Chuyên đề 1
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC
_____________
I. HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
1. Khái niệm
Hệ thống chính trị là khái niệm dùng để chỉ một chỉnh thể bao gồm các
đảng chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội (hợp pháp); với những quan
hệ tác động qua lại giữa các nhân tố đó trong việc tham gia vào các quá trình hoạch
định và thực thi các quyết sách chính trị nhằm bảo đảm quyền thống trị của giai
cấp, lực lượng cầm quyền, đồng thời đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển xã hội.
2. Đặc điểm của hệ thống chính trị nước ta:
HTCT nước ta có những đặc điểm:
Thứ nhất, HTCT nước ta do duy nhất một Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo.
Đặc điểm này vừa mang tính phổ biến đối với HTCT các nước XHCN, vừa
mang tính đặc thù. Tính đặc thù đó được quy định bởi vai trò, vị trí, khả năng lãnh
đạo, uy tín lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đến nay trong
quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, chống ách thực dân, thống nhất
đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đổi mới xã hội...
Thứ hai, HTCT nước ta chịu ảnh hưởng của mô hình Xô viết
Mặc dù đang trong quá trình đổi mới, hoàn thiện nhưng ảnh hưởng của chế
độ tập trung quan liêu, bao cấp trong mô hình ấy đang còn khá nặng nề cả trong
cách nghĩ cách làm của đảng viên và nhân dân, cũng như trong tổ chức và thực thi
quyền lực nhà nước. Tuy chiến tranh đã kết thúc từ gần bốn chục năm qua, nhưng
những thói quen xử lý công việc, quản lý xã hội, ứng xử theo thời chiến vẫn còn ảnh
hưởng khá nặng trong các thế hệ cán bộ, đặc biệt là thế hệ trưởng thành trong chiến
tranh.
Thứ ba, Các tổ chức chính trị - xã hội do Đảng Cộng sản thành lập, lãnh đạo,
gắn bó chặt chẽ với Đảng và Nhà nước, là cơ sở chính trị của Đảng và Nhà nước.
Thứ tư, nền hành chính nhà nước, một bộ phận quan trọng của nhà nước ta
động Việt Nam; Hội Nông dân Việt Nam; Hội phụ nữ; Đoàn thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh; Hội Cựu chiến binh. Tuỳ theo tính chất, tôn chỉ và mục đích đã được
xác định, vận động, giáo dục đoàn viên, hội viên chấp hành luật pháp, chính sách;
chăm lo, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên;
giúp đoàn viên, hội viên nâng cao trình độ về mọi mặt và xây dựng cuộc sống mới;
tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
3.2.Chức năng và quan hệ chính trị giữa các nhân tố trong Hệ thống
chính trị nước ta
Trong hệ thống chính trị nước ta, các quan hệ chính trị được xác lập do một
cơ chế chủ đạo (và cũng là quan hệ chủ đạo): Đảng lãnh đạo, Nhân dân làm chủ,
Nhà nước quản lý. Trong các mối quan hệ này:
+ Sự lãnh đạo của Đảng được xác định bằng các phương thức chủ yếu sau:
- Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng
thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu
trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng
lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim
chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.
- Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã
Môn Kiến thức chung (Hệ thống chính trị và tổ chức bộ máy)
2
hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và
chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm
tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng thống nhất lãnh
đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có
đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống
chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các
tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là
liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công,
phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
1
Môn Kiến thức chung (Hệ thống chính trị và tổ chức bộ máy)
3
hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp
luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nhà nước phục vụ nhân
dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân,
tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; có cơ chế
và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô
trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân; giữ nghiêm kỷ
cương xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân
dân. Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ,
có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung
ương.
- Nhà nước quản lý xã hội trước hết bằng hệ thống quy phạm pháp luật, bằng
hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước từ các bộ đến các cơ sở, trong đó không
loại trừ các biện pháp cưỡng chế để đảm bảo thực hiện sự nghiêm minh của pháp
luật. Nhà nước thực hiện quản lý trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội,
quản lý theo ngành hoặc lãnh thổ theo cấp vĩ mô hoặc vi mô. Nhà nước thực hiện
sự quản lý bằng cả chính sách, các công cụ đòn bẩy khác... Mục tiêu của quản lý
Nhà nước là phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân, phát huy quyền làm
chủ của nhân dân, đảm bảo cho nhân dân được làm tất cả những gì mà pháp luật
không cấm, phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế, nhằm phát
triển nhanh và mạnh mẽ lực lượng sản xuất của đất nước.
bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện
quyền lