ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ THU HUYỀN
Ph¸p luËt vÒ qu¶n lý thuÕ thu nhËp c¸ nh©n
ë ViÖt Nam - Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ THU HUYỀN
Ph¸p luËt vÒ qu¶n lý thuÕ thu nhËp c¸ nh©n
ë ViÖt Nam - Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ THU THỦY
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
1.2.
Khái niệm, nội dung của pháp luật quản lý thuế thu nhập
cá nhân ............................................................................................... 13
1.2.1. Khái niệm pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ........................... 13
1.2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân ...... 14
1.3.
Kinh nghiệm pháp luật nước ngoài về quản lý thuế thu
nhập cá nhân ...................................................................................... 21
Kết luận chương 1 ......................................................................................... 30
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ
THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM........................................... 31
2.1.
Quản lý đối tượng nộp thuế ............................................................. 31
2.1.1. Xác định đối tượng nộp thuế ............................................................... 31
2.1.2. Quản lý thông tin người nộp thuế ....................................................... 32
2.1.3. Đăng ký và cấp mã số thuế ................................................................. 34
2.2.
Quản lý thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân............................... 42
2.3.
3.1.3. Quản lý miễn, giảm thuế TNCN, hoàn thuế TNCN ........................... 81
3.1.4. Về các mẫu biểu, tờ khai thuế, quyết toán thuế .................................. 83
3.2.
Các giải pháp khác ............................................................................ 83
3.2.1. Tăng cường các biện pháp quản lý thông tin người nộp thuế ............. 83
3.2.2. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và hoàn thiện quy
định pháp luật về nộp thuế điện tử ...................................................... 84
3.2.3. Tích cực tăng cường hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế và xử lý
vi phạm pháp luật thuế TNCN ............................................................ 85
3.2.4. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về luật thuế
TNCN và nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ nghiệp vụ của
đội ngũ cán bộ thuế ............................................................................. 87
3.2.5. Phối hợp đồng bộ giữa các ngành trong công tác quản lý thuế
thu nhập cá nhân.................................................................................. 89
3.2.6. Tăng cường sự hỗ trợ của các cơ quan trung gian trong quản lý
thuế thu nhập cá nhân .......................................................................... 90
Kết luận chương 3 ......................................................................................... 92
KẾT LUẬN .................................................................................................... 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 94
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHXH
: Bảo hiểm xã hội
: Quyết toán thuế
TNCN
: Thu nhập cá nhân
TNDN
: Thu nhập doanh nghiệp
TTHC
: Thủ tục hành chính
TTKDTM
: Thanh toán không dùng tiền mặt
UBND
: Ủy ban nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Để đảm bảo phát triển kinh tế xã hội ổn định, bền vững và chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế trong giai đoạn hiện nay, việc hoàn thiện các chính sách tài chính
trong đó có hệ thống chính sách thuế nói chung, thuế TNCN nói riêng là việc hết
sức cần thiết, nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ phân bổ nguồn lực đồng thời giải quyết
tốt các mối quan hệ giữa tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng, giữa tăng trưởng với công
thuế TNCN, được cụ thể hoá trong luật theo hướng hoàn thiện hơn, đáp ứng được
nhu cầu của xã hội. Vậy là, ứng với những điểm mới của luật thuế TNCN, cũng cần
phải có những quy định mới trong việc quản lý thuế TNCN, sao cho việc quản lý
đạt được hiệu quả tốt nhất, tránh tình trạng “thất thu thuế” đã và đang diễn ra trong
thực tiễn. Vấn đề đặt ra ở đây là: việc cụ thể hoá công tác quản lý thuế TNCN trong
các văn bản quy phạm pháp luật được thể hiện như thế nào? Thực trạng của pháp
luật về quản lý thuế TNCN ra sao? Và đâu là giải pháp để khắc phục phần nào
những thực trạng đó?
Xuất phát từ sự cần thiết của pháp luật trong công tác quản lý thuế TNCN,
cũng như từ những vấn đề phát sinh thực tế trong việc thực thi pháp luật về quản lý
thuế TNCN ở trên, nên tôi đã chọn đề tài “Pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá
nhân ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, các công trình nghiên cứu về vấn đề quản lý thuế và
các chính sách thuế ở Việt Nam khá đa dạng. Có thể nêu lên một số công trình
nghiên cứu như:
Đề tài luận án tiến sĩ luật học: “Pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị
trường – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” năm 2012 của tác giả Vũ Văn Cương;
Luận án tiến sĩ kinh tế “Quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện HNKTQT” năm
2011 của tác giả Nguyễn Thị Thùy Dương; Luận án tiến sĩ kinh tế “Quản lý thuế
TNCN ở Việt Nam trong điều kiện HNKTQT” năm 2010 của tác giả Lý Phương
Duyên; Luận văn thạc sĩ luật học “Pháp luật về quản lý thuế TNCN ở Việt Nam, thực
trạng và giải pháp” năm 2013 của tác giả Tạ Minh Hảo; Luận văn thạc sĩ luật học
“Pháp luật quản lý thuế thu nhập ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
2
tế” năm 2015 của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Anh; Khóa luận tốt nghiệp “Pháp luật về
quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay” năm 2010 của tác giả Đoàn
Luận văn sẽ hướng tới những mục tiêu cụ thể sau:
- Phân tích những quy định pháp luật, từ đó nhận xét và đánh giá việc áp dụng
pháp luật trong thực tiễn, những mặt đã đạt được và những mặt hạn chế của các quy
định pháp luật trong công tác quản lý thuế TNCN.
- Nghiên cứu những quy định pháp luật về quản lý thuế TNCN của Việt Nam so
với một số quốc gia khác trên thế giới từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Thông qua việc phân tích thực trạng, và học hỏi kinh nghiệm nước ngoài,
từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần cải thiện và nâng cao hiệu
lực thi hành, hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật quản lý thuế TNCN, phù
hợp với tình hình kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu các quy định pháp luật về
quản lý thuế TNCN. Việc thực thi các quy định pháp luật đó trong thực tiễn.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Xét về mặt lý luận: phạm vi nghiên cứu đề tài là trong khuôn khổ những quy
định pháp luật về quản lý thuế và pháp luật về thuế TNCN. Bên cạnh đó, luận văn
cũng tham khảo thêm những kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài về pháp luật
quản lý thuế TNCN.
Xét về mặt thực tiễn những số liệu được thống kê đề cập tới trong nội dung
các phần phân tích được cập nhật từ thực tiễn tại một số chi cục thuế trong cả nước.
Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý thuế TNCN của Nhà nước
đối với các chủ thể nộp thuế mà không tiếp cận vấn đề quản lý thuế của bản thân
các đối tượng nộp thuế.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu là các
phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, thống kê, khảo sát thực tế, …
Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê: nghiên cứu thực tiễn áp dụng
của luật thuế TNCN qua các số liệu, thống kê thu thập được.
Phương pháp hệ thống: coi pháp luật quản lý thuế TNCN là một bộ phận cấu
thành của pháp luật quản lý thuế để tiến hành nghiên cứu.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần nội dung chính của luận văn được
kết cấu thành ba chương
Chương 1: Khái quát về pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân
5
Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân
ở Việt Nam
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ
THU NHẬP CÁ NHÂN
1.1. Khái quát về quản lý thuế thu nhập cá nhân
1.1.1. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân
Thuế TNCN đã được áp dụng từ lâu ở các nước phát triển, đối tượng nộp thuế
là các cá nhân trong nước và người nước ngoài có thu nhập phát sinh ở nước sở tại
không phân biệt nghề nghiệp và địa vị xã hội. Ðồng thời, tùy theo tính chất của các
khoản TNCN, người ta chia thu nhập làm hai loại: thu nhập thường xuyên và thu
nhập không thường xuyên để tính thuế cho phù hợp. Lần đầu tiên ở Anh vào năm
1799 thuế TNCN được đưa vào thực hiện như một hình thức thu tạm thời nhằm mục
đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức áp dụng vào năm
1942. Sau đó nhiều nước tư bản phát triển khác cũng áp dụng thuế này như: ở Nhật
năm 1887, Ðức 1899, Mỹ 1903, Pháp 1916 và Liên Xô năm 1922 [46].
Hiện nay trên thế giới có 02 phương pháp đánh thuế: (1) Có nước tính thuế
vào từng khoản thu nhập thực tế của mỗi cá nhân, (2) có nước tính thuế trên tổng
thu nhập của cả hộ gia đình:
mục tiêu hoàn thiện chính sách thuế, xây dựng một chính sách thuế có tính trung lập
không nhằm nhiều mục tiêu khác nhau. Thể hiện, nó luôn quy định loại trừ một số
khoản thu nhập trước khi tính thuế TNCN như thu nhập mang tính trợ cấp xã hội,
khoản chi cần thiết cho cuộc sống cá nhân, gia đình NNT, khoản chi mang tính
nhân đạo xã hội…
Thuế TNCN có góc độ kỹ thuật tính thuế khá phức tạp bởi diện đánh thuế
rộng, liên quan chặt chẽ với hoàn cảnh cá nhân, chính sách xã hội cụ thể, có áp
dụng phương pháp luỹ tiến. Có như vậy mới đảm bảo công bằng xã hội, người có
thu nhập cao hơn thì trước và sau khi nộp thuế họ vẫn còn một khoản thu nhập cao
hơn so với người có thu nhập thấp khi chưa nộp thuế.
Ở miền Nam Việt Nam trước 1975, chính quyền Sài Gòn đã áp dụng thuế
7
TNCN nhưng với tên gọi là thuế lợi tức lương bổng năm 1962 và sau đó được cải
cách vào năm 1972.
Ngày 27/12/1990, Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Pháp lệnh Thuế thu
nhập đối với người có thu nhập cao (Income Tax on high - Income earner) và đã
được ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua. Ðể cho phù hợp với tình hình thực tế
của từng giai đoạn phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, từ đó đến nay đã có 11
lần sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao và để
nâng cao hơn nữa tính chất quan trọng cùng với việc phải có các biện pháp chế tài
đủ mạnh để thực hiện thu thuế TNCN được đi vào ổn định, có hiệu quả, công bằng,
tại kỳ họp Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật số 04/2007/QH12-Luật thuế
TNCN, luật này đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009. Sau gần sáu năm thực
hiện luật, trước yêu cầu mới của sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, một số
nội dung của Luật đã tỏ ra bất cập, cần được sửa đổi bổ sung cho phù hợp. Vì vậy,
ngày 22/11/2012, Quốc hội XIII, kỳ họp thứ 4 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật thuế TNCN và Luật số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014 luật
vậy, quản lý thuế bao gồm cả hoạt động xây dựng chính sách thuế, ban hành pháp
luật thuế và hoạt động tổ chức hành thu, xây dựng lực lượng thuế có trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cao để đảm bảo nâng cao hiệu quả quản lý thuế. Các vấn đề
về chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, công cụ và phương pháp quản lý, mục tiêu
quản lý là những yếu tố trung tâm đòi hỏi phải được xác định đúng đắn.
Khái niệm quản lý thuế TNCN cũng không nằm ngoài khái niệm chung về
quản lý thuế, theo đó “quản lý thuế TNCN là quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống
các công cụ và phương pháp quản lý thuế TNCN tác động lên quan hệ phát sinh
trong quản lý thuế TNCN làm cho chúng vận động theo đúng quỹ đạo mong muốn
của nhà quản lý nhằm đạt được các mục tiêu của quản lý thuế TNCN” [17].
Theo đó, khái niệm trên đã chỉ rõ: Chủ thể quản lý thuế TNCN là Nhà nước.
Quan hệ phát sinh trong quản lý thuế TNCN là các quan hệ phát sinh trước, trong và
sau khi triển khai tổ chức thu, nộp thuế TNCN cho Nhà nước. Công cụ của quản lý
thuế TNCN là pháp luật, kế hoạch, chính sách và một số công cụ khác. Phương
pháp quản lý thuế TNCN gồm các phương pháp như: phương pháp hành chính,
phương pháp kinh tế, phương pháp giáo dục… Quản lý thuế TNCN hướng tới mục
tiêu tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời số thu cho NSNN, tối thiểu hóa chi phí
nâng cao hiệu quả quản lý thuế, tăng cường ý thức chấp hành pháp luật của NNT.
9
Tóm lại, quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNCN nói riêng là một
trong các nhiệm vụ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trong đó các cơ quan
quản lý thuế như cơ quan thuế, cơ quan hải quan đóng vai trò chủ đạo. Thực hiện tốt
nhiệm vụ quản lý thuế có tác động tích cực tới quá trình thu, nộp thuế, tránh thất
thoát nguồn NSNN.
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý thuế thu nhập cá nhân
Hoạt động quản lý thuế TNCN chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau.
Các yếu tố này tác động dưới hai dạng: khách quan và chủ quan. Nhiệm vụ của cơ
Hiệu quả của pháp luật quản lý thu thuế TNCN phụ thuộc không nhỏ vào
mức độ phát triển kinh tế và đời sống của dân cư. Cùng một đơn vị thu thuế trên
một khu vực, số đối tượng nộp thuế thu nhập nhiều sẽ giảm bớt chi phí trên một
đồng thuế thu được, ngược lại có ít đối tượng nộp thuế và số thuế thu được ít thì chi
phí cho một đồng thuế thu được sẽ cao. Sự phát triển kinh tế sẽ đồng hành với sự
phát triển của cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác quản lý nói chung và công tác
quản lý thuế nói riêng, khi cơ sở hạ tầng tốt thì khả năng quản lý thuế cũng sẽ được
đơn giản và hiệu quả hơn. Ở các nước phát triển, thu nhập bình quân đầu người cao
nên thuế TNCN chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách. Việc quản lý đối
tượng nộp thuế thông qua việc thanh toán không dùng tiền mặt chính là yếu tố quan
trọng trong công tác quản lý thuế TNCN. Sự phát triển của hệ thống ngân hàng đi
kèm với phát triển hình thức thanh toán qua tài khoản. Điều này chỉ được thực hiện
dễ dàng ở những nước có nền kinh tế phát triển.
