ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------
NGUYỄN THỊ NGỌC THÙY
TRI THỨC KHOA HỌC TRONG QUÁ
TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNDVBC &CNDVLS
Mã số: 62.22.80.05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2015
Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đai hoc Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học:PGS.TS.Vũ Văn Gầu
Phản biện độc lập 1:
Phản biện độc lập 2:
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biên 3:
cụ, phương tiện lao động; còn người lao động, một khi được dẫn dắt bởi tri thức khoa
học thì sẽ tạo nên năng lực trí tuệ, là một sức mạnh to lớn để làm biến đổi thế giới. Cho
nên, có thể nói, sự phát triển của nền sản xuất, của các thời đại kinh tế, của xã hội loài
người…phụ thuộc vào sự phát triển của tri thức khoa học.
Từ thập niên 1990 đến nay, sau khi xóa bỏ cơ chế bao cấp, Đảng Cộng sản Việt
Nam chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về cơ bản,
đó là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hướng tới mục tiêu chiến lược “Dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện
đại” 1. Bản chất của kinh tế thị trường là hoạt động xã hội hóa lao động ngày càng được
đẩy mạnh, cả chiều rộng và chiều sâu, dưới sự tác động của các cuộc cách mạng khoa
học kỹ thuật. Nền kinh tế thị trường hiện đại phát triển đầy biến động với tốc độ khá
nhanh, luôn tạo ra những lực lượng sản xuất mới để không ngừng phát triển, tiến lên giai
đoạn cao hơn - giai đoạn kinh tế tri thức. Như vậy, tiến lên kinh tế tri thức là xu thế phát
triển tất yếu, khách quan của kinh tế thị trường, do đó để phát triển nhanh và bền vững,
Việt Nam cần nhanh chóng đầu tư cho tri thức khoa học để tạo động lực cho phát triển
nhằm tất yếu hình thành và phát triển kinh tế tri thức.
Trên thực tế, bản đồ kinh tế - chính trị của thế giới đã có sự thay đổi khá phức tạp, thể
hiện ở sự thăng trầm và chuyển đổi thứ bậc xếp hạng của nhiều cường quốc, nhiều khu
vực trên thế giới, và một trong những nguyên nhân sâu xa của tất cả sự thay đổi đó chắc
chắn rằng đều nằm ở vị trí ưu tiên đối với khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong chiến
lược phát triển của các quốc gia. Bước vào những năm đầu thế kỷ XXI, để giành được vị
trí dẫn đầu trong mọi lĩnh vực, các nước phải chú trọng xây dựng, triển khai các chiến
lược và chính sách khoa học công nghệ quốc gia có tính vĩ mô và lâu dài. Ngày nay, việc
hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ nhằm phát triển tri thức khoa học cũng được
đề cập và phân tích như một chiến lược hội nhập rất quan trọng, là một trong những mục
tiêu hàng đầu của các quốc gia trong thời đại toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới.
Kinh tế nước ta đang còn ở trình độ lạc hậu, kém phát triển, tuy nhiên nếu biết
phát huy nguồn vốn trí tuệ, dựa vào tri thức khoa học và có những chính sách phát triển
1. Đảng Cộng sản Việt Nam(2011), Văn kiện Đại hội Đảng lần XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia– Sự thật, Hà Nội, tr.70.
thời đại mới, nhằm định hướng và triển khai hiệu quả quá trình xây dựng kinh tế tri thức,
đáp ứng nhu cầu của thời đại đặt ra. Vì vậy nghiên cứu sinh chọn đề tài “Tri thức khoa
học trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay”
làm đề tài luận án tiến sĩ triết học của mình.
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể khái quát các công trình nghiên cứu về tri thức khoa học trong quá trình
xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay theo ba hướng cơ bản sau:
Hướng thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu về tri thức khoa học và vai
trò của tri thức khoa học. Ở nước ngoài, tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là các
công trình như công trình của David – Clandes ( 1998), The wealth and Poverty of
nation, USA (Sức mạnh và năng lực quốc gia). Thomas Friedman (2005), The World is
flat (Thế giới phẳng), Farrar, Straus v Giroux, New York, USA. J. D. Bernal, (1944), The
Social Function of Science (Chức năng xã hội của khoa học), George Routledge,
London; Word Bank Report (Asia – Paciffic Economic Cooperation) (2000), Knowledge
for development (tri thức cho sự phát triển). Sách đã dịch sang tiếng Việt có khá nhiều
như công trình của tác giả Ikujiro Nonaka, Ryoko Toyama và Toru Hirata (2010), Quản
trị dựa vào tri thức (Knowledge – based Management), Nhà xuất bản Thời đại, Hà Nội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam(2011), Văn kiện Đại hội Đảng lần XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia– Sự thật, Hà Nội, tr.78.
3
Bộ ba tác phẩm: Alvin Toffler (1992) Cú sốc tương lai; Làn sóng thứ ba; Thăng trầm
quyền lực, Nhà xuất bản Thông tin lý luận, Hà Nội. Steven Benton and Melissa
Giovagnoli (2008), Khám phá nguồn lực tiềm ẩn, Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội. Chính
phủ Anh (2000), Sách Trắng về khoa học và đổi mới: Sự vượt trội và cơ hội, Anh Quốc.
Ở trong nước, có nhiều công trình liên quan đến vấn đề này như Bộ khoa học công nghệ
và môi trường, (1996), Chiến lược công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và cách mạng
công nghệ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. Trần Hồng Lưu (2011), Vai trò của
tri thức khoa học trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay,
Trần Đức Ba (2011), Kinh tế tri thức và khoa học, công nghệ cao, Nhà xuất bản Thanh
Niên. Tập thể tác giả GS.TS. Nguyễn Thanh Tuyền, PGS.TS. Đào Duy Huân, TS. Lương
Minh Cừ (2005), Hướng đến nền kinh tế tri thức ở Việt Nam, Nhà xuất bản Thống kê, Hà
Nội. Đặng Mộng Lân (2002), Kinh tế tri thức, những khái niệm và vấn đề cơ bản, Nhà
xuất bản Thanh Niên, Hà Nội. Lê Thị Ngân (2005), Nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ; Nguyễn Thị Ngọc Hương
4
(2014), Phát triển Kinh tế tri thức ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập
quốc tế hiện nay, Luận án tiến sĩ.
Trên đây là những công trình tìm hiểu về nền kinh tế tri thức: quá trình hình thành,
phát triển của kinh tế tri thức ở các nước, ở Việt Nam, thực trạng xã hội Việt Nam trên
con đường tiến đến nền kinh tế tri thức và các giải pháp chủ yếu đảm bảo xây dựng thành
công nền kinh tế tri thức ở Việt Nam, là những tài liệu tham khảo hữu ích cho luận án.
Hướng thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp phát
triển tri thức khoa học ở Việt Nam hiện nay. Liên quan đến nội dung này, có nhiều
công trình nghiên cứu như: Ban Tuyên giáo Trung ương (Trung tâm tư liệu quốc gia)
(2000), Nền kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam – Kỷ yếu Hội thảo
(2 tập), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. Bộ khoa học công nghệ và môi trường
(1996), Chiến lược công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và cách mạng công nghệ,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. Bộ khoa học và công nghệ (2002), Khoa học
và công nghệ Việt Nam 2001, Hà Nội. GS. TSKH. Vũ Đình Cự (2006), Khoa học công
nghệ, lực lượng sản xuất hàng đầu, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nguyễn
Văn Thuỵ (1994), Một số vấn đề về chính sách phát triển khoa học và công nghệ, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. TS. Vũ Trọng Lâm (2004), Kinh tế tri thức ở Việt
Nam - quan điểm và giải pháp phát triển, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà Nội. Trần
Khánh Đức (2009), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.TS. Nguyễn Thanh (2007), Vấn đề con người và giáo
trò của tri thức khoa học trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế tri thức trong điều
kiện đặc thù ở Việt Nam hiện nay; khái luận chung về kinh tế tri thức và môi trường phát
triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay.
Thứ hai: Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển tri thức khoa học ở Việt Nam
trong điều kiện hiện nay; tìm hiểu kinh nghiệm của một số quốc gia đi trước trong việc
phát triển tri thức khoa học để phát triển kinh tế tri thức, rút ra bài học kinh nghiệm cho
Việt Nam trong phát triển tri thức khoa học để xây dựng và phát triển kinh tế tri thức.
Thứ ba: Trình bày và phân tích làm rõ định hướng cơ bản, từ đó đề xuất những
giải pháp nhằm góp phần phát triển tri thức khoa học để thực hiện quá trình xây dựng và
phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu của luận án
Luận án được nghiên cứu dựa trên nguyên tắc thế giới quan và phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Tư tưởng Hồ Chí Minh,
lập trường quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam. Ngoài ra để giải quyết các mục đích
và nhiệm vụ mang tính đặc thù của luận án, tác giả còn sử dụng tổng hợp những phương
pháp nghiên cứu khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp logic – lịch sử,
thống kê xã hội học, phân tích, xử lý số liệu, v. v…
5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án
Luận án tập trung nghiên cứu về tri thức khoa học trong quá trình xây dựng và
phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay dưới góc độ của một luận án tiến sĩ triết
học. Do đó, tri thức khoa học ở đây được xem là một trong những yếu tố tiên quyết của
lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định trong quá trình tri thức hóa nền kinh tế, là một
động lực to lớn thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển kinh tế tri thức song song với
quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, trong chiến lược phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
6. Cái mới của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án đã có đóng góp mới về mặt học thuật, thể hiện trên
một số điểm sau đây: Thứ nhất, luận án đã góp phần hệ thống hóa và luận chứng vai trò
hạt nhân của tri thức khoa học đối với việc xây dựng và phát triển kinh tế tri thức trong
điều kiện hiện nay tại Việt Nam, nhìn tri thức khoa học không chỉ từ góc độ là yếu tố bên
lọc tất cả những kết quả nghiên cứu trên, luận án cho rằng: tri thức khoa học là kết quả
của quá trình nhận thức có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp, là hệ thống tri thức
đi sâu phản ánh đúng đắn bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế
giới thông qua hoạt động thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm.
Thứ hai, về cấu trúc và phân loại tri thức khoa học
Về cấu trúc, xét về mặt cấu trúc, tri thức khoa học bao gồm: tri thức kinh nghiệm,
là trình độ thấp, chủ yếu thu nhận được thông qua quan sát và thí nghiệm, phản ánh cái
đơn nhất, cái cụ thể trực tiếp, bề ngoài của sự vật; và tri thức lý luận, là trình độ cao của
tri thức khoa học, về mặt bản chất, tri thức khoa học được phản ánh thành một hệ thống
chỉnh thể các khái niệm, phạm trù, quy luật, có liên hệ nội tại với nhau. Hai trình độ tri
thức kinh nghiệm và tri thức lý luận có mối liên hệ gắn bó hữu cơ không tách rời nhau
trong hoạt động nhận thức.
Về phân loại, có nhiều cách phân loại, nhưng luận án tán thành với cách phân loại
được dùng phổ biến trong các báo cáo về kinh tế tri thức của OECD, chia tri thức khoa
học thành 4 loại cơ bản: Tri thức về sự vật, tri thức về nguyên nhân, tri thức về cách
thức, tri thức về con người.
Cách mạng tri thức hứa hẹn sẽ phá vỡ nhanh chóng những giới hạn tạm thời trong
trình độ nhận thức của con người đối với thế giới, mở đầu cho một kỷ nguyên mới của
nền văn minh nhân loại – nền văn minh dựa vào tri thức.
1.1.2. Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của kinh tế tri thức
Khái niệm kinh tế tri thức, tham khảo kết quả của nhiều tác giả, luận án thống nhất
kinh tế tri thức là: Nền kinh tế mà trong đó tri thức khoa học thẩm thấu vào tất cả các
quá trình phát triển kinh tế xã hội, và đặc biệt sự sản sinh, truyền bá và sử dụng tri thức
là động lực chủ yếu nhất của sự tăng trưởng, tạo ra của cải, tạo việc làm trong tất cả các
ngành kinh tế.
Về đặc trưng của kinh tế tri thức luận án đi đến tổng kết thành năm đặc trưng cơ
bản: Thứ nhất, đặc trưng cơ bản nhất của kinh tế tri thức là nền kinh tế dựa chủ yếu vào
tri thức; thứ hai, kinh tế tri thức có tốc độ hoạt động và biến đổi nhanh, sáng tạo trở
thành động lực trực tiếp của sự phát triển; thứ ba, mạng thông tin trở thành cơ sở hạ tầng
quan trọng nhất của xã hội và nền kinh tế; thứ tư, tổ chức sản xuất trở nên linh hoạt hơn,
phát triển kinh tế tri thức. Nền kinh tế thế giới đang chuyển đổi sang kinh tế thông tin,
cuộc cạnh tranh sắp tới không phải là chiếm hữu đất đai, tài nguyên, chiếm hữu người
lao động và công cụ sản xuất như trước, mà quan trọng hơn là sở hữu tri thức. Trình độ
phát triển của tri thức khoa học cũng như năng lực đổi mới, sáng tạo của khoa học và khả
năng biến tri thức khoa học thành kỹ thuật – công nghệ được xem như là những phương
tiện hỗ trợ hữu hiệu nhất để nền kinh tế nhanh chóng được tri thức hóa, thực hiện thành
công mục tiêu xây dựng và phát triển kinh tế tri thức trong thời đại mới.
1.2.2. Tri thức khoa học là động lực cơ bản để phát triển kinh tế tri thức
Tri thức khoa học là động lực của kinh tế tri thức bởi chính tri thức khoa học là
yếu tố thúc đẩy, làm cho kinh tế tri thức biến chuyển, phát triển lên trình độ mới. Tri thức
khoa học cùng với những tiện ích nó mang lại, đặc biệt là sau khi đã được vật chất hóa
trong nền kinh tế, những phát minh, sáng chế thành kỹ thuật, công nghệ, thì nó sẽ trở
thành nhân tố trực tiếp làm cho nền kinh tế nhanh chóng chuyển lên trình độ kinh tế tri
thức. Vai trò động lực của tri thức khoa học đối với kinh tế tri thức thể hiện trước hết ở
chỗ, nó là đòn bẩy thúc đẩy tạo nên sự biến đổi mạnh mẽ các trụ cột của kinh tế tri thức,
tri thức khoa học còn trực tiếp, hoặc gián tiếp tác động vào các thành tựu kinh tế - xã hội
và tri thức khoa học được xem là lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế tri thức. Tri
3 . Đảng Cộng sản Việt Nam(2011), Văn kiện Đại hội Đảng lần XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia– Sự thật, Hà Nội, tr.220.
8
thức khoa học thấm vào tất cả các lĩnh vực của nền sản xuất xã hội, nó còn giải phóng
con người ra khỏi quá trình sản xuất trực tiếp, nó làm thay đổi tận gốc rễ những yếu tố
của lực lượng sản xuất.
Ngày nay với trình độ phát triển cao, tri thức khoa học đi trước kỹ thuật và hướng
dẫn cho kỹ thuật phát triển làm biến đổi toàn bộ các lĩnh vực của kinh tế - xã hội.
Kết luận chương 1
Qua tìm hiểu những vấn đề lý luận chung về tri thức khoa học và kinh tế tri thức,
tác giả đi đến một số kết luận sau: Thứ nhất, luận án đã nỗ lực góp phần đưa ra một bức
sinh...Trên nhiều lĩnh vực từ nông - lâm - ngư - nghiệp cho đến cơ khí, máy móc, y
học…kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học ở nước ta đã có nhiều tiến bộ, cụ thể ngày
18/12/2012 tại Hà Nội Bộ Khoa học công nghệ và Hội đồng giải thưởng cấp nhà nước đã
trao giải thưởng Hồ Chí Minh cho 32 công trình thuộc 5 lĩnh vực khoa học, trong đó có 3
cụm công trình và 9 cụm công trình đặc biệt xuất sắc có giá trị ứng dụng cao cho sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội cho đất nước.
Năng lực và chất lượng nghiên cứu khoa học của Việt Nam bị xếp vào khu vực
9
chậm phát triển. Theo công bố mới nhất của viện SCImago, xếp hạng năng lực và chất
lượng nghiên cứu khoa học của các viện, trường đại học của Việt Nam giảm mạnh. Đáng
chú ý là đại học Quốc gia Hà Nội bị tụt gần 200 bậc ở mức thế giới, xếp hạng khu vực
cũng bị tụt đáng kể. Bảng xếp hạng năm 2012 cho thấy, có bốn đơn vị của Việt Nam lọt
vào bảng xếp hạng của SCImago. Nếu tính theo quốc gia, viện Khoa học và Công nghệ
Việt Nam đứng đầu, kế đến là Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia Hà
Nội và trường Đại học Bách khoa Hà Nội (xếp thứ 4 quốc gia, 857 khu vực và 3.160 thế
giới). Hiện tượng chảy máu chất xám diễn ra nghiêm trọng.
BẢNG XẾP HẠNG CÁC TỔ CHỨC KHCN VIỆT NAM 2011 - 2012
Nguồn: SCImago xếp hạng các tổ chức KHCN 2012
NĂM 2011
TỔ CHỨC
KHCN
KHU VỰC THẾ GIỚI
NĂM 2012
KHU
VỰC
3.155
857
3.160
ÐH QG HN
ĐH BK HN
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, năng suất nghiên cứu khoa học ở Việt Nam
có được cải thiện và tương đối nhanh so với khu vực, tốc độ tăng trưởng của năng lực
nghiên cứu khoa học hàng năm đạt khoảng 15 – 16 % (tương đương với Thái Lan và
Malaysia), trong khi các nước có nền kinh tế tiên tiến thì có xu hướng chững lại trong
thời gian gần đây như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore khoảng 9 -11%/năm, Hồng Kông
5%/năm, Nhật Bản 1%/năm, cho thấy Việt Nam cao hơn so với Philippines, ở mức
5,7%, chỉ có Trung Quốc là quốc gia có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, khoảng
20%/năm. Như vậy, so sánh về năng suất nghiên cứu khoa học thì hiện nay Việt Nam
không còn thua kém các nước, thậm chí còn vượt qua một số nước phát triển, tuy nhiên
hiệu quả ứng dụng thì chưa tương xứng với năng suất nghiên cứu khoa học khá cao đó.
Số lượng sáng chế công bố quốc tế và trong nước (thành quả của hoạt động
nghiên cứu khoa học) của Việt Nam trong những năm gần đây có tăng đáng kể nhưng
vẫn còn kém xa khu vực và thế giới. Năm 2012, số lượng sáng chế công bố quốc tế của
Việt Nam là 1761, tăng 7% so với năm 2011 (1556). Số lượng đơn đăng ký sáng chế
năm 2012 là 4257 và văn bằng bảo hộ độc quyền được cấp là là 1112 (số liệu tương ứng
năm 2011 là 3995 và 1054). Qua đó cho thấy trong những năm gần đây, hoạt động
nghiên cứu khoa học của Việt Nam có chiều hướng tăng nhanh. Số lượng bài báo và
công trình khoa học được công bố quốc tế giai đoạn 2006 – 2010 tăng gấp 2 lần so với
giai đoạn 2001 – 2005, gấp 4 lần so với giai đoạn 1996 – 2000 và gấp 6 lần so với giai
công nghệ tính đến thời điểm năm 2012 Việt Nam có hơn 62 nghìn người làm việc trong
các tổ chức nghiên cứu và phát triển, trong đó nhân lực có trình độ từ cao đẳng, đại học
trở lên khoảng 50 nghìn người (gần 5000 tiến sỹ và trên 11000 thạc sỹ), số cán bộ nghiên
11
cứu và phát triển đạt 7 người/ 1 vạn dân, so với năm 1996, con số này tăng gần gấp 3 lần,
tỉ lệ phân bổ số lượng cán bộ nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam hiện tại là: khoa học
xã hội và nhân văn chiếm 10.6 %; khoa học tự nhiên chiếm 7,3 %; khoa học nông nghiệp
chiếm 23.5 %; khoa y học – dược chiếm 10.8 %; khoa học kỹ thuật và công nghệ chiếm
tỉ lệ rất cao 45.9%. Điều đó cho thấy, nhìn trên phương diện tổng thể, nguồn nhân lực
cho khoa học và công nghệ của Việt Nam gia tăng đáng kể và có xu hướng phát triển
trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, cơ cấu nhân lực của Việt Nam còn rất nhiều bất ổn,
có tình trạng phân bố không đồng đều về nguồn nhân lực có trình độ cao giữa các vùng
miền và các lĩnh vực kinh tế, sản xuất. Điểm đáng lưu ý là dù số lượng nguồn nhân lực
Việt Nam khá dồi dào, nhưng chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam là còn tương đối
thấp. Nước ta vẫn thiếu các chuyên gia có kinh nghiệm chuyên sâu, thiếu các nhà khoa
học có kinh nghiệm làm nghiên cứu tầm cỡ quốc tế.
Nguyên nhân của thực trạng: Việc bồi dưỡng, đào tạo, chế độ trọng dụng và đãi
ngộ nhân tài còn nhiều bất cập; dù đã có nhiều nỗ lực nhưng đầu tư cho khoa học công
nghệ nhìn chung còn thấp và hiệu quả chưa cao so với các quốc gia khác trong khu vực
và trên thế giới; cơ chế quản lý hoạt động khoa học công nghệ còn chưa đáp ứng yêu
cầu; thị trường khoa học công nghệ phát triển còn chậm…
Thứ hai, về giáo dục đào tạo nguồn nhân lực cho khoa học – công nghệ có phát
triển tích cực, nhưng nhìn chung vẫn còn thiếu và yếu.
Những năm gần đây, giáo dục đào tạo đã có những chuyển biến tích cực, nhưng
vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực và nhân lực chất lượng cao cho
đất nước trong giai đoạn mới. Tính đến cuối năm 2012, cả nước có 215 trường đại học,
trong đó 187 trường công lập; 204 trường cao đẳng, trong đó 150 trường công lập; 295
ngày càng gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ. Trong giai
đoạn 2000 – 2010, tổng số nhân lực qua đào tạo ở các trình độ đã tăng gấp 3,4 lần, từ 5,9
triệu người năm 2000 lên 20,1 triệu người năm 2010, tỉ lệ lao động đã qua đào tạo năm
2010 đạt 40%. Đội ngũ nhân lực này đóng vai trò chủ yếu trong việc thực hiện thành
công chiến lược công nghiệp hóa hiện đại hóa, từng bước hướng tới kinh tế tri thức.
Việt Nam hiện nay đang rất lãng phí nghiên cứu, lãng phí nguồn lực chất xám
ở các trường đại học, nơi tập trung rất đông nguồn nhân lực chất lượng cao như đội ngũ
các giáo sư, tiến sĩ khoa học, các chuyên gia đầu ngành…(theo số liệu thống kê năm
2012 của Bộ Giáo dục – Đào tạo, Việt Nam có tất cả 9152 tiến sĩ và 36360 thạc sĩ trong
hệ thống các trường đại học và cao đẳng).
Nguyên nhân những yếu kém của nguồn nhân lực và cơ sở giáo dục, đào tạo là:
Ở Việt Nam, nhận thức và hành động không đi đối với nhau đối với việc xem trọng vai
trò của tri thức khoa học. Các nước trong khu vực và trên thế giới có được những thành
tựu ấn tượng như vậy là nhờ các nước trên đều coi giáo dục, khoa học công nghệ là bộ
phận không thể thiếu trong chiến lược phát triển kinh tế, hiện đại hóa quốc gia. Đầu tư
ngân sách một cách thỏa đáng, quốc tế hóa nhân sự khoa học, quốc tế hóa tiêu chuẩn
đánh giá khoa học, tập san khoa học đồng thời chú trọng cải thiện cơ cấu tổ chức… Việt
Nam cũng nhận thức điều đó, nhưng biến những nhận thức này thành hành động thì
chúng ta chưa thành công, do đó những thành tựu đạt được là chưa tương xứng với chủ
trương của Đảng và cũng chưa tương xứng với tiềm lực sẵn có của quốc gia bởi theo
đánh giá của một số chuyên gia có uy tín thì hoạt động nghiên cứu, thành quả và khả
năng sáng tạo của khoa học Việt Nam thực ra không thua kém các quốc gia khác. Một
trong những nguyên nhân chính, gây nên sự thiếu hụt nhân tài khoa học là do chính sách
đãi ngộ chưa thỏa đáng. Điều này, dẫn đến kết quả là học sinh, sinh viên giỏi ít chọn con
đường nghiên cứu khoa học. Số ít người giỏi đam mê khoa học đều đi du học và ít người
chọn con đường trở về nước.
2.1.3. Thực trạng cơ sở vật chất - kỹ thuật và cơ - chế chính sách của khoa
học công nghệ ở Việt Nam hiện nay
Thực trạng nguồn lực về cơ sở vật chất – kỹ thuật của khoa học công nghệ phương tiện hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu khoa học, sáng tạo nên tri thức khoa
học. Luận án đã phân tích, chỉ ra thực trạng, những thành tựu đạt được và những hạn
chức thuộc bộ, ngành; 340 tổ chức KHCN thuộc các hội và Liên hiệp Các hội khoa học,
kỹ thuật Việt Nam. Các tổ chức KHCN tham gia hơn 60 lĩnh vực với khoảng 140 ngành
nghề, gần 1.000 chuyên ngành khác nhau. Đặc biệt, thời gian qua, nước ta đã hình thành
loại hình tổ chức KHCN mới là doanh nghiệp KHCN, có triển vọng trở thành lực lượng
sản xuất đi đầu trong ứng dụng kết quả nghiên cứu KHCN ở các ngành, lĩnh vực. Mạng
lưới các tổ chức thông tin khoa học và công nghệ đã được triển khai rộng khắp với hơn
500 cơ quan thông tin khoa học từ trung ương đến địa phương. Mạng nghiên cứu và đào
tạo Việt Nam (VinaREN) đã được đầu tư, triển khai hoạt động trên quy mô quốc gia, đạt
chuẩn tiên tiến của thế giới, mạng này đã kết nối được hàng triệu cán bộ và trên 100 viện
nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức khác. Nghĩa là hoạt động nghiên cứu khoa học
tăng lên một cách đáng kể và nhanh chóng, đặc biệt là những năm gần đây tốc độ gia
tăng rất nhanh, sự chênh lệch giữa các con số phát triển trong lĩnh vực khoa học công
nghệ qua các năm là khá lớn, cho phép chúng ta lạc quan, tin tưởng vào tình hình phát
triển khoa học công nghệ của đất nước.
Nguyên nhân những yếu kém của cơ sở vật chất, kỹ thuật cho khoa học công
nghệ là: thứ nhất, dù Nhà nước đã nỗ lực gia tăng và duy trì mức đầu tư hàng năm cho
khoa học - công nghệ lên đến 2% tổng chi ngân sách, như năm 2011 là tương đương
khoảng gần 700.000.000 USD. Con số này vẫn là quá khiêm tốn nếu nhìn ra các nước
trong khu vực và thế giới. Thứ hai, mặt dù tỉ lệ đầu tư so với các nước là ít, nhưng Việt
Nam sử dụng nguồn vốn đó cũng không hiệu quả, cách phân phối nguồn tài chính cho
khoa học không hợp lý. Thứ ba, số lượng các tổ chức nghiên cứu khoa học nhiều nhưng
do tổ chức, tiêu chí, mục tiêu hoạt động….thiếu hợp lý nên hoạt động lại kém hiệu quả.
Các trang thiết bị có được đầu tư nhưng do cơ chế rào cản và hoạt động thực nghiệm
khoa học còn yếu nên khả năng và hiệu quả khai thác các trang thiết bị chưa cao.
Nhìn chung khoa học kỹ thuật và công nghệ tuy đã có những thành tựu bước đầu
nhưng vẫn chưa cao. Hệ thống các tổ chức khoa học công nghệ gia tăng nhanh chóng về
14
quản lý và điều hành các hoạt động trong lĩnh vực khoa học – công nghệ chậm đổi mới,
hoặc đổi mới không kịp với sự thay đổi của thực tiễn. Cơ chế quản lý khoa học, công
nghệ không phù hợp với điều kiện làm việc sáng tạo đặc thù của lĩnh vực hoạt động này,
cũng không phù hợp với sự năng động và cơ chế cạnh tranh trong cơ chế thị trường. Việc
quản lý cán bộ và cơ chế tài chính theo chế độ công chức làm cản trở, không tạo điều
kiện để cán bộ khoa học công nghệ phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mình.
