ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ - LUẬT
RỦI RO LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
Nhóm thực hiện
HỌ & TÊN
MSSV
Nguyễn Thị Ngọc Diễm
K06440613
Nguyễn Thị Bích Hảo
K064040627
Nguyễn Cao Vinh
K06404
Giảng viên hướng dẫn: NGUYỄN THỊ DIỄM HIỀN
QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Năm học 2009 - 2010
THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
: Ngân hàng Thương mại
NHTW
: Ngân hàng Trung Ương
RRLS
: Rủi ro lãi suất
TCTD
: Tổ chức tín dụng
TMCP
: Thương mại Cổ phần
TS
: Tài sản
TSC
: Tài sản có
TSN
: Tài sản nợ
QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Có thế nói bản chất hoạt động của một Ngân hàng NHTM hiện nay là chấp nhận rủi ro và quản
lý rủi ro . Trong bất kỳ giai đoạn kinh tế nào thì việc đối mặt với rủi ro của các ngân hàng là
điều không thể tránh khỏi. Cùng với sự ra đời hàng loạt của các ngân hàng hiện nay mà song
hành với nó là không ít những rủi ro dẫn đến việc không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của bản
thân ngân hàng đó mà còn có tác động đến cả nền kinh tế. Chính vì vậy việc nhìn nhận, đánh giá
đúng về thực trạng các ngân hàng trong vấn đề rủi ro thực sự rất quan trọng.Rủi ro trong hoạt
động kinh doanh của NHTM thì có nhiều loại, với bài tiểu luận này chúng em mạnh dạng
nghiên cứu về rủi ro lãi suất – Một vấn đề nhạy cảm trong hoạt động kinh doanh của NHTM,
đặc biệt trong tình hình lãi suất thường xuyên biến động như hiện nay.
1. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO LÃI SUẤT
1.1. Khái niệm RRLS
1.1.1. Khái niệm về rủi ro:
● Theo quan điểm truyền thống: Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm
hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra
cho con người.
● Theo quan điểm trung hòa: Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được. Rủi ro vừa
mang tính tích cực vừa mang tính tiêu cực: Rủi ro có thể gây ra những tổn thất, mất mát,
nguy hiểm nhưng cũng có thể mang đến những cơ hội, thời cơ. Nếu tích cực nghiên cứu, nhận
dạng đo lường rủi ro, chúng ta có thể tìm ra được những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những
tiêu cực và phát huy được những cơ hội tích cực mang lại từ rủi ro.
● Trong hoạt động kinh doanh của NHTM: Rủi ro là những biến cố không mong đợi
mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với
dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài
chính nhất định. Rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến với
nhau trong một phạm vi nhất định.
1.1.2. Khái niệm về lãi suất: Là chi phí để đi vay hoặc giá phải trả để thuê vốn trong
năm là 1%. Năm 2 ngân hàng nhận được khoản chênh lệch lãi suất của khoản cho vay 2 năm là
2% nhưng chênh lệch lãi suất của khoản cho vay 1 năm tuỳ thuộc vào lãi suất mà ngân hàng tái
đầu tư.Nếu lãi suất cho vay tăng thì ngân hàng hưởng chênh lệch lãi suất tăng, ngược lại chênh
lệch lãi suất giảm thậm chí sẽ lỗ nếu lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất đi vay trên thị trường liên
ngân hàng.
Giảng viên Nguyễn Thị Diễm Hiền
5
QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3. Nguyên nhân của RRLS
1.3.1. Sự không phù hợp về kỳ hạn của nguồn và tài sản:
● Các tài sản của ngân hàng có kỳ hạn khác nhau nên khi gắn chúng với lãi suất ngân
hàng quan tâm tới kỳ hạn đặt lại lãi suất – là kỳ hạn mà khi kết thúc hợp đồng lãi suất sẽ bị thay
đổi theo lãi suất thị trường.
● Căn cứ vào kỳ hạn đặt lại lãi suất mà ngân hàng chia tài sản và nguồn thành hai loại:
Nhạy cảm với lãi suất và không nhạy cảm với lãi suất.
● Sự không phù hợp về kỳ hạn đặt giá của nguồn và tài sản được đo bằng độ lệch nhạy
cảm lãi suất:
Độ lệch nhạy cảm lãi suất = Tài sản nhạy cảm lãi suất – Nguồn nhạy cảm lãi suất.
Trong đó: Tài sản, nguồn nhạy cảm lãi suất là loại mà số dư nhanh chóng chuyển sang lãi
suất mới khi lãi suất thị trường thay đổi, bao gồm loại có kỳ hạn đặt lại giá < (hoặc =) 12 tháng.
1.3.2. Sự thay đổi của lãi suất thị trường ngoài dự kiến:
● Lãi suất thay đổi, các ngân hàng ít nhất phải đương đầu với hai loại rủi ro lãi suất
:Rủi ro về giá và Rủi ro tái đầu tư.
Rủi ro về giá phát sinh khi lãi suất thị trường tăng làm giảm giá trị của hầu hết trái
phiếu và các khoản cho vay lãi suất cố định mà ngân hàng nắm giữ. Nếu ngân hàng muốn bán
những công cụ tài chính này trong giai đoạn lãi suất tăng, nó sẽ phải chấp nhận tổn thất.
ngân hàng phải bỏ ra cũng tăng lên, do đó làm giảm thu nhập của ngân hàng. Khi lạm phát cao
thì thường có lợi cho người vay vốn và bất lợi cho người cho vay.
● Do cơ cấu tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng không hợp lý. Ngân hàng dùng tài
sản nợ ngắn hạn để đầu tư vào tài sản có dài hạn. Nếu lãi suất ngắn hạn tăng, chi phí ngân hàng
phải bỏ ra cũng sẽ tăng lên, trong khi thu nhập ở tài sản có dài hạn vẫn giữ nguyên, như vậy thu
nhập của ngân hàng không đủ bù đắp chi phí kinh doanh, dẫn đến ăn mòn vào vốn.
● Ngoài ra, rủi ro lãi suất có thể xảy ra do trình độ thấp kém bị thua thiệt trong việc
cạnh tranh lãi suất trên thị trường. Hoặc do yếu tố của nền kinh tế tác động đến lãi suất như cung,
cầu, yếu tố thị trường…Khi Nhà nước có quyết định điều chỉnh lãi suất theo hướn giảm xuống,
trong khi tiền gửi có kỳ hạn chưa đến hạn trả. Như vậy, lãi suất cho vay bị giảm thấp, nhưng
phần trả lãi cho những khoản tiền gửi có kỳ hạn lại không giảm tương ứng dẫn đến rủi ro lãi suất.
Giảng viên Nguyễn Thị Diễm Hiền
7
QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.4.4. Rủi ro sẽ gây tổn thất về tài sản cho ngân hàng: Mất vốn khi cho vay, gia tăng
chi phí hoạt động, giảm sút lợi nhuận, giảm sút giá trị của tài sản; khiến ngân hàng thua lỗ, phá
sản, sẽ ảnh hưởng đến những khách hàng gửi tiền cũng như khách hàng vay tiền,… làm
giảm niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng. Từ đó có thể làm nền kinh tế suy
thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp, sẽ kéo theo sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng
trong nước, trong khu vực; Ngoài ra rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới
trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế thế giới hiện nay
2. ĐO LƯỜNG RỦI RO LÃI SUẤT
Việc đo lường rủi ro lãi suất rất quan trọng trong công tác quản lý rủi ro lãi suất trong hoạt
động kinh doanh của NHTM.
→ Giúp các ngân hàng chủ động xây dựng kế hoạch huy động và sử dụng vốn phù hợp
Lượng hoá tủi ro lãi suất đối với một danh mục tài sản
Quy tắc chung trong quản lý rủi ro lãi suất đối với một tài sản cũng giá trị đối với một
danh mục tài sản:
● Sự tăng (giảm) lãi suất thị trường đều dẫn đến một sự giảm (tăng) giá trị của danh
mục tài sản
● Khi lãi suất thị trường tăng (giảm) thì danh mục tài sản có kỳ hạn dài sẽ giảm (tăng)
giá càng lớn
2.2. Mô hình thời lượng ( The Duration Model)
Mô hình lượng hoá mức độ nhạy cảm của tài sản và nguồn vốn đối với lãi suất đề cập đến
yếu tố thời lượng của tất cả các luồng tiền cũng như kỳ hạn đến hạn của tài sản và nguồn vốn.
