ thuật
Các nguồn lực ngày có quan hệ chặt chẽ với nhau và cũng tham gia vào quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhưng vai trò và mức độ tác động khác
nhau. Trong đó, nguồn lực con người là yếu tố giữ vai trò quyết định.
Từ sau 1986, thực hiện đường lối đổi mới, mở cửa của Đảng Cộng sản
Việt Nam, nền kinh tế-xã hội nước ta có nhiều chuyển biến sâu sắc, nhiều biến
đổi về kinh tế-xã hội đó tác động làm biến đổi cơ cấu xã hội. Chuyển đổi cơ
chiến đấu cóý nghĩa quyết định nhằm giải phóng triệt để giai cấp công nhân và
xã hội nói chung. Hoạt động của con người nói chung, của nhân dân ta nhằm
đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước nói riêng, như triết
học Mácxít đã chỉ ra, đều nhằm theo đuổi những nhu cầu, lợi ích nhất định, lợi
ích chiếm vị trí quan trọng nhất trong hệ thống động lực thúc đẩy hoạt động
của con người. Quan điểm duy vật biện chứng đòi hỏi để khai thác tối đa hệ
thống động lực nhằm quy tụ sức mạnh toàn dân tộc đểđẩy mạnh quá trình 23
công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần phải "lấy lợi ích tối cao của dân tộc và
quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động làm nền tảng, kết hợp hài hoà lợi ích
riêng và lợi ích chung, lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, lợi ích từng đơn vị,
địa phương và lợi ích của cộng đồng, lợi ích dân tộc và giai cấp"
Thứ hai, nắm vững triết học Mác xít sẽ cho phép giải quyết đúng đắn
mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan, giữa khoa học và cách mạng trong
qúa trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Chủ trương công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước ta được đặt ra trong
hoàn cảnh, xét trên phạm vi quốc gia, giai cấp cách mạng đứng ở thếáp đảo
toàn diện, từ nền kinh tếđến quy mô quốc tế. Sức mạnh kinh tế, tiềm năng
khoa học và công nghệđang tập trung trong tay giai cấp tư sản độc quyền.
Hoàn cảnh khách quan đóđòi hỏi chúng ta phải có chính sách mềm dẻo đủ
mức cần thiết để chuyển những nhân tố "ngoại sinh" đó thành yếu tố "nội
sinh" cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước. Muốn vậy,
chủ thể quá trình cách mạng, Đảng và nhân dân lao động nước ta phải có sự
trưởng thành vượt bậc về năng lực trí tuệđể luôn ở thế chủđộng, làm chủđược
quá trình sử dụng sức mạnh của chủ nghĩa tư bản tư nhân Vì lợi ích của
công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN.
Thứ ba, triết học Mácxít còn góp phần chỉ ra những mâu thuẫn mà quá
khẳng định "đời sống vật chất của phần lớn nhân dân được cải thiện trình độ
dân trí và mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân được nâng lên , người lao
động được giải phóng khỏi sự ràng buộc của nhiều cơ chế không hợp lý, phát
huy quyền làm chủ của người lao động".
Nước ta hiện nay có nguồn lao động khá dồi dào, đó làđộng lực của sự
phát triển. Năm 1994, dân sốở Việt Nam là: 72.509.800 người (dự báo của cơ
quan phát triển dân số của Liên hợp quốc: 73.299.832 người). Trong đó,
nữchiếm 51,3%. So với năm 1990 dân số nước ta tăng 6.275.700 người, bình 25
quân hàng năm tăng 1,6 triệu người. Cơ cấu dân số trẻ: số người dưới 15 tuổi
chiếm 39% tổng dân số, số người từ 65 tuổi trở lên chiếm 5%. Đến nay dân số
nước ta đãđạt tới khoảng 80 triệu dân với tổng nguồn lao động là 40.251.100
người (Nam: 19.254.000; Nữ 20.297.100) trong đó, nhân khẩu trong độ tuổi
lao động là: 37.323.500 người và nhân khẩu ngoài độ tuổi lao động thực tế có
tham gia lao động là: 3.652.700 người.
Nguồn nhân lực ở nước ta mang trong mình những phẩm chất truyền
thống quý báu: Anh dũng trong chiến đấu; cần cù bền bỉ, dẻo dai trong lao
động, có khả năng sáng tạo và thích ứng nhanh. Những phẩm chất này thể
hiện trình độ, năng lực trí tuệ của người lao động phù hợp với tốc độ phát triển
của con người hiện đại.
2- Tầm quan trọng của nguồn lực con người trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước.
Con người là nguồn lực lớn nhất và quan trọng nhất trong các nguồn lực
phát triển xã hội. Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội thực chất là chiến lược
con người.
Những năm kết thúc thế kỷ XX, mởđầu thế kỷ XXI ở nước ta đánh dấu
một mốc phát triển cực kỳ quan trọng, mở ra thời kỳđẩy mạnh công nghiệp
Nhân tố con người đóng một vai trò hết sức quan trọng trong qúa trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước. Nó không chỉ là yếu tố quyết định sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước mà còn làđộng lực của công
nghiệp, hoá hiện đại hoá nước ta.
2.1- Nguồn lực con người-yếu tố quyết định sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoáđất nước.
Chúng ta muốn xem xét vai trò của nguồn lực con người, cần đặt nó
trong quan hệ so sánh với các nguồn lực khác vàở mức độ chi phối của nóđến
sự thành, bại của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đồng thời, ta cũng
phải đặt công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời đại hiện nay, khi cuộc cách