Thiết kế bài học dựa vào lí thuyết học tập trải nghiệm - Pdf 34

THIẾT KẾ BÀI HỌC DỰA VÀO LÝ THUYẾT HỌC TẬP DỰA TRÊN KINH NGHIỆM
Design Lessons based on Experiential Learning Theory
ThS. Nguyễn Văn Hạnh, ThS. Nguyễn Thị Duyên, ThS. Hoàng Thị Ngọc
Khoa Sư phạm Kĩ thuật, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên
Department of Technical Pedagogy, Hung Yen University of Technology and Education
Địa chỉ: Dân Tiến – Khoái Châu – Hưng Yên
Email: , sđt: 0975.300.198
Tóm tắt: Thiết kế bài học là một nhiệm vụ quan trọng của giáo viên, trong đó bao gồm các
công việc: thiết kế mục tiêu và nội dung học tập; thiết kế hoạt động của người học; thiết kế
hoạt động của người dạy; thiết kế môi trường học tập. Thiết kế học tập phải dựa trên cơ sở
của một lý thuyết giáo dục và các đặc trưng trong học tập của người học. Trong bài viết
này, chúng tôi bàn đến vấn đề thiết kế bài học dựa vào lý thuyết học tập dựa trên kinh
nghiệm.
Abstract: Design lessons is a vital task of teachers, including the work: design goals and
learning content; design of learning activities; design of the teaching activities; design
learning environments. Design lessons must be based on a theory of education and
learning characteristics of learners. In this article, we discuss the problem of design lessons
based on Experiential Learning Theory.
Từ khóa: Học tập dựa trên kinh nghiệm; Lý thuyết học tập dựa trên kinh nghiệm; Mô hình
của học tập dựa trên kinh nghiệm; Bài học; Thiết kế bài học
Keywords: Experiential Learning; Experiential Learning Theory; Model of Experiential
Learning; Lessons; Design Lessons

1. Vấn đề nghiên cứu
Trước hết, chúng tôi đồng thuận với quan điểm của Đặng Thành Hưng (2013) cho rằng,
không nên nhầm lẫn giữa thiết kế bài học và giáo án, không nên nhầm lẫn sử dụng giáo án thay
cho thiết kế bài học mà ngược lại, chỉ cần bàn đến thiết kế bài học mà không cần bàn đến giáo
án. Bởi vì, giáo án chỉ là văn bản ghi lại kết quả của thiết kế bài học, giáo án chỉ là công cụ ghi
nhớ thay cho trí nhớ của người thầy khỏi quên những gì mình định làm. Như vậy, giáo án phải
là sản phẩm của quá trình thiết kế, kết quả của hoạt động thiết kế bài học. Thiết kế bài học thì
phải dựa trên cơ sở của lý thuyết học tập và triết lý giáo dục cụ thể.

2


biết. Khi giải quyết mâu thuẫn này, mỗi người học có thể thích sử dụng Khái niệm hóa trừu
tượng hoặc kinh nghiệm cụ thể. Người học nào thích sự bao quát, nhận thức vấn đề sẽ ưa thích
“Suy nghĩ” (Thinking), trong khi người nào thích sự rõ ràng, hiểu rõ vấn đề sẽ ưa thích “Cảm
xúc” (Feeling) khi bày tỏ, trình diễn một kinh nghiệm trong học tập [8]. Hai cách thức chuyển
đổi ý nghĩa đúc rút từ kinh nghiệm là Trải nghiệm và Quan sát phản ánh, người học có thể thích
sử dụng Trải nghiệm hoặc Phản ánh. Người học nào thích sự mở rộng, hiểu ngoại diên vấn đề
sẽ ưa thích “Làm” (Doing), trong khi người nào thích nội hàm, nội dung vấn đề sẽ ưa thích
“Xem” (Watching) khi cố gắng để áp dụng ý nghĩa của trải nghiệm [8].
2.2. Các đặc trưng trong học tập của người học dựa vào lý thuyết học tập dựa trên kinh
nghiệm
Để thực hiện quá trình thiết kế dạy học có hiệu quả, giáo viên phải hiểu biết về các đặc
điểm trong học tập của người học. Theo mô hình học tập dựa trên kinh nghiệm của Kolb [6, tr.
42], có bốn loại phong cách học tập tương ứng với bốn dạng người học bao gồm:
Dạng 1 – Người học dạng “Why”: Tương ứng với phong cách học tập Phân kỳ
(Diverging), câu hỏi đặc trưng của người học này là Tại sao (Why)? – Cho tôi biết lí do tại
sao tôi phải học [1, 4, 6]. Khi học, người học “Why” có khuynh hướng lao vào thực hiện, sau
đó mới suy nghĩ, rút kinh nghiệm và học [4].
Dạng 2 - Người học dạng “What”: Tương ứng với phong cách học tập Đồng hóa
(Assimilating), câu hỏi đặc trưng của người học này là Cái gì (What)? – Chỉ rõ điều cần học
cho tôi đi [1, 4, 6]. Khi học, người học “What” muốn biết rõ lý thuyết, thông tin, dữ liệu được
trình bày rõ ràng logic, và có thời gian để suy nghĩa về những ý tưởng [4].
Dạng 3 – Người học dạng “How”: Tương ứng với phong cách học tập Hội tụ
(Converging), câu hỏi đặc trưng của người học này là Thế nào (How)? – Làm như thế nào?
Cho tôi làm thử đi [1, 4, 6]. Khi học, người học “How” thích suy nghĩ mọi việc rồi mới thực
hiện, họ kết hợp lý thuyết và thực hành, kiểm nghiệm lý thuyết, và tự giải quyết vấn đề [4].
Dạng 4 – Người học dạng “What if”: Tương ứng với phong cách học tập Điều ứng
(Accommodating), câu hỏi đặc trưng của người học này là Nếu như (What if)? – Để tôi trình



được, biểu hiện cho các hành động của trí tuệ, của thể chất, của xã hội [3]. Các động từ diễn đạt
các hành vi này được mô tả khá chi tiết trong mô hình của B. Bloom.
Nội dung học tập được mô tả, lựa chọn, sắp xếp trong các môn học, sách, chương trình,
học liệu có nguồn gốc nằm ở bên trong phạm vi kinh nghiệm của xã hội, của cuộc sống bình
thường, đó là những kinh nghiệm của giáo viên, của người trưởng thành cho rằng chúng sẽ có
ích cho người học vào một lúc nào đó trong tương lai [5]. Đối với người học, nội dung học tập
phản ánh những sự kiện, khái niệm và chân lý khách quan, nằm bên ngoài phạm vi kinh nghiệm
hiện tại ở người học. Như vậy, “nhiệm vụ của nhà giáo dục là lựa chọn những gì nằm trong
phạm vi của kinh nghiệm hiện có của học sinh song chúng hứa hẹn và có tiềm năng đặt ra
những vấn đề mới mẻ và bằng cách kích thích sự quan sát và phám đoán mới mẻ, chúng sẽ mở
rộng phạm vi của kinh nghiệm sau đó” [5, tr. 485]. Đó không phải là việc cung cấp cho học
sinh những kinh nghiệm mới mẻ nào đó xa vời với kinh nghiệm hiện tại mà phải đảm bảo cho
học sinh có thêm kỹ năng và sự thuần thục trong việc giải quyết những điều chúng đã quen
thuộc. Thiết kế nội dung học tập luôn gắn liền với thiết kế hoạt động học tập.
Nội dung học tập của bài học được thiết kế cần đảm bảo các yêu cầu:
+ Nội dung học tập là đối tượng của hoạt động học tập, điều đó chỉ có thể thực hiện được
khi nào vật liệu của học tập nằm trong kinh nghiệm hiện tại được tiếp nối liên tục với kinh
nghiệm trong quá khứ [2, 3, 5]. Đó là việc lựa chọn các nội dung học tập phải gắn liền với kinh
nghiệm của cuộc sống thực của người học.
+ Những nội dung học tập phải thực sự gần gũi, quen thuộc với những điều kiện mà
người học đang có trong hiện tại để những điều kiện được tìm thấy trong kinh nghiệm hiện tại
được sử dụng như nguồn cung cấp vấn đề, kích thích tư duy [5]. Vấn đề đó phải vừa sức với
khả năng của người học, khơi dậy sự chủ động tìm kiếm thông tin và những ý tưởng mới mẻ.
+ Nội dung học tập phải được mô tả sao cho người học có thể hiểu biết những ứng dụng
của khoa học trong cuộc sống xã hội hằng ngày. Người học có thể hiểu biết các tri thức đó trên
cơ sở của kinh nghiệm cá nhân, chứ không phải là sự áp đặt các nội dung khoa học đó từ bên
ngoài.
Việc thiết kế các nội dung học tập dựa vào lý thuyết học tập dựa trên kinh nghiệm cần