Khái niệm thời lượng của một tài sản là thước đo thời gian tồn tại của luồng tiền của tài
sản này, được tính trên cơ sở giá trị của nó.Thực chất đây chính là việc áp dụng cách tính quy đổi
ra kỳ hạn trung bình của các khoản mục thuộc tài sản và các khoản mục thuộc nguồn vốn.
Trong đó: N
N
: Tổng số luồng tiền xảy ra.
: Là số lần luồng tiền xảy ra trong 1 năm.
CFt : Là luồng tiền nhận được tại thời điểm cuối kỳ.
PVt : Giá trị hiện tại của luồng tiền xảy ra tại thời điểm t.
Giảng viên Nguyễn Thị Diễm Hiền
9
QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
trong tương lai.
Trong đó: P : Là khoản lỗ của trái phiếu
P
: Là thị giá của trái phiếu
D
: Thời hạn của trái phiếu
R: Mức thay đổi lãi suất dự tính
Nội dung của nghiệp vụ:
● Thống kê dự báo sự thay đổi của lãi suất.
Giảng viên Nguyễn Thị Diễm Hiền
10
QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
● Thực hiện bán một khối lượng trái phiếu theo hợp đồng kỳ hạn.
● Khi lãi suất thay đổi thì có thể thực hiện mua hoặc bán bằng hợp đồng giao ngay,
tạo ra phần chênh lệch bù đắp thiệt hại.
3.1.2. Hợp đồng tương lai
Hợp đồng tương lai – Futures Contract: Là sự thoả thuận giữa người mua và người
bán tại thời điểm t = 0, rằng việc thanh toán và giao nhận hàng hoá được tiến hành tại một thời
điểm xác định trong tương lai. Như vậy, hợp đồng tương lai khá giống với hợp đồng kỳ hạn.Sự
khác biệt của chúng.
hợp đồng kỳ hạn,.. để phòng ngừa rủi ro do sự không cân xứng về thời hạn của hai vế bảng cân
đối tài sản & nguồn vốn.
Giảng viên Nguyễn Thị Diễm Hiền
11
QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
● Phòng ngừa thông thường: NH phòng ngừa vĩ mô hoặc vi mô nhằm dạt được mức
rủi ro thấp nhất bằng cách bán các hợp đồng tương lai để bù đắp rủi ro đối với tài sản.
● Phòng ngừa chọn lọc: NH lựa chọn phương pháp chấp nhận một bộ phận tài sản
không tham gia phòng ngừa hoặc được phòng ngừa kỹ hơn
3.1.3. Hợp đồng quyền chọn
Hợp đồng quyền chọn - Options contract: Là 1 công cụ tài chính cho phép người mua
hợp đồng có quyền (chứ không phải nghĩa vụ) mua hoặc bán một hàng hóa tại một giá cố định đã
thỏa thuận trước (Exercise Price or Strike Price - Giá thực hiện) trong một khoảng thời gian nhất
định.
Giao dịch Caps - giao dịch Mua quyền chọn mua lãi suất:
● Khái niệm: Là nghiệp vụ trong đó bên mua thanh toán một khoản phí quyền chọn và
được nhận quyền căn cứ vào một kỳ lãi nhất định , yêu cầu bên bán thanh toán một khoản bù trừ
ở mức chênh lệch giữa lãi suất tối đa đã thoả thuận và lãi suất so sánh ( Là lãi suất hiện hành tại
ngày giá trị của hợp đồng- Là ngày mà NH mua Caps có quyền yêu cầu NH bán Caps thanh
toán.).Nếu lãi suất này cao hơn lãi suất tối đa đã thoả thuận ( Là giá trị mà NH mua Caps muốn
phòng ngừa rủi ro lãi suất).
● Mục đích: Phòng ngừa rủi rỏ lãi suất tăng, khi giá trị các khoản mục bên tài sản
nhạy cảm với lãi suât nhỏ hơn giá trị các khoản mục bên nguồn huy động nhạy cảm với lãi suất
hay thời hạn của khoản mục thuộc bên tài sản lớn hơn thời hạn các khoản mục bên nguồn vốn.
