Đề tài chế định miễn chấp hành hình phạt trọng luật hình sự việt nam - Pdf 34

Đề tài: Chế định Miễn chấp hành hình phạt trọng Luật Hình sự Việt Nam

CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH MIỄN CHẤP HÀNH
HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái quát chung về hình phạt và những vấn đề liên quan đến hình phạt
1.1.1. Khái niệm hình phạt
Nhiệm vụ quan trọng nhất của luật hình sự là đấu tranh phòng ngừa và chống tội
phạm mà công cụ chủ yếu nhất để thực hiện nhiệm vụ này là hình phạt. Vì vậy, hình phạt
là một trong những chế định quan trọng nhất của luật hình sự. Hình phạt là một trong
những phạm trù pháp lý, xã hội rất phức tạp, mang tính chất khách quan, gắn liền với sự
xuất hiện của nhà nước và pháp luật. Chế định này được ghi nhận từ rất sớm trong pháp
luật hình sự của các quốc gia trên thế giới như Anh, Pháp, Đức…
Việt Nam cũng vậy, hình phạt cũng gắn liền với sự hình thành nhà nước và pháp
luật nước ta. Tuy nhiên, trong pháp luật hình sự thực định của Việt Nam từ Cách mạng
tháng tám năm 1945 đến trước khi Bộ luật Hình sự 1999 ra đời, khái niệm hình phạt vẫn
chưa bao giờ được ghi nhận về mặt pháp lý. Cho đến khi pháp điển hóa lần thứ hai, Bộ
luật hình sự năm 1999 ra đời thì định nghĩa pháp lý về hình phạt mới được ghi nhận lần
đầu trong pháp luật hình sự với nội dung như sau:
“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ
hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội”.1
Trong khoa hoc luật hình sự Việt Nam cũng có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những
khái niêm khác nhau về hình phạt, trong đó có những quan điểm như sau:
Theo GS.TSKH Lê Cảm thì “hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất
của Nhà nước được quyết định trong bản án kết tội có hiệu lục pháp luật của Tòa án để
tước bỏ hay hạn chế quyền, tự do của người bị kết án theo các quy định của Pháp luật
hình sự”.2
Còn theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa và TS Lê Thị Sơn “Hình phạt là biện pháp
cưỡng chế nhà nước được luật hình sự quy định và do tòa án áp dụng có nội dung tước
bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội nhằm trừng trị, giáo dục họ, cũng
như nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội
phạm”.3

phạm tội. Nếu các hình thức cưỡng chế khác như biện pháp xử lý hành chính, biện pháp
bồi thường dân sự… người bị áp dụng có thể bị tước bỏ một số quyền về tài sản, quyền
chính trị hay bị quản chế về tự do nhưng có thể thấy, mức độ nghiêm khắc vẫn thấp hơn
hình phạt bởi người chịu hình phạt còn có thể phải chịu án tích trong một thời gian nhất
định theo luật định. Đối với người bị xử phạt vi phạm hành chính thì sau một năm họ
được xóa án tích thì thời hạn xóa án tích của người phạm tội có thể lên đến bảy năm
(Điều 64 BLHS). Ngoài ra người phạm tội còn có thể bị phạt tù, trục xuất, bị tước đi
quyền sống “tử hình” (BLHS, điều 28, khoản 1, điểm g)… và đương nhiên mức độ
nghiêm khắc của nó cao hơn nhiều so với biên pháp quản chế đối với người bị xử phạt vi
phạm hành chính, dân sự….
Có sự cưỡng chế nghiêm khắc nhất như vậy mới tạo ra sự răn đe cần thiết đối với
tình hình, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Nói như vậy không có
nghĩa bỏ quên khả năng giáo dục, cải tạo của hình phạt. Bởi khi ra quyết định Tòa án
phải xem xét mức độ của tội phạm để đưa ra hình phạt phù hợp với hành vi, hoàn cảnh
của người phạm tội nhằm đảm bảo tính răn đe và giáo dục của hình phạt.
1.1.2. Mục đích hình phạt
Mục đích của hình phạt được ghi nhận trong điều 27 BLHS năm 1999, sữa đổi bổ
sung năm 2009 với nội dung như sau: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm
tội mà còn giáo dục họ thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ theo pháp luật
và các quy tắc của cuộc sông xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt
còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội
phạm”.5
1.1.2.1. Đối với người phạm tội
Hình phạt trước hết là sự trừng phạt, sự lên án của Nhà nước và xã hội đối với người
phạm tội bởi hành vi nguy hiểm của họ đã xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước, quyền và
lợi ích của công dân. Nội dung của mục đích trừng trị này là Nhà nước tước bỏ hoặc hạn
chế một số quyền của người phạm tội. Trong trường hợp này hình phạt tước đi khả năng
phạm tội thực tế của người phạm tội. Tức là hình phạt đã tước đi ở người phạm tội khả
năng phạm tội khiến anh ta không thể thực hiện được hành vi phạm tội dù rất muốn.
4