1/ Các hoạt động tìm tòi – phát hiện [2, 3]: Đó là việc thu thập các vật liệu học tập
(thông tin, dữ liệu, sự kiện,…) từ trong vốn kinh nghiệm hiện tại của cá nhân để nhận thức
nhiệm vụ hoặc vấn đề học tập. Hoạt động tìm tòi – phát hiện tương ứng với việc chuyển tiếp từ
giai đoạn Kinh nghiệm cụ thể sang Quan sát phản ánh trong mô hình của Kolb được đặc trưng
bằng người học dạng “Why”.
2/ Các hoạt động biến đổi – xử lý – phát triển sự kiện, vấn đề [2, 3]: Đó là việc biến
đổi, xử lý thông tin, dữ liệu và sự kiện đã tìm ra để có được những sự kiện mới, sẽ nảy sinh quá
trình tư duy, cảm nhận, tưởng tượng, suy luận và khái quát hóa của người học để thu được
những khái niệm mới [3]. Hoạt động biến đổi – xử lý – phát triển sự kiện, vấn đề tương ứng với
việc chuyển tiếp từ giai đoạn Quan sát phản ánh sang Khái niệm hóa trừu tượng được đặc trưng
bằng người học dạng “What”.
3/ Các hoạt động ứng dụng – củng cố [2, 3]: Đó là việc thực hành thử nghiệm, trải
nghiệm giải quyết các nhiệm vụ hoặc vấn đề học tập trong thực tiễn, phải hoàn thành công việc
cụ thể, củng cố và luyện tập bằng công việc và chia sẻ trong lớp, trong nhóm nhằm hoàn thiện
tri thức và kỹ năng đã lĩnh hội, chính xác hóa khái niệm [3]. Hoạt động ứng dụng – củng cố
tương ứng với việc chuyển tiếp từ giai đoạn Khái niệm hóa trừu tượng sang Thử nghiệm, trải
nghiệm được đặc trưng bằng người học dạng “How”.
4/ Các hoạt động đánh giá và điều chỉnh [2, 3]: Đó là việc người học tự nhận thức rõ
kết quả học tập và trải nghiệm thành công cũng như thiếu sót của mình, từ đó, người học cần
thực hiện một vài hoạt động bổ sung có tác dụng luyện tập, rèn kỹ năng đầy đủ và hoàn thiện
hơn, và củng cố bài học. Hoạt động đánh giá và điều chỉnh tương ứng với việc chuyển tiếp từ
giai đoạn Thử nghiệm, trải nghiệm sang Kinh nghiệm cụ thể được đặc trừng bằng người học
dạng “What if”.
Chúng ta có thể tóm tắt mối liên hệ giữa các hoạt động học tập tối thiểu phải hoàn thành
[2, 3] và các giai đoạn học tập trong mô hình học tập dựa trên kinh nghiệm của Kolb (1984)
như bảng 1.
Bảng 1: Các dạng hoạt động học tập cơ bản dựa vào lý thuyết học tập dựa trên kinh nghiệm của
Kolb (1984)
Quá trình học tập theo mô


biến đổi và phát triển sự

3/ Khái niệm hóa trừu tượng – 3/ Người học dạng

kiện, vấn đề
3/ Các hoạt động ứng

Thử nghiệm
4/ Thử nghiệm, trải nghiệm –

“How”
4/ Người học dạng

dụng củng cố
4/ Các hoạt động đánh

Kinh nghiệm cụ thể

“What if”

giá và điều chỉnh

Tương ứng với mỗi nội dung học tập của bài học, giáo viên cần thiết kế đủ 4 dạng học
tập cơ bản, giáo viên có thể thực hiện theo khung thiết kế hoạt động của người học như bảng 2.
Giáo viên có thể lựa chọn và thiết kế các hoạt động học tập cụ thể dựa vào mô hình của Svinick
và Dixon (1987) (xem hình 3) tương ứng với các giai đoạn của mô hình học tập dựa trên kinh
nghiệm của Kolb.
Bảng 2: Khung thiết kế hoạt động của người học [2]
Hoạt động Các hoạt động



Hoạt động 7

Nội dung 2
Nội dung 3

Hoạt động 2
Hoạt động 9
v.v…

Hoạt động 4
Hoạt động 10
v.v…

Hoạt động 6
Hoạt động 11
v.v…

Hoạt động 8
Hoạt động 12
v.v…

2.3.3. Thiết kế hoạt động của người dạy
Để giải quyết những khó khăn mà giáo việc gặp phải khi tiếp cận dạy học theo mô hình
học tập dựa trên kinh nghiệm, Kolb (Kolb, 2011) đã xây dựng hồ sơ vai trò nhà giáo dục
(Educator Role Profile) hay hồ sơ vai trò giáo viên để giúp giáo viên xác định được vai trò cùng
với các hoạt động dạy học ưa thích tương ứng với các giai đoạn học tập trong mô hình của Kolb
(hình 4) [8]. Như vậy, tương ứng với mỗi dạng hoạt động của người học trong mô hình của
Kolb sẽ xác định được các vai trò cùng với các hoạt động dạy học khác nhau của giáo viên.