Giao dịch Floors - Hợp đồng mua quyền bán lãi suất:
2
1
Trả lãi suất cho các khoản tín dụng ngắn hạn với lãi suất ngân hàng cơ bản
Tổ chức Bảo hiểm hay định chế tài chính trung gianđóng vai trò môi giớivà hưởng phí
Giảng viên Nguyễn Thị Diễm Hiền
13
QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Vùng không thể chấp
nhận đối với NH1
Vùng không thể chấp
nhận đối với NH2
Lãi suất
Vùng có thể chấp
nhận đối với cả hai
Mục đích sử dụng hợp đồng hoán đổi:
● Để phòng ngừa rủi ro lãi suất cho từng hợp đồng cho vay hoặc huy động tiền gửi có
lãi suất cố định
● Khi phòng ngừa rủi ro cho các hợp đồng cho vay dài hạn với lãi suất cố định, ngân
hàng sẽ thực hiện việc mua hợp đồng swaps và ngược lại,
3.2. Quản trị TSC – TSN để hạn chế rủi ro lãi suất
3.2.1. Quản lý TSC - TSN
Ngân hàng là một tổ chức rất phức tạp, bao gồm nhiều phòng ban cung cấp các
cho TSN.
● Những thay đổi về giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất mà ngân hàng nắm giữ khi mở
rộng hay thu hẹp quy mô hoạt động của mình.
● Những thay đổi về giá trị TSN phải trả lãi mà ngân hàng sử dụng để tài trợ cho
danh mục tài sản sinh lời khi mở rộng hoặc thu hẹp hoạt động.
● Những thay đổi về cấu trúc của TSC và TSN mà ngân hàng thực hiện khi tiến hành
chuyển đổi TSC, TSN giữa lãi suất cố định và lãi suất thay đổi, giữa kỳ hạn ngắn và kỳ hạn dài,
giữa tài sản mang lại mức thu nhập thấp với tài sản mang lại mức thu nhập cao.
Thông qua việc duy trì tỷ lệ thu nhập lãi cận biên chúng ta thấy rằng, việc phối hợp giữa
quản trị TSN và TSC phải luôn luôn được thực hiện song song, hỗ trợ lẫn nhau mới có
thể bảo vệ thu nhập dự kiến của Ngân hàng khỏi rủi ro lãi suất. Để có thể thấy rõ hơn quan hệ
giữa quản trị TSN và quản trị TSC, chúng ta xem xét cách phòng chống rủi ro lãi suất thông
qua việc xác định - kiểm soát khe hở nhạy cảm lãi suất và việc quản lý khe hở kỳ hạn của các
ngân hàng.
3.2.2. Quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất
Giảng viên Nguyễn Thị Diễm Hiền
15
QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Chiến lược phổ biến nhất trong việc ngăn ngừa và kiềm chế rủi ro lãi suất mà các ngân
hàng đang sử dụng ngày nay được gọi là chiến lược quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất . Kỹ thuật
quản lý khe hở đòi hỏi người quản trị phải tiến hành phân tích kỳ hạn, định giá các cơ hội gắn
với những tài sản sinh lợi của ngân hàng, những khoản tiền gửi cũng như những khoản vốn vay
trên thị trường. Nếu nhà quản lý nhận thấy răng mức rủi ro của ngân hàng là quá lớn thì họ sẽ có
một số điều chỉnh sao cho giá trị các tài sản nhạy cảm lãi suất trở nên phù hợp tới mức tối đa với
giá trị vốn tiền gửi và vốn vay nhạy cảm lãi suất.
Ví dụ về tài sản và nợ có thể và không thể tái định giá:
Tài sản có thể tái
Các khoản cho vay
Tiết kiệm ngắn hạn
ngắn hạn (sắp mãn
Cho vay dài hạn
Tiền gửi tiết khiệm
với lãi suất cố định
dài hạn và tiền gửi
hạn)
hưu trí
Các khoản cho vay
Tiền gửi trên thị
chứng khoán dài
và chứng khoán
trường tiền tệ (lãi
hạn lãi suất cố định
khoản cho vay sắp đáo hạn sẽ cung cấp cho ngân hàng vốn phục vụ tái đầu tư vào những khoản
cho vay mới với lãi suất hiện tại. Vì vậy chúng đại diện cho những tài sản có thể đính giá lại,
những nguồn vốn có thể đánh giá lại bao gồm chứng chỉ tiền gửi sắp mãn hạn hoặc sắp được tái
gia hạn, khi đó ngân hàng và khách hàng phải thoả thuận mức lãi suất tiền gửi mới phù hợp với
những điều kiện thị trường; những khoản tiền gửi lãi suất thả nổi có thu nhập thay đổi tự động
cùng với lãi suất thị trường và những khoản vay mượng trên thị trường tiền tệ có lãi suất được
điều chỉnh hàng ngày để phản ánh những biến động mới nhất của thị trường.
Điều gì sẽ xảy ra khi giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất không cân bằng với giá trị nợ nhạy
cảm lại suất? Rõ ràng là một khoản chênh lệch tài sản - nợ nhạy cảm lãi suất hay một khe hở
nhạy cảm lãi suất đã được hình thành:
Khe hở nhạy
cảm lãi suất
=
Giá trị tài sản
nhạy cảm lãi suất
-
Giá trị nợ nhạy
cảm lãi suất
-
Nếu giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất trong mỗi giai đoạn kế hoạch giá trị nguồn vốn
nhạy cảm lãi suất, ngân hàng được xem là có khe hở nhạy cảm lãi suất dương hay nhạy cảm tài
sản:
Khe hở dương
(Positive gap)
Tài sản nhạy cảm
lãi suất
Nợ nhạy cảm lãi
suất
-
$150 tr
=
=
ISL
=
0.75
$ 200 tr
Trong ví dụ này ISR <1 có nghĩa NH đang nhạy cảm nợ, ISR >1 có nghĩa NH đang nhạy
cảm tài sản.
NH nhạy cảm nợ có
Khe hở tuyệt đối âm
Khe hở tương đối âm
ISR
QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Ví dụ số liệu trong chương trình máy tính mới nhất của ngân hàng như sau:
Nợ nhạy cảm LS
40
120
85
280
455
…
Thông qua bảng số liệu ta thấy thời kỳ tính khe hở nhạy cảm lãi suất có 1 vai trò rất quan
trọng trong việc đánh giá trạng thái nhạy cảm lãi suất thực tế của một NH. Ví dụ: Trong 24h tới,
NH nói trên có khe hở dương, lợi nhuận của ngân hàng tăng nếu lãi suất tăng lên trong ngày hôm
nay và ngày mai. Tuy nhiên, dự báo về sự tăng lên về lãi suất trên thị trường tiền tệ trong tuần tới
có thể là một tin xấu vì ngân hàng có khe hở âm trong giai đoạn này, kết quả là chi phí từ lãi tăng
nhiều hơn thu từ lãi. Nếu lãi suất dự báo tăng, nhà quản lý cần xem xét việc sử dụng một số biện
pháp để bảo vệ lợi nhuận của NH.. Những biện pháp có thể bao gồm bán ngay các chứng chỉ tiền
gửi dài hạn hoặc hoặc dung kỳ hạn để kiếm lợi. Xem xét phần còn lại của bảng ta thấy NH sẽ
Giảng viên Nguyễn Thị Diễm Hiền
21
QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
tiến triển tốt hơn trong một vài tháng tới nếu lãi suất tăng vì cuối cùng khe hở nhạy cảm lãi suất
trở lại dương.
3.2.3. Quản lý khe hở kỳ hạn
Tổng nở
Tổng tài sản
Để phòng chống rủi ro lãi suất, các ngân hàng thường cố gắng duy trì cân đối giữa tài
sản và nguồn vốn vay sao cho khe hở kỳ hạn tiến gần tới 0, lúc đó kỳ hạn hoàn vốn trung bình
của tài sản sẽ gần bằng kỳ hạn hoàn trả trung bình của nguồn vốn.