1.1.2.2. Đối với những người khác
Hình phạt có mục đích lên án. Hình phạt lên án những hành vi phạm tội và coi đó
như một tăm gương minh họa cho các hành vi sau đó. Khi đó mọi người hiểu rằng, hình
phạt chính là hậu quả mà kẻ phạm tội phải gánh chịu khi thực hiện hành vi phạm tội. Và
nếu bất kỳ ai thực hiện hành vi phạm tội cũng sẽ gánh chịu hậu quả tương tự như thế.
Việc tuyên hình phạt đúng đắn sẽ có tác dụng giúp những thành viên khác trong xã hội
nhận thấy trước hậu quả pháp lý mà họ tất yếu phải gánh chịu nếu họ thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm. Từ đó, tác động tới tâm lý của những thành
viên “không vững vàng” làm họ từ bỏ ý định phạm tội, lựa chọn hành vi xử sự phù hợp
để tránh hành vi xử sự của họ trở thành hành vi phạm tội. Đồng thời, việc đưa ra bản án
với quyết định về hình phạt hợp lý, hợp tình, thể hiện nguyên tắc pháp chế sẽ giúp nâng
cao tinh thần tôn trọng và tuân thủ pháp luật cho người dân cũng như đẩy mạnh tinh thần,
khuyến khích người dân tham gia vào công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm.
Ngoài ra hình phạt còn có mục đích đền bù thiệt hại do tội phạm gây ra. Sự đền bù
này nhằm khắc phục những hậu quả do tội phạm gây ra đối với nạn nhân. Đây cũng là
mục đích quan trọng của hình phạt, góp phần làm giảm sự mất mát của nạn nhân hoăc
người thân của họ. Điều này góp phần làm tăng sự công bằng bình đẳng trong xã hội, làm
cho người dân tin tưỡng vào pháp luật cũng như các chính sách khác của nhà nước.
Chung quy lại hình phạt mang bốn mục đích cơ bản sau: (1) trừng trị người phạm
tội; (2) lên án, giáo dục cải tạo người phạm tội, tuyên truyền giáo dục những người khác
tuân thủ theo pháp luật; (3) phòng ngừa tội phạm trong đó có cả mục đích bảo vệ xã hội,
răn đe người phạm tội và những người khác không dám nghỉ đến việc phạm tội; (4) hình
phạt mang mục đích đền bù thiệt hại do tội phạm gây ra nhằm bù đấp một phần nào đó
GVHD: Nguyễn Văn Tròn

3

SVTH: Lê Minh Bước



phải chấp hành hình phạt mà Tòa án đã tuyên đối với họ”.8
Đối với chế định miễn chấp hành hình phạt thì TS. Cao Thị Oanh cho rằng: "Miễn
chấp hành hình phạt là hủy bỏ việc chấp hành hình phạt mà Tòa án đã tuyên trong bản
án có hiệu lực pháp luật cho người bị kết án”.9
6

Nguyễn Văn Xô, Từ điển chính tả Tiếng việt, NXB Thanh Niên, TP. Hồ Chí Minh, 2004, tr. 316.

7

Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn, Từ điển pháp luật hình sự, NXB Tư Pháp, Hà Nội, 2006, tr. 37.

8

Phạm Văn Beo, Luật hình sự Việt Nam – Quyển 1 (phần chung), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.

464.
9

Cao Thị Oanh, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, NXB Giáo Dục Việt Nam, Hà Nội, 2010, tr. 230.

GVHD: Nguyễn Văn Tròn

4

SVTH: Lê Minh Bước


Đề tài: Chế định Miễn chấp hành hình phạt trọng Luật Hình sự Việt Nam
Về bản chất pháp lý của chế định miễn chấp hành hình phạt là chế định nhân đạo

phạt đối với những người đã thi hành được một phần bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật hoặc được áp dụng đối với những người chưa thi hành bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Đặc điểm thứ ba: miễn chấp hành hình phạt không thể được áp dụng một cách tùy
tiện mà chỉ được áp dụng khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định.

GVHD: Nguyễn Văn Tròn

5

SVTH: Lê Minh Bước


Đề tài: Chế định Miễn chấp hành hình phạt trọng Luật Hình sự Việt Nam
Điều này thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật đối với tội phạm, tội phạm phải
được lên án và trừng trị tạo nên công bằng xã hội. Tuy nhiên, mục đích của hình phạt đâu
chỉ có trừng trị người phạm tội mà mục đích cao cả cuối cùng đó là cải tạo giáo dục họ
hoàn lương và tránh những tái phạm khác sau này. Bởi thế nên pháp luật đã đưa ra các
điều kiện này xem như một chuẩn mực chung để khuyến khích người phạm tội cố gắng
cải tạo tốt để sớm được hưởng chính sách khoan hồng của nhà nước mà còn tránh được
việc áp dụng tùy tiện chính sách nhân đạo của pháp luật.
Ngoài ra chế định này còn có đặc điểm riêng của nó là: Miễn chấp hành hình phạt
được áp dụng đối với những người đã bị Tòa án xử phạt bằng một trong những hình phạt
được quy định trong Bộ luật hình sự. Theo bản án của Tòa án người bị kết án phải thi
hành bản án và chịu các hình phạt trong bản án đó. Tuy nhiên trong quá trình thưc hiện
hoặc chưa kịp thực hiện bản án mà người phạm tội rơi vào các trường hợp được miễn
theo luật định thì họ mới được miễn.
1.2.3. Ý nghĩa của miễn chấp hành hình phạt
Chế định miễn chấp hành hình phạt ra đời mang lại ý nghĩa rất lớn đối với người
phạm tội và xã hội. Chế định này không những thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc đối


Đề tài: Chế định Miễn chấp hành hình phạt trọng Luật Hình sự Việt Nam
Hơn nửa hiệu quả của hình phạt còn thể hiện ở dấu hiệu tiết kiệm biện pháp cưỡng
chế. Hiệu quả của hình phạt chỉ đạt được khi mục đích hình phạt đạt được phải tương
xứng với hậu quả của hình phạt đó. Không thể áp dụng hình phạt quá nghiêm khắc với
hành vi ít nghiêm trọng và ngược lại. Mặc khác trong trường hợp người phạm tội không
còn nguy hiểm cho xã hội nữa thì việc áp dụng hay không áp dụng hình phạt cũng không
còn nhiều ý nghĩa bỡi khi đó hiệu quả của hình phạt là không có. Như vậy việc áp dụng
miễn chấp hành hình phạt trong trường hợp này là vô cùng cần thiết.
Qua đó cho thấy được chế định miễn chấp hành hình phạt là chế định quan trọng
trong pháp luật hình sự, xuất phát không phải từ bản chất, hiệu quả của việc áp dụng biện
pháp cưỡng chế của Luật hình sự mà còn bởi chính sách nhân đạo của mổi quốc gia.
1.2.4. Cơ sở lý luận để tồn tại chế định miễn chấp hành hình phạt
Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường như hiện nay, tình hình tội
phạm xã hội ngày càng tăng nhanh về số lượng cũng như chất lượng. Trước vấn đề nan
giải này cần thiết phải có một ngành Luật hình sự chặt chẽ, chế định hình sự chi tiết và
hợp lý với thực tiễn để điều chỉnh đối tượng pham tội. Đây chính là cơ sở thực tiển đầu
tiên đặt ra đối với ngành Luật hình sự nói chung và chế định miễn chấp hành hình phạt
nói riêng hình thành và phát triển.
Bất kỳ một ngành luật nào kể cả BLHS đều phải thay đổi theo sự phát triển của xã
hội, theo yêu cầu của thực tiễn đễ hoàn thiện và trở thành điều kiện cho xã hội phát triển
ổn định trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước. Bằng việc áp dụng chế định miễn chấp
hành hình phạt một các đúng đắn Nhà nước ta đã trã tự do cho những đối tượng xứng
đánh sớm được trở về xã hội, phấn đấu trở thành người lương thiện, đồng thời làm giảm
bớt gánh nặng ngân sách Nhà nước một cách hợp lý.
Về mặt lý luận, ngành Luật hình sự nước ta được xây dựng dựa trên nhiều nguyên
tắc cơ bản nhưng đối với chế định miễn chấp hành hình phạt chủ yếu dựa trên các nguyên
tắc nhân đạo, nguyên tắc công bằng xã hội và nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự
trong pháp luật hình sự Việt Nam.
Nguyên tắc nhân đạo trong Luật hình sự Việt Nam, việc áp dụng hình phạt không

phạm tội rất đa dạng, phong phú và đòi hỏi phải có những hình thức xử lý khác nhau
nhằm đạt mục đích bảo vệ quan hệ xã hội, giáo dục người phạm tội. Thực trạng đòi hỏi
người làm luật phải dự liệu được một cách cơ bản về sự khác biệt giữa các trường hợp
phạm tội có thể xảy ra trong thực tiễn và quy định chúng một cách cụ thể, hợp lý. Mức độ
phân hóa trong đường lối xử lý ma nhà làm luật quy định đòi hỏi phải tương ứng với sự
đa dạng, phức tạp của hành vi phạm tội được thể hiện trong thực tiễn, sao cho các quy
phạm pháp luật có thể là cơ sở pháp lý để xác định đúng đắn và phù hợp cho môi trường
hợp riêng biệt. Chế định miễn chấp hành hình phạt cũng được xây dựng dựa trên khuôn
khổ nguyên tác này.
Có thể thấy chế định miễn chấp hành hình phạt ra đời trên cơ sở những yêu cầu bức
thiết của thực tiễn. Như một điều tất yếu, chế định miễn chấp hành hình phạt tồn tại nhằm
đảm bảo tính hợp lý, hợp tình trong quy định pháp luật hình sự, đồng thời góp phần nâng
cao hiệu quả cũng như mục đích của hình phạt đối với người phạm tội và xã hội.
1.3. Lịch sử hình thành và phát triển của chế định miễn chấp hành hình phạt
3.1.1. Giai đoạn từ sau cách mạnh tháng Tám năm 1945 đến trước khi có Bộ luật
hình sự năm 1985
Trong giai đoạn cách mạng dân chủ nhân dân, từ tháng 8 năm 1945 đến năm 1945,
hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, Chính quyền non trẻ với nhiệm vụ trước mắt là “bảo vệ nền
độc lập, bảo vệ nền kinh tế, tài chính mới” nên nhiệm vụ chủ yếu của Luật hình sự mới
chỉ chú trọng đến những tội danh liên quan tới chình trị an ninh quốc gia. Ngày 20 tháng
10 năm 1945, Nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh đại xá, theo đó đại xá cho tuyệt đại đa
số án được tuyên trong thời kỳ Pháp thuộc. Theo đó các hình thức miễn chấp hành, giảm
thời hạn chấp hành hình phạt thời kì này chỉ thề hiện ở hình thức án treo, ân giảm và ân
xá. “Nếu có những lý do chính đáng khoan hồng vì ít tuổi, vì biết hối quá, vì lầm lẫn,
GVHD: Nguyễn Văn Tròn

8

SVTH: Lê Minh Bước


cóBộ luật hình sự năm 1999
Bộ luật hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời đánh
dấu một bước phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam nói chung cũng như các quy
định về chế định miễn chấp hành hình phạt nói riêng. Điểm nổi bật của Bộ luật hình sự
năm 1985 thể hiện được chính sách nhân đạo trong Bộ luật hình sự chính là các quy định
về miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt (Điều 48), giảm thời hạn chấp hành hình
11
12

Sắc lệnh số 33C/SL, ngày 13 tháng 09 năm 1945, Điều IV.
Sắc lệnh số218/SL, ngày 01 tháng 10 năm 1953, Điều 1.

13

Sắc lệnh trừng trị các tội phản cách mạng năm 1967, Điều 20.

14

Pháp lệnh trừng trị các tội xăm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa năm 1970, Điều 23.

GVHD: Nguyễn Văn Tròn

9

SVTH: Lê Minh Bước


Đề tài: Chế định Miễn chấp hành hình phạt trọng Luật Hình sự Việt Nam
phạt chính (Điều 49), giảm thời hạn và miễn việc chấp hành hình phạt trong trường hợp
đặc biệt (Điều 51).

vai trò trong tình hình mới. BLHS năm 1999 ra đời là một điều tất yếu, đánh dấu một
bước phát triển mới trong lịch sử lập pháp hình sự cũng như trong lịch sử hình thành
và phát triển chế định miễn chấp hành hình phạt. Lần đầu tiên chế định này được quy
15

Bộ luật hình sự năm 1985, Điều 46, Khoản 1.

GVHD: Nguyễn Văn Tròn

10

SVTH: Lê Minh Bước


Đề tài: Chế định Miễn chấp hành hình phạt trọng Luật Hình sự Việt Nam
định độc lập tại một điều luật riêng biệt, cụ thể nó được quy định tại Điều 57, Chương
VIII, Phần chung BLHS. Nội dung của chế định này được quy định như sau:
“1. Đối với người bị kết án cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, chưa chấp
hành hình phạt mà lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và nếu người đó không
còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát, Tòa án
có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.
2. Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt khi được đặc xá hoặc đại xá.
3. Đối với người bị kết án về tội ít nghiêm trọng đã được hoãn chấp hành hình
phạt theo quy định tại Điều 61 của Bộ luật này, nếu trong thời gian được hoãn đã lập
công, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát, Toà án có thể quyết định miễn
chấp hành hình phạt.
4. Đối với người bị kết án phạt tù về tội ít nghiêm trọng đã được tạm đình chỉ
chấp hành hình phạt theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này, nếu trong thời gian
được tạm đình chỉ mà đã lập công, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát,
Toà án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.


CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
VỀ CHẾ ĐỊNH MIỄN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT
2.1. Các trường hợp được miễn chấp hành hình phạt
2.1.1. Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt do hết thời hiệu thi hành bản
án của Tòa án

GVHD: Nguyễn Văn Tròn

12

SVTH: Lê Minh Bước


Đề tài: Chế định Miễn chấp hành hình phạt trọng Luật Hình sự Việt Nam
Về nguyên tắc mọi hình phạt đã tuyên bằng bản án có hiệu lực pháp luật phải được
thi hành một cách nghiêm chỉnh và đúng thời điểm. “Tuy nhiên, trong thực tế, cũng có
một số trường hợp do thiếu sót của các cơ quan thu hành án, có một số bản án bị bỏ
quên hoặc bị thất lạc, không được thi hành. Nếu trong một thời gian dài, người bị kết án
đã làm ăn lương thiện, không phạm tội mới, không trốn tránh pháp luật, thì không cần
thiết phải bắt họ thi hành bản án nữa. Vì vậy, pháp luật quy định thời hiệu thi hành bản
án hình sự là thời hạn bản án có hiệu lực thi hành, hết thời hạn đó, nếu chưa thi hành thì
không được thi hành nữa”.16 Để đảm bảo mục đích hình phạt phải được áp dụng tương
xứng với tính nguy hiểm cho xã hội mà còn phải áp dụng đúng lúc nên cơ quan thi hành
án được trao quyền có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết để thi hành hình
phạt. Nhưng nếu cơ quan này thiếu trách nhiệm dẫn đến người bị kết án phải chờ đợi
mà không được thi hành án thì không còn quyền buộc người bị kết án thi hành nữa.
Trên cơ sở đó BLHS năm 1999 quy định “Thời hiệu thi hành bản án hình sự là thời
hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó người bị kết án không phải chấp
hành bản án đã tuyên”.