Ý thức chấp hành pháp luật của đối tượng nộp thuế
Ý thức chấp hành pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng tỉ lệ thuận
với ý thức và trách nhiệm nộp thuế. Khi người dân có ý thức chấp hành luật thuế
tốt, họ sẽ tự giác trong kê khai, nộp thuế. Hành vi trốn thuế sẽ ít xảy ra. Chính vì
vậy, công tác quản lý thu thuế và thanh tra thuế sẽ gặp nhiều thuận lợi và đạt kết
quả tốt hơn. Ý thức chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế là một trong
những điều kiện quan trọng trong thực hiện hoạt động quản lý thuế TNCN.
1.1.3.2. Các yếu tố chủ quan
Cơ sở vật chất của ngành thuế
Nhân tố này có ảnh hưởng mạnh mẽ tới công tác quản lý thuế TNCN. Những
quy định trong chính sách về diện thu thuế (rộng hay hẹp), phương thức kê khai,
11
nộp thuế, quyết toán thuế… phụ thuộc rất nhiều vào khả năng đáp ứng của ngành
thuế. Khả năng này lại phụ thuộc rất lớn vào cơ sở vật chất của ngành thuế. Cơ sở
1.2. Khái niệm, nội dung của pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân
1.2.1. Khái niệm pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân
Pháp luật quản lý thuế là một bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật
thuế ở mỗi quốc gia, là công cụ chủ yếu được Nhà nước sử dụng để thực hiện công
tác quản lý thuế. Quan hệ thu, nộp giữa Nhà nước và dân cư được thực hiện dựa
trên những căn cứ pháp lý nhất định, đó chính là pháp luật thuế. Trên thế giới có hai
xu hướng ban hành pháp luật về thuế phổ biến: một là quy định gộp các sắc thuế
trong một bộ luật chung về thuế, gọi là thuế vụ; hai là ban hành từng đạo luật riêng
cho mỗi loại thuế. Mỗi xu hướng đều có những ưu, nhược điểm khác nhau và mỗi
quốc gia sẽ lựa chọn một cách xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với tình hình
phát triển kinh tế xã hội của nước mình. Dù được xây dựng, thiết kế theo nguyên tắc
nào thì luật quản lý thuế bao giờ cũng có vai trò hết sức quan trọng trong việc quản
lý, điều hành chính sách thuế hay luật quản lý thuế là luật tổ chức thực hiện các luật
thuế. Vì vậy, vấn đề hiệu quả của các luật về chính sách thuế phụ thuộc khá lớn vào
luật quản lý thuế. Các đạo luật thuế chính là pháp luật nội dung, còn pháp luật quản
lý thuế là pháp luật thủ tục [23].
Việc đưa ra khái niệm pháp luật quản lý thuế nhằm phân định ranh giới giữa
các nhóm quan hệ xã hội do luật nội dung và luật thủ tục điều chỉnh, qua đó lựa
chọn áp dụng các quy phạm pháp luật phù hợp, đạt được hiệu quả điều chỉnh cao.
Tùy theo những cách hiểu khác nhau mà người ta có thể nhìn nhận và phân tích
pháp luật quản lý thuế theo những căn cứ khác nhau. Từ những phân tích trên, pháp
luật quản lý thuế có thể được định nghĩa như sau:
Pháp luật quản lý thuế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế giữa cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền với NNT và các đối tượng có liên quan nhằm hình thành nguồn thu
NSNN phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu xác định trước.
Để thực hiện hoạt động quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNCN nói
riêng, Nhà nước cần ban hành hệ thống quy phạm pháp luật để điều chỉnh. Tuy nhiên:
Ranh giới giữa pháp luật quản lý thuế và pháp luật nội dung các
- Kiểm tra thuế, thanh tra thuế.
- Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế.
14
- Xử lý vi phạm pháp luật về thuế.
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế [28, Điều 3].
Mỗi sắc thuế lại có những nét riêng trong cách quản lý để phù hợp với thực
tiễn của công tác quản lý chống thất thu thuế. Do đó, pháp luật quản lý thuế TNCN
cần chú trọng nội dung chủ yếu dưới đây:
1.2.2.1. Quản lý các đối tượng nộp thuế, tính thuế và các khoản được khấu
trừ theo quy định
a. Xác định đối tượng nộp thuế
Thuế TNCN thuộc loại thuế trực thu nên đối tượng chịu thuế cũng đồng thời
là đối tượng nộp thuế. Xác định đối tượng nộp thuế là một trong những nội dung
quan trọng của thuế TNCN, từ đó mới có thể vận dụng cách tính thuế cho phù hợp.
Khi tiến hành xác định đối tượng nộp thuế, người ta thường dựa vào hai tiêu thức là
“nơi cư trú” và “nguồn phát sinh thu nhập”.
Theo tiêu thức “nơi cư trú", một cá nhân được xác định là cư trú ở một nước
phải nộp thuế tại đó đối với mọi khoản thu nhập phát sinh từ khắp nơi trên thế giới,
còn một cá nhân được xác định là không cư trú ở một nước chỉ phải nộp thuế cho
phần thu nhập phát sinh tại nước đó.
Theo tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập” lại quy định: một cá nhân phải
nộp thuế thu nhập cá nhân ở một nước đối với mọi khoản thu nhập của cá nhân phát
sinh tại nước đó.
Luật thuế TNCN ở Việt Nam quy định cá nhân bao gồm cá nhân cư trú và
không cư trú. Đối với cá nhân cư trú thì phải có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên
tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có
mặt tại Việt Nam hoặc có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng
chia thành hai nhóm: Thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên.
Thu nhập thường xuyên: Được hiểu là các khoản thu nhập phát sinh
thường xuyên, có tính chất đều đặn và ổn định trong tháng, trong năm và có thể dự
tính được, bao gồm: thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh
doanh hàng hoá, dịch vụ, thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có
giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật, thu nhập từ tiền
lương, tiền công.
16
Trong đó thu nhập thường xuyên chịu thuế là tổng thu nhập của từng cá
nhân, bình quân tháng trong năm nằm trong giới hạn phải nộp thuế do biểu thuế thu
nhập đối với cá nhân quy định.
Thu nhập không thường xuyên: Là các khoản thu nhập phát sinh theo
từng lần, từng đợt riêng lẻ, không có tính chất đều đặn, nằm trong mức giới hạn
phải nộp thuế thu nhập, được tính theo biểu thuế toàn phần bao gồm: thu nhập từ
đầu tư vốn, tiền lãi cho vay; lợi tức cổ phần; thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình
thức khác, trừ thu nhập từ lãi trái phiếu Chính phủ; thu nhập từ chuyển nhượng vốn;
thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ trúng thưởng; thu nhập từ bản
quyền; thu nhập từ nhượng quyền thương mại; thu nhập từ nhận thừa kế; thu nhập
từ nhận quà tặng [52].
Từ những quan niệm trên, có thể nói rằng TNCN là giá trị một cá nhân kiếm
được trong một khoảng thời gian (thường là một năm) sau khi đã khấu trừ đi các chi
phí để tạo ra thu nhập đó.
c. Xác định các khoản khấu trừ để tính thuế
Một trong những nguyên tắc cơ bản khi tính thuế TNCN là đối tượng tính
thuế phải là thu nhập do người đóng thuế toàn quyền sử dụng theo quy định của
pháp luật. Điều đó cũng có nghĩa là đối tượng tính thuế là thu nhập đã khấu trừ đi
các khoản chi phí cần thiết để tạo ra thu nhập đó với một số giới hạn nhất định. Tùy
cả các khoản chi phí trên thường được các nước quy định một giới hạn khấu trừ cụ
thể gọi là suất miễn thu.
Các khoản chi phí cá nhân khác nhằm tái tạo sức lao động, chi phí đảm bảo
điều kiện sống tối thiểu của cá nhân.
Đây là một trong những đặc điểm của thuế TNCN: quan tâm đến sinh hoạt
của đối tượng nộp thuế và tính thuế theo khả năng. Điều này cũng cho thấy thuế thu
nhập cá nhân luôn gắn với các chính sách xã hội.
1.2.2.2. Quản lý tính tuân thủ pháp luật thuế thu nhập cá nhân của người
nộp thuế
Thanh tra, kiểm tra là yêu cầu tất yếu trong quản lý nhà nước nói chung mà
còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý thuế nói riêng, hoạt động thanh tra,
kiểm tra có nghĩa là tiến hành việc nghiên cứu, thu thập số liệu, đánh giá hoạt động
quản lý và mục đích cuối cùng là tìm hiểu được kết quả tác động của chủ thể quản
18