Bên cạnh đó, trong một ngân hàng giá trị TSC phải luôn lớn hơn giá trị TSN để đảm
bảo khả năng thanh toán. Do đó, nếu ngân hàng muốn có khe hở kỳ hạn bằng 0 thì phải đảm bảo:
Kỳ hạn hoàn vốn
trung bình theo
giá trị tài sản
=
Giảng viên Nguyễn Thị Diễm Hiền
Kỳ hạn hoàn trả
trung bình theo
giá trị của TSN
22
×
Tổng giá trị TSN
Tổng giá trị TSC
QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Theo công thức, nếu kỳ hạn hoàn vốn trung bình của TSC không tương đương
với kỳ hạn hoàn trả trung bình của TSN thì ngân hàng sẽ phải chịu rủi ro lãi suất, cụ thể:
23
QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Trong đó: NW : Sự thay đổi giá trị ròng của TS
DA : Kỳ hạn hoàn vốn trung bình theo giá trị của danh mục tài sản
A
: Tổng giá trị Tài sản
DL : Kỳ hạn hoàn trả trung bình theo giá của danh mục nợ
L
: Tổng giá trị nợ
∆r
: Sự thay đổ lãi suất
i
: Lãi suất ban đầu.
Mặc dù các ngân hàng có thể sử dụng công cụ khe hở kỳ hạn dễ dàng nhưng nó vẫn tồn tại nhiều
bất cập: Rất khó khăn trong việc tìm kiếm TSC, TSN có kỳ hạn hoàn vốn và kỳ hạn hoàn trả phù
hợp với yêu cầu của NH; Đối với một số tài khoảng thì không thể xác định chính xác nguồn tiền
vào ra làm cho việc tính kỳ hạn hoàn trả, kỳ hạn hoàn vốn rất khó khăn. Tuy nhiên, nó vẫn được
sử dụng để giúp NH hạn chế RRLS.
4. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RRLS Ở CÁC NHTM VIỆT NAM
khoản mục sinh lợi tốt, khả năng hoàn vốn cao và có sự phát triển trong tương lai.Bước sang
năm 2009, do gánh chịu những hậu quả nặng nề từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, kinh tế
thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng có xu hướng thụt lùi so với năm 2008. Tuy nhiên, các
NHTM nước ta đã đi qua cuộc khủng hoảng khá êm đẹp. Điều này có phần góp sức rất quan
trọng của gói kích cầu hỗ trợ lãi suất 17 ngàn tỉ đồng của Chính phủ, phần còn lại là những nỗ
lực tự thân của các ngân hàng và sự điều hành tỉnh táo và thận trọng của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam.
Song song với những biến động do những yếu tố khách quan trên.Bản thân các NHTM
của Việt Nam còn tồn tại khá nhiều bất cập. Một trong những yếu kém đáng chú ý nhất của hệ
thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam là sự tăng trưởng một cách không cân đối trong nhiều
năm. Sự mất cân đối này cần được nhìn nhận cả trên phương diện vĩ mô và vi mô. Sự tăng
trưởng nhanh về quy mô và vốn trong khi các thiết chế quản lý chưa theo kịp là các vấn đề nội
tại của khu vực này. Sự mất cân đối này thể hiện ở nhiều yếu tố. Yếu tố đầu tiên phải kể đến là
tăng trưởng tín dụng nóng. Kinh tế Việt Nam vẫn được coi là nền kinh tế tăng trưởng dựa nhiều
vào vốn; chỉ số ICOR tăng cao trong nhiều năm qua cho thấy rõ đặc điểm này. Tính chất này
cũng được phản ánh vào sự tăng trưởng tín dụng cao ở khu vực ngân hàng trong nhiều năm qua.
Tăng trưởng tín dụng bình quân mấy năm qua của Việt Nam đạt gần 30%/năm, trong khi các
nghiên cứu chỉ ra rằng, tăng trưởng tín dụng gấp khoảng 3 lần tăng tưởng kinh tế (GDP) hàng
năm là phù hợp. Cuối quý III năm 2009, tốc độ tăng trưởng tín dụng khoảng 28%, và như vậy cả
Giảng viên Nguyễn Thị Diễm Hiền
25