Dạng 2 (Hoạt động 3, 4, …) Hoạt động 2

phim – 10’
Thảo luận,

Dạng 3 (Hoạt động 5, 6, …) Hoạt động 3

công não – 15’
Thí nghiệm,

Dạng 4 (Hoạt động 7, 8, …) Hoạt động 4

quan sát – 15’
Tests – 10’

2.3.4. Thiết kế môi trường học tập
Bản chất của việc thiết kế môi trường học tập là tổ chức tất cả những yếu tố đã thiết kế
trên (mục tiêu, nội dung, hoạt động, phương tiện) thành hệ thống các tình huống vật chất mà
người dạy và người học trực tiếp tác động đến và qua đó tác động với nhau [3]. Lý thuyết học
9


tập dựa trên kinh nghiệm cho rằng, môi trường học tập được thiết kế tốt nếu các yếu tố cấu
thành kết nối với kinh nghiệm cá nhân của người học, kích thích tư duy. Đặng Thành Hưng
(2005) chỉ ra một số loại môi trường học tập phổ biến sau:
1/ Giờ lên lớp (môi trường lớp học) – có thể thiết kế môi trường làm việc theo nhóm, tổ,
môi trường thực hành cả lớp, môi trường tiết học [3]. Mỗi kiểu thiết kế sẽ yêu cầu cách bố trí
môi trường vật chất khác nhau.
2/ Môi trường dã ngoại (môi trường bên ngoài lớp học) – là công ty, nhà máy, địa điểm

Người định hướng; 2/ Nhà chuyên gia; 3/ Người đánh giá; 4/ Người huấn luyện.
4. Tài liệu tham khảo
[1]. Vũ Quốc Chung và tập thể tác giả (2011), Tài liệu hướng dẫn tăng cường năng lực sư
phạm cho giảng viên các trường đào tạo giáo viên trung học phổ thông và trung cấp
chuyên nghiệp, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, TP Hồ Chí Minh.
[2]. Đặng Thành Hưng (2013), Thiết kế bài học và tiêu chí đánh giá, Tạp chí Khoa học giáo
dục số 94 tháng 7/2013, Hà Nội.
[3]. Đặng Thành Hưng (2005), Thiết kế bài học nhằm tích cực hóa học tập, Tạp chí Giáo dục,
số 107/2/2005, Hà Nội.
[4]. Nguyễn Thế Lộc (2010), Dạy theo phong cách học, tạp chí Phát triển và Hội nhập của
trường đại học Kinh tế tài chính số 7 – tháng 10/2010, tr. 25-27.
[5]. Reginald D. Chambault biên tập (1974), John Dewey về giáo dục (John Dewey on
Education), bản dịch của Phạm Anh Tuấn, Nhà xuất bản Trẻ năm 2012, tp. Hồ Chính
Minh.
[6]. Kolb, D.A. (1984), Experiential learning: experience as the source of learning and
Development, Englewood Cliffs, New Jersey: Prentice-Hall.
[7]. Kolb, D. A., Boyatzis, R., & Mainemelis, C. (2001), Experiential learning theory:
Previous research and new directions. In R. Sternberg & L. Zhang (Eds.), Perspectives on
cognitive learning, and thinking styles: 228-247. Mahwah, NJ: Erlbaum.
[8]. Passarelli, A., & Kolb, D. A. (2012). Using Experiential Learning Theory to Promote
Student Learningand Development in Programs of Education Abroad.
[9]. Svinick, M. D., & Dixon, N. M. (1987), “The Kolb Model modified for classroom
activities”, College Teaching, Vol. 35, No. 4, pp. 141-146.

11


Nguồn: Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Thị Duyên, Nguyễn Thị Ngọc (2015), Thiết kế bài học dựa
vào lý thuyết học tập dựa trên kinh nghiệm, tạp chí Thiết bị giáo dục của Hiện hội thiết bị giáo
dục Việt Nam, số 117, 5/2015, tr. 3-7.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status