Quan điểm xem khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu đã được khẳng định
liên tục trong các kỳ Đại hội Đảng, tuy nhiên các cơ quan, ban ngành từ nhận thức cho
đến hành động và sự quyết tâm triển khai là chưa quyết liệt và hiệu quả, nhiều chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước còn chậm thể chế hóa bằng văn bản quy phạm
pháp luật. Điều này kìm hãm sự phát triển của thực tiễn xã hội mà cụ thể là quan hệ sản
xuất chậm đổi mới, cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất, ảnh hưởng nghiêm trọng
đến hiệu quả, xu hướng, quy mô phát triển của hoạt động nghiên cứu khoa học, dẫn đến
tình trạng yếu kém, lạc hậu của khoa học và tri thức khoa học, mà thực chất chính là sự
15
yếu kém và lạc hậu của lực lượng sản xuất, khi yếu tố đóng vai trò động lực để giúp
LLSX phát triển bị kìm hãm, tất yếu Việt Nam sẽ rất khó khăn trong quá trình phát triển
để tiếp cận với nền kinh tế tri thức trong điều kiện tri thức khoa học còn nhiều yếu kém.
2.2. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC VÀ NHỮNG YÊU CẦU KHÁCH QUAN
ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TRI THỨC KHOA HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.2.1. Tính tất yếu của quá trình xây dựng, phát triển kinh tế tri thức và
những thời cơ, thách thức đối với phát triển tri thức khoa học ở Việt Nam hiện nay
(1) Môi trường phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
Việt Nam đang bước vào kinh tế tri thức ở điểm xuất phát thấp, chúng ta xây dựng
kinh tế tri thức từ nền kinh tế nông nghiệp chứ không phải từ kinh tế công nghiệp như
Xu thế phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam là tất yếu khách quan, điều này đặt ra
nhiều vấn đề đối với nền khoa học Việt Nam. Với lợi thế là nước đi sau, Việt Nam có cơ
hội học hỏi các quốc gia đi trước trên con đường tiến vào kinh tế tri thức, kết hợp cùng
với năng lực nội sinh, kinh nghiệm và những thành tựu to lớn mà chúng ta đạt được trong
các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học hiện đại, công nghệ Nano… có thể
16
khẳng định Việt Nam có đủ năng lực và điều kiện để tiến vào kinh tế tri thức.
(3) Những vấn đề đặt ra đối với quá trình phát triển tri thức khoa học trong
điều kiện kinh tế tri thức
Về những thời cơ
Thuận lợi đầu tiên mà chúng ta có là, với lợi thế là nước đi sau, Việt Nam có cơ
hội thực hiện bước phát triển rút ngắn lên kinh tế tri thức so với các nước, vì vậy nắm bắt
cơ hội, vượt qua thách thức là mấu chốt cho những thành công của Việt Nam. Hai là, xu
thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế buộc chúng ta phải đương đầu với nhiều
nguy cơ và thách thức mới, mặt khác, chính sách mở cửa và sự hội nhập quốc tế đã đưa
đến sự phát triển mạnh mẽ cho tri thức khoa học, từ đó đẩy mạnh khoa học công nghệ
quốc gia. Ba là, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại cuối thế kỷ XX đầu thế
kỷ XXI là thời kỳ khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ nhất từ trước đến nay, cuộc
cách mạng này cùng với sự phát triển như vũ bão của tri thức khoa học đã đem lại nhiều
thành quả tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và làm biến đổi bộ mặt của các nền
kinh tế xã hội toàn cầu. Bốn là, về đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ, Việt Nam có
nguồn lực con người khá dồi dào và hứa hẹn sẽ có chất lượng tốt nếu được đào tạo một
cách cơ bản và hệ thống. Việt Nam có nhiều thế hệ nhân tài, người Việt Nam thông
minh, tuy nhiên do điều kiện vật chất còn quá kém nên tình trạng chảy máu chất xám vẫn
diễn ra khá nghiêm trọng. Bối cảnh ngày nay, với việc đẩy mạnh và quyết tâm thực hiện
chiến lược giáo dục là quốc sách hàng đầu, là thời cơ thuận lợi để Việt Nam đào tạo, sử
dụng và phát huy tiềm năng về con người để phát triển đất nước.
2.2.2 Kinh nghiệm phát triển tri thức khoa học để thực hiện mục tiêu xây dựng kinh
tế tri thức ở một số nước phát triển và bài học kinh nghiệm vận dụng cho Việt Nam
Luận án tìm hiểu kinh nghiệm phát triển tri thức khoa học để phát triển kinh tế tri
thức của một số quốc gia phát triển trên thế giới như Thụy Điển, Phần Lan, Hoa Kỳ,
Nhật Bản, Trung Hoa, Singapore, Đại Hàn Dân Quốc…
Tìm hiểu kinh nghiệm các nước cho thấy để có những thành tựu nổi bật về tri thức
khoa học, hầu hết các nước phát triển nêu trên đều có những đặc điểm chung cơ bản như
sau: một là, tất cả các nước đều chú trọng đầu tư cho giáo dục, đặc biệt là giáo dục và
đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn nhân lực tài năng, tập trung mạnh cho
chiến lược giáo dục, đào tạo, thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn tài năng trí tuệ. Hai là,
các nước này còn luôn chủ trương lấy cơ chế, chính sách quốc gia làm then chốt, đầu tư
xây dựng cơ sở pháp lý cho phát triển tri thức khoa học, có chính sách ưu tiên cho hoạt
động khoa học công nghệ, thường xuyên cải cách, đổi mới, điều chỉnh chiến lược khoa
học công nghệ cho phù hợp với tình hình thay đổi của thực tiễn. Thứ ba, các nước
phương tây và phương đông có xu hướng tương đối khác biệt trong điểm nhấn về chiến
lược phát triển khoa học, công nghệ, nếu các nước phương tây kể trên như Thụy Điển,
Phần Lan, Hoa Kỳ đều rất quan tâm đến chính sách xã hội hóa, luật hóa các hoạt động
khoa học công nghệ để huy động mọi nguồn lực của xã hội cho mục đích phát triển khoa
học công nghệ, làm giàu tri thức khoa học, tạo nên những cú nhảy đột phá, những bước
ngoặt cách mạng trong tiến trình lịch sử, thì các nước phương đông như Nhật Bản, Hàn