SVTH: Lê Minh Bước


Đề tài: Chế định Miễn chấp hành hình phạt trọng Luật Hình sự Việt Nam
Theo khoản 2 Điều 55 BLHS hiện hành quy định, người bị kết án không bị buộc
phải chấp hành bản án đã tuyên đối với mình qua các thời gian sau đây:
- Năm năm đối với các trường hợp xử phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc xử
phạt tù từ ba năm trở xuống.
- Mười năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên ba năm đến mười lăm
năm.
- Mười lăm năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên mười lăm năm đến
ba mươi năm
Đối với bản án có mức hình phạt là tù chung thân hoặc tử hình nếu quá thời hạn
mười lăm năm mà không thi hành án thì do Chánh án TAND tối cao quyết định theo đề
nghị của Viện trưởng VKSND tối cao quyết định thời hiệu. Trong trường hợp không cho
áp dụng thời hiệu thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân, tù chung thân
được chuyển thành tù ba mươi năm. 17 Tuy nhiên, luật không quy định rõ cơ sở để xem
xét và quyết định rằng có áp dụng thời hiệu hay không, thời hạn xem xét là bao lâu mà
do Chánh án TAND tối cao toàn quyền quyết định theo đề nghị của Viện trưởng
VKSND tối cao.
Như vậy BLHS hiện hành chỉ quy định thời hạn đối với một số loại hình phạt như
phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình. Không
quy định thời hiệu thi hành đối với các hình phạt còn lại cũng như các biện pháp tư pháp
đối với người phạm tội. Đối với các hình phạt còn lại và các biện pháp tư pháp thì được
thi hành theo quy định trong Luật thi hành án hình sự năm 2010. Đối với các quyết định
dân sự thì thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án dân sự
năm 2008.
Tuy nhiên, thời hiệu thi hành bản án hình sự sẽ được tính lại nếu rơi vào các trường
hợp quy định tại khoản 3 điều 55 BLHS hiện hành.
Thứ nhất, Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này người bị kết án lại

chấp hành hình phạt.
Trong trường hợp này đối tượng được miễn không rộng rãi, chỉ những người bị
kết án cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn chưa chấp hành hình phạt mới được xét
miễn còn đối với các đối tượng là người bị áp dụng các hình phạt khác ngoài hai hình
phạt này hoặc trong trường hợp người phạm tội đang chấp hành hình phạt thì không
được xét miễn. Do đây là trường hơp người phạm tội được xem xét miễn toàn bộ hình
phạt nên việc quy định “chưa chấp hành hình phạt” là hoàn toàn hợp lý nếu không việc
miễn chấp hành toàn bộ hình phạt sẽ không tồn tại và không có ý nghĩa nữa. Mặc khác,
do đây là trường hợp miễn chấp hành toàn bộ hình phạt nên mức độ tha miễn rất lớn nên
đòi hỏi người bị kết án không chỉ đáp ứng các điều kiện trên mà còn phải thỏa mãn các
điều kiện khác để được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.
Thứ hai, trong thời gian chờ thi hành án, người phạm tội phải lập công lớp hoặc
mắc bệnh hiểm nghèo và không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
Việc người phạm tội lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và không c nc nguy
hiểm nữa được quy định như sau:18
“Lập công lớn” là trường hợp người bị kết án đã có hành động giúp cơ quan nhà
nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm; cứu được người khác trong
tình thế hiểm nghèo hoặc đã cứu được tài sản của nhà nước, của tập thể, của công dân
trong thiên tai, hoả hoạn; có những phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị hoặc
thành tích xuất sắc đột xuất khác được các cơ quan có thẩm quyền xác nhận.
“Mắc bệnh hiểm nghèo” là trường hợp theo kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở
lên thì người bị kết án đang bị những căn bệnh nguy hiểm đến tính mạnh, khó có
phương thức chữa trị.
Người phạm tội phải “lập công lớn” hoặc “mắc bệnh hiểm nghèo” là điều kiện
cần để qua đó Viện kiểm sát đánh giá xem người đó có còn nguy hiểm cho xã hội nữa
không để có đủ căn cứ xét cho họ miễn chấp hành toàn bộ hình phạt. Người bị kết án
không còn nguy hiểm cho xã hội, được chứng minh bằng việc họ đã hoàn luơng, chăm
18

Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 Hướng dẩn áp dụng một số quy định của BLHS về

là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định tha tù trước thời
hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân sự kiện trọng đại, ngày
lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt.19
Như vậy, theo khái niệm trên ta thấy đối tượng được xem xét miễn chấp hành hình
phạt do đặc xá là người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống
thành tù có thời hạn. Ngoài ra, trong trường hợp đặc biệt, Luật còn quy định đặc xá đối
với người bị kết án phạt tù nhưng đang được tạm hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình
phạt. Và trên thực tế công tác đặc xá cũng thể hiện rằng người bị kết án phạt tù đang
được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt cũng được đặc xá. Theo Điều 5 Luật
đặc xá năm 2007 thì thời điểm đặc xá là nhân sự kiện trọng đại hoặc các ngày lễ lớn của
đất nước, đối với các trường hợp đặc biệt nêu trên thì không cần phụ thuộc vào thời
điểm này. Tuy nhiên trên thực tế rất ít trường hợp này xãy ra.
Để được miễn chấp hành hình phạt thì cần phải có điều kiện nhất định. Đối với
người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm án xuống tù có thời hạn,
đang chấp hành hình phạt tù muốn được miễn chấp hành hình phạt theo đặc xá cũng
không ngoại lệ:20

19

Luật đặc xá năm 2007, Khoản 1, Điều 3.

20

Luật đặc xá năm 2007, Khoản 1, Điều 10.

GVHD: Nguyễn Văn Tròn

16

SVTH: Lê Minh Bước

- Trường hợp khác do Chủ tịch nước quyết định.
Ba là, Đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm về tham nhũng hoặc một số
tội phạm khác được Chủ tịch nước quyết định trong mỗi lần đặc xá thì phải chấp hành
xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, án phí hoặc nghĩa vụ dân sự
khác.
Cũng giống như miễn chấp hành toàn bộ hình phạt cho người bị kết án phạt cải tạo
không giam giử, phạt tù có thời hạn. Trong trường hợp này, tuy hình phạt chính có thể
được miễn hoặc giảm nhưng hình phạt bổ sung thì người phạm tội phải thực hiện chấp
hành nghiêm chỉnh. Quy định này nhằm đảm bảo khã năng thu hồi ngân sách Nhà nước

GVHD: Nguyễn Văn Tròn

17

SVTH: Lê Minh Bước


Đề tài: Chế định Miễn chấp hành hình phạt trọng Luật Hình sự Việt Nam
một số tiền khá lớn bị thất thoát do hành vi tham nhũng gây ra, đồng thời đảm bảo được
quyền lợi của các chủ thể khác bị ảnh hưởng, thiệt hại do hành vi phạm tội bị kết án.
Như vậy, đặc xá là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt cho người bị kết án.
Người phạm tội sau khi được đặc xá vẫn phải chịu các hậu quả pháp lý về án tích như
các biện pháp miễn chấp hành hình phạt khác. Ngoài những giá trị mang lại đối với
người phạm tội, quyết định đặc xá hàng năm thực sự luôn có được sự quan tâm của cộng
đồng quốc tế về tính nhân đạo và tôn trọng nhân quyền của nhà nước đối với người
phạm tội
Về đại xá, đại xá được hiểu là môt biện pháp khoan hồng của Nhà nước nhằm tha
tội hoàn toàn và triệt để cho một số loại tội phạm nhất định đối với hàng loạt người
phạm tội.21 Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền đại xá 22 dựa trên những đáng giá về tính
chất nguy hiểm của tội phạm có còn nguy hiểm cho xã hội nữa không trong từng thời đại


đại





đặc

xá,

Báo

Đại

biểu

nhân

dân,

2007,

[ngày truy cập 30-09-2015].
22

Hiến pháp 1959, Điều 50; Hiến pháp 1980, Điều 83, Khoản 12; Hiến pháp 1992, Điều 84, Khoản 10, Hiến

pháp 2013, Điều 70, Khoản 11.
23

Căn cứ theo khoản 3, 4 Điều 57 BLHS hiện hành thì để được miễn chấp hành hình
phạt thì người bị kết án về tội ít nghiêm trọng được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình
phạt theo điều 61, 62 BLHS hiện hành phải lập công. Theo đó, Viện trưởng Viện kiểm
sát đề nghị Tòa án miễn chấp hành hình phạt đối với họ.
Như vậy, cần phải đủ hai điều kiện sau người bị kết án về tội ít nghiêm trọng mới
được xét miển chấp hành hình phạt:
Thứ nhất, được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt theo điều 61, 62
BLHS hiện hành. Mặc khác để được tạm hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì
người bị kết áp phải có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng, đồng
thời sau khi bị xử phạt tù không có hành vi vi phạm pháp luật nghiệm trọng, không có
căn cứ cho rằng họ bỏ trốn và thuộc một trong các trường hợp sau đây thì được hoãn
chấp hành hình phạt tù:24
- Là người bị bệnh nặng, tức là bị bệnh đến mức không thể đi chấp hành hình
phạt tù được và nếu bắt đi chấp hành hình phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ;
do đó, cần thiết phải cho họ được hoãn chấp hành hình phạt tù để họ có điều kiện chữa
24

Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02 tháng 10 năm 2007 của Hội đồng Thẩm phán Tóa án nhân dân tối

cao về hướng dẩn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành
hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, Mục 7.

GVHD: Nguyễn Văn Tròn

19

SVTH: Lê Minh Bước


Đề tài: Chế định Miễn chấp hành hình phạt trọng Luật Hình sự Việt Nam

2.1.5. Trường hợp được miễn chấp hành hình phạt cho người bị cấm cư trú hoặc
quản chế
Người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế, nếu đã chấp hành được một phần hai thời
hạn hình phạt và cải tạo tốt, thì theo đề nghị của chính quyền địa phương nơi người đó
chấp hành hình phạt, Toà án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
(khoản 5 điều 57 BLHS hiện hành).

GVHD: Nguyễn Văn Tròn

20

SVTH: Lê Minh Bước


Đề tài: Chế định Miễn chấp hành hình phạt trọng Luật Hình sự Việt Nam
Cấm cư trú là buộc người bị kết án phạt tù không được tạm trú và thường trú ở một
số địa phương nhất định. Còn đối với quản chế, quản chế là buộc người bị kết án phạt tù
phải cư trú, làm ăn sinh sống và cải tạo ở một địa phương nhất định, có sự kiểm soát,
giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương. Trong thời gian quản chế, người bị
kết án không được tự ý ra khỏi nơi cư trú, bị tước một số quyền công dân theo Điều 39
của Bộ luật này và bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. (Điều 37, 38 BLHS
hiện hành)
Như vậy, việc miễn chấp hành hình phạt đối với hình phạt bổ sung được ghi nhận
trong BLHS hiện hành. Tuy nhiên chỉ áp dụng đối với hình phạt cấm cư trú và quản chế
còn đối với các hình phạt bổ sung khác như phạt tiền, tịch thu tài sản, trục xuất… thì
không được ghi nhận.
Theo quy định của điều 57 BLHS hiện hành, để được miễn hành hình phạt thì
người bị cấm cư trú hoặc quản chế phải chấp hành được một phần hai hình phạt và cải
tạo tốt. Thời hạn chấp hành hình phạt cấm cư trú hoặc quả chế là từ một đến năm năm
tính từ ngày người này chấp hành xong hình phạt tù.

có nhiều bản án mà khi tổng hợp hình phạt không quá ba năm thì có căn để hưởng án
treo. Mặc khác Luật không giới hạn về tội phạm để được hưởng án treo, mọi tội phạm bị
kết án phạt tù dưới ba năm đều được phép hưởng.
Thứ hai, người này phải có nhân thân tốt. Có thể hiểu người có nhân thân tốt là
người chưa có tiền án, tiền sự, luôn chấp hành tố chính sách pháp luật của nhà nước,
thực hiên đầy đủ nghĩa vụ công dân. Tuy nhiên, đối với những người có tiền án, tiền sự,
nếu xét thấy tính chất của tiền án, tiền sự cùng với tính chất của tội phạm mới thực hiện,
cũng như có căn cứ khác thấy không cần thiết bắt họ phải chấp hành hình phạt tù thì cho
họ được hưởng án treo, nhưng tinh thần chung là phải hạn chế và xem xét thật chặt
chẽ.25
Khi đánh giá nhân thân người bị kết án phải xem xét toàn diện tất cả các yếu tố
thuộc về nhân thân kể cả thái độ của họ sau khi phạm tội qua đó đối chiếu với yêu cầu
phòng ngừa chung để xem xét có cần thiết phải bắt họ chấp hành hình phạt tù hay cho
hưởng án treo.
Thứ ba, người phạm tội phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ. “Các tình tiết giảm nhẹ”
được quỵ định như vậy đòi hỏi người phạm tội phải có nhiều hơn một tình tiết giảm nhẹ
thì mới được cho hưởng án treo. Việc này được hướng dẩn cụ thể ở mục 6.1 của Nghị
quyết 01/2007/NQ-HĐTP. “Có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết
tăng nặng, trong đó có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46
của BLHS. Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết
giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên”. Tuy nhiên các tình
tiết giảm nhẹ này phải chưa được dùng làm căn cứ để quyết định hình phạt. Nếu các tình
tiết giảm nhẹ này đã được dùng làm căn cứ giảm nhẹ tội mà vẩn tiếp tục áp dụng để làm
căn cứ để hưởng án treo thì có sự chồng chéo và sử dụng nhiều lần các tình tiết giảm nhẹ
làm cho việc kết án tội phạm không phù hợp với hành vi phạm tội của họ.
Thứ tư, người này phải có nơi cư trú rõ ràng hoặc có nơi làm việc ổn định. Bởi vì
trong trường hợp được hưởng án treo thì, “Toà án giao người được hưởng án treo cho
cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó
thường trú để giám sát và giáo dục”.26 Nếu người được hưởng án treo là cán bộ, nhân
viên Nhà nước thì Toà án giao người này cho cơ quan chủ quản và UBND cấp xã theo

thấy việc chấp hành hình phạt là cần thiết thì toàn án không cho họ hưởng án treo.
Như đã khẳng định, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt có điều kiện.
Khi thỏa các căn cứ quy định tại BLHS hiện hành và được Tòa án cho hưởng án treo,
người phạm tội phải tuân thủ cá điều kiện do BLHS quy định. Khi người này vi phạm
các điều kiện này, bản án được treo ban đầu sẽ được đem ra thi hành. Người viết sẽ phân
tích các điều kiên đó sau đây:
Đầu tiên là thời gian thử thách, theo quy định của BLHS hiện hành khi được hưởng
án treo Tòa án sẽ ấn định thời gian thử thách đối với người được hương án treo. Thời
gian thử thách phải thỏa mản đồng thời hai điều kiện sau: thời gian thử thách bằng hai
lần mức hình phạt tù đã trừ đi thời hạn tạm giam (nếu có) nhưng không dưới một năm và
không quá năm năm. Trong trường hợp đặc biệt Tòa án có thể ấn định thời gian thử
thách ngắn hơn hai lần mức hình phạt tù nhưng phải ghi rõ trong bản án. Tuy nhiên,
trường hợp nào là trường hợp đặc biệt và thời hạn ngắn hơn là bao nhiêu thì không quy
định rõ, quyết định này dựa và ý chí chủ quan và đánh giá của Tòa án (mục 6.4 Nghị
quyết 01/2007/NQ-HĐTP).
Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách không được quy định trong BLHS mà
được hướng dẩn cụ thể trong Nghị quyết 01/2007/NQ-HĐTP. Theo đó, thời gian thử
thách của án treo được tính từ ngày tuyên án. Nếu người bị kết án có nhiều bản án cho
hưởng án treo thì tính từ ngày tuyên bản án đầu tiên cho hưởng án treo. Đối với người
hưởng án treo là cán bộ, công chức, quân nhân, quân nhân quốc phòng, người lao động
làm công ăn lương thì thời hạn thử thách tính tư ngày cơ quan, tổ chức giám sát, giáo
dục người đó nhận được quyết định thi hành án và trích lục bản án.28
Khoản 5 điều 60 BLHS hiện hành quy định “Đối với người được hưởng án treo
mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành
hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại
Điều 51 của Bộ luật này”. Theo quy định này người bị án treo phạm tội mới trong thời
gian thử thách, bất kể là tội cố ý hay vô ý thì không được hưởng án treo nữa. Tức là, khi
đó, người được Tòa án buộc người được miễn chấp hành hình phạt tù phải chấp hành
hình phạt đối với họ. Đồng thời hình phạt được treo này sẽ được tổng hợp với hình phạt
mới theo quy định của pháp luật. Ngược lại nếu trong thời gian thử thách người được

Khi vi phạm điều kiện đó thì bản án được treo sẽ đem ra thi hành. Thứ ba, án treo chỉ áp
dụng đối với người bị kết án phạt tù có thời hạn, bất kể với tội phạm nào không giới hạn
loại tội phạm như các trường hợp khác.
2.2. Thẩm quyền và trình tự, thủ tục miễn chấp hành hình phạt
2.2.1. Thẩm quyền đề nghị, quyết định miễn chấp hành hình phạt
Thẩm quyền quyết định miễn chấp hành hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều
269 Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003, theo đó:
- Tòa án có thẩm quyền quyết định miễn chấp hành hình phạt tù là Tòa án nhân
dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi người bị kết án cư trú hoặc làm
việc.
- Việc miễn chấp hành các hình phạt khác hoặc thuộc thẩm quyền quyết định
của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực nơi người bị kết án
chấp hành hình phạt.
Bên cạnh đó, thẩm quyền đề nghị, quyết định miễn chấp hành hình phạt còn được
hướng dẫn cụ thể tại khoản 4 Công văn số 105/TANDTC-KHXX ngày 17 tháng 07 năm
2009 của Toàn án nhân dân tối cao về việc thi hành khoản 2 Điều Nghị quyết số
33/2009/QH12. Điều này được quy định như sau:
a) Đối với người đang chấp hành hình phạt tù, hình phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật
của Quân đội, thì Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Toà án quân sự cấp quân
khu nơi người bị kết án đang chấp hành hình phạt ra quyết định miễn chấp hành phần
hình phạt còn lại theo đề nghị của cơ quan thi hành án phạt tù hoặc cơ quan thi hành hình
phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của Quân đội;
b) Đối với người đang chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, thì Chánh án
Toà án nhân dân cấp huyện nơi người đó chấp hành hình phạt ra quyết định miễn chấp
GVHD: Nguyễn Văn Tròn

24

SVTH: Lê Minh Bước


phạt. Quy định như vậy làm cho việc áp dụng thi hành được nhanh chóng và chính xác,
bởi có sự phân chia cụ thể về phần việc cho từng cơ quan một. Dựa vào đó các cơ quan
thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
2.2.2. Trình tự, thủ tục đề nghị miễn chấp hành hình phạt
 Trình tự, thủ tục miễn chấp hành hình phạt tù
Căn cứ theo Điều 34 Luật thi hành án hình sự năm 2010 thì:
Viện kiểm sát có thẩm quyền nơi người chấp hành án phạt tù đang cư trú hoặc làm
việc lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu xét miễn
chấp hành án phạt tù. Hồ sơ gồm có:
a) Bản sao bản án có hiệu lực pháp luật;
b) Văn bản đề nghị của Viện kiểm sát có thẩm quyền;
c) Đơn xin miễn chấp hành án phạt tù của người bị kết án;
d) Bản tường trình của người bị kết án về việc lập công hoặc lập công lớn có xác
nhận của cơ quan có thẩm quyền đối với người bị kết án đã lập công, lập công lớn hoặc
kết luận của bệnh viện cấp tỉnh, bệnh viện cấp quân khu trở lên về tình trạng bệnh tật của
GVHD: Nguyễn Văn Tròn

25

SVTH: Lê Minh Bước


Trích đoạn Người viết đã nêu ở phần 2.3, Chương 2.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status