Quốc, Trung Quốc… lại quan tâm nhiều hơn đến triết lý vay mượn tri thức và chuyển
giao khoa học - công nghệ. Thứ tư, các nước này là chú trọng đến việc đầu tư và thu hút
nguồn đầu tư mạnh cho hoạt động R&D, nhà nước đầu tư và khuyến khích các tổ chức tư
nhân và các nguồn vốn nước ngoài tập trung cho đầu tư mạo hiểm, phát triển cơ sở hạ
tầng kỹ thuật, hội nhập quốc tế…
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam vận dụng trong quá trình phát triển tri thức
khoa học để xây dựng và phát triển kinh tế tri thức. Qua tìm hiểu mô hình một số nước,
luận án rút ra ba bài học kinh nghiệm cơ bản cho Việt Nam như sau:Thứ nhất, đầu tư lớn
cho giáo dục, đào tạo nhằm tạo nguồn nhân lực chất lượng cao;Thứ hai, tập trung đầu
cơ sở đó đề ra những giải pháp thiết thực và khả thi nhằm phát triển hiệu quả tri thức
khoa học để tiến lên kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3
PHƯỚNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TRI THỨC KHOA HỌC ĐỂ
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1 . PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRI THỨC KHOA HỌC ĐỂ XÂY
DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phát triển tri thức khoa
học để xây dựng và phát triển kinh tế tri thức
Nhìn chung, về quan điểm, dựa trên lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã hình thành chủ trương, quan điểm, chính sách phát triển
đất nước dựa vào khoa học, coi khoa học là động lực của sự phát triển.
Đảng ta luôn nhất quán quan điểm coi trọng tri thức khoa học và sự phát triển của
khoa học công nghệ. Qua các phân tích trên cho thấy, liên tục qua các kỳ đại hội, Đảng
luôn xác định vị trí và vai trò rất quan trọng của khoa học, tri thức khoa học và kỹ thuật,
công nghệ trong sự nghiệp phát triển chung của quốc gia dân tộc. Từ Đại hội VI, Đảng ta
đã coi khoa học và công nghệ là động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới toàn diện đất
nước. Đại hội VII, Đại hội VIII và Đại hội IX khẳng định khoa học công nghệ là quốc
sách hàng đầu, là nền tảng và là động lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đại hội X
nhấn mạnh vai trò động lực của khoa học và công nghệ trong phát triển kinh tế tri thức.
Đại hội XI tiếp tục đề ra đường lối đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, khoa học và
công nghệ giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, động lực
then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững.
3.1.2. Phương hướng phát triển tri thức khoa học để xây dựng và phát triển
kinh tế tri thức hiện nay ở Việt Nam
Trên cơ sở những định hướng chiến lược lâu dài của Đảng, luận án cho rằng, Đảng
ta xác định đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý hoạt động khoa học, công nghệ được xem là
Đầu tiên, phải tập trung mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục,
đào tạo để cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho hoạt động nghiên cứu khoa học.
Tiếp theo, cần đào tạo theo yêu cầu của xã hội và hoạt động khoa học công nghệ, gắn đào
tạo với nghiên cứu, gắn đào tạo với thị trường, tạo sự liên kết chặt chẽ giữa nhà giáo dục,
nhà khoa học, nhà kinh tế, nhà sản xuất, nhà hoạch định chiến lược và thậm chí là với cả
người tiêu dùng. Đồng thời, nâng cao đầu tư cho giáo dục, chuẩn hóa giáo dục theo các
tiêu chuẩn quốc tế và xây dựng chiến lược giáo dục hợp tác quốc tế là cần thiết, xây dựng
xã hội học tập, học tập suốt đời…
Những kinh nghiệm lịch sử cho thấy, việc tăng trưởng kinh tế dựa trên việc khai
thác tài nguyên sẽ kéo dài không lâu, còn tăng trưởng kinh tế dựa trên sự kết hợp của tài
năng và kinh nghiệm quản lý, trọng dụng nhân tài và gắn với môi trường, gắn với thương
mại quốc tế thì nó luôn phát triển bền vững. Do đó Chính phủ đóng vai trò then chốt và
phải tiến hành chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động giáo dục và đào tạo cho phù hợp, tạo mọi
con đường thuận lợi cho người tài tiến thân bằng chính khả năng và thực lực của mình.
3.2.2. Nhóm giải pháp về phát triển thị trường khoa học công nghệ
20
Thị trường khoa học công nghệ là phương tiện, là môi trường thúc đẩy sự phát
triển sôi động, nhanh chóng và hiệu quả của tri thức khoa học và quá trình chuyển giao
công nghệ, vì vậy phát triển tốt thị trường khoa học công nghệ cũng là một giải pháp
quan trọng.
Một là, kiện toàn mọi điều kiện, từ đội ngũ con người đến năng lực khoa học công
nghệ đến cơ chế chính sách… đảm bảo hình thành và phát triển thị trường khoa học lành
mạnh, sôi động, có sức cạnh tranh cao, đảm bảo năng lực gia nhập sâu vào thị trường
quốc tế trong điều kiện toàn cầu hóa. Hai là, nắm rõ cơ sở khoa học và các nhân tố thúc
đẩy sẽ rút ngắn quá trình hình thành, phát triển thị trường khoa học công nghệ, thúc đẩy
phát triển nhanh thị trường khoa học công nghệ là đòi hỏi bức xúc đối với Việt Nam hiện
nay. Ba là, liên tục xây dựng đề án, ban hành quyết định, chỉ thị, triển khai các chương
góp phần làm tăng thêm hiệu quả các nguồn vốn và tăng năng suất lao động xã hội, tạo
ra những sản phẩm và dịch vụ mới. Vì vậy, các chính sách thúc đẩy tiến bộ khoa học
công nghệ đang đóng một vai trò đáng kể trong các chiến lược tăng trưởng kinh tế của
21
các nước phát triển và đang phát triển. Các chính sách, cơ chế bồi dưỡng, đào tạo, chế độ
trọng dụng và đãi ngộ nhân tài còn nhiều bất cập, cơ chế quản lý hoạt động khoa học
công nghệ còn chưa đáp ứng yêu cầu… do đó, cải thiện và liên tục đổi mới cơ chế, chính
sách cho khoa học công nghệ cũng là một giải pháp mang tính thiết yếu.
Công tác quản lý khoa học công nghệ cần được quan tâm trên tất cả các phương
diện, từ việc quản lý các nhiệm vụ khoa học công nghệ, cho đến quản lý tài chính, quản
lý hoạt động của các tổ chức khoa học công nghệ, chú trọng việc đổi mới, cải tạo công
tác quản lý sao cho hiệu quả và tích cực nhất, quyết tâm đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ về
tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động, công tác xây dựng chiến lược, kế hoạch phát
triển khoa học và công nghệ; đồng thời ưu tiên và tập trung mọi nguồn lực quốc gia cho
phát triển khoa học và công nghệ. Nhà nước có trách nhiệm đầu tư, khuyến khích các
thành phần kinh tế tham gia phát triển hạ tầng, nâng cao đồng bộ tiềm lực khoa học xã
hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ. Chú trọng nghiên cứu ứng
dụng và triển khai; coi doanh nghiệp và các đơn vị dịch vụ công là trung tâm của đổi mới
ứng dụng và chuyển giao công nghệ, là cầu nối quan trọng nhất của thị trường khoa học
và công nghệ. Quan tâm đúng mức đến nghiên cứu cơ bản, tiếp thu, làm chủ công nghệ
tiên tiến của thế giới, phù hợp với điều kiện Việt Nam; Chủ động, tích cực hội nhập quốc
tế để cập nhật tri thức khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới.
Đặc biệt, đổi mới cơ chế quản lý tài chính được xem là đòn bẩy quan trọng cho
sự phát triển đột phá của tri thức khoa học. Quan điểm chung là cần phải thực hiện hiệu
quả hơn nữa cơ chế khoán trong khoa học công nghệ. Mặt khác, Việt Nam cần tích cực
tăng cường ngân sách và cả huy động nguồn vốn tư nhân cho khoa học công nghệ.
Cơ chế tuyển dụng, đãi ngô nhân tài phải được chú trọng. Các viện nghiên cứu
khác cũng đã có điểm xuất phát tương tự Việt Nam, bằng chiến lược phát triển phù hợp,
chính sách khoa học và cơ chế hợp lý, họ đã rất thành công trong việc nâng vị thế quốc
gia trên bản đồ khoa học công nghệ thế giới và đang từng bước tiến thẳng vào kinh tế tri
thức. Đó là những bài học, và cũng là những mô hình kiểu mẫu, tham khảo và vận dụng
tốt trong điều kiện lịch sử, cụ thể, Việt Nam hoàn toàn có thể đi tắt, đón đầu trong cách
mạng thông tin tri thức và trong tiến trình tiến đến kinh tế tri thức.
Dựa trên sự nghiên cứu về chiến lược phát triển tổng thể và mục tiêu của quốc gia
về khoa học, công nghệ; trên cơ sở tìm hiểu kinh nghiệm một số nước và khảo sát thực
trạng phát triển tri thức khoa học công nghệ Việt Nam, luận án gợi mở một số định
hướng chiến lược trong quá trình phát triển tri thức khoa học, đồng thời luận án cho rằng,
các định hướng cụ thể, thiết thực nhất cần quán triệt trong thời gian tới là cần dân chủ
hóa, xã hội hóa và luật hóa các hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm thúc đẩy mạnh mẽ
quá trình sáng tạo ra tri thức khoa học.
Luận án kiến nghị một số giải pháp mang tính khả thi về giáo dục đào tạo, về thị
trường khoa học công nghệ, về phát triển ICT nhằm thúc đẩy hoạt động khoa học công
nghệ, tiến tới phát triển hệ thống tri thức khoa học quốc gia, ứng dụng vào nền kinh tế,
từng bước thiết lập kinh tế tri thức.
PHẦN KẾT LUẬN
Trong quá trình nghiên cứu, phân tích, làm rõ vấn đề “Tri thức khoa học đối với
quá trình xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay”, luận án đã rút ra
được một số kết luận sau:
(1)Tri thức bao giờ cũng là một trong những yếu tố quan trọng, và là phương tiện
vĩ đại nhất để thúc đẩy xã hội phát triển. Phát triển tri thức khoa học hiện nay không chỉ
là nâng cao hiểu biết của con người về thế giới, mà còn là vấn đề trọng đại của từng quốc
gia, dân tộc trong tiến trình phát triển nhân loại.(2) Xây dựng và phát triển nền kinh tế tri
thức, là xu thế tất yếu của thời đại, đó không chỉ là vấn đề quan tâm của riêng lĩnh vực
kinh tế, mà còn là mối quan tâm của rất nhiều các lĩnh vực khác nhau trong xã hội. Việt
Nam chưa có kinh tế tri thức theo đúng nghĩa của nó, do đó, để hội nhập vào nền kinh tế
tri thức, các quốc gia đang phát triển như Việt Nam phải có sự nổ lực rất cao. (3) Luận
án cũng đã bước đầu cố gắng nghiên cứu, phân tích làm rõ vai trò thực sự của tri thức
Tích cực vận dụng những hiểu biết và trình độ khoa học trên thế giới, ứng dụng vào hoàn
cảnh đặc thù của xã hội Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra những chính sách phù hợp và
thích ứng nhất với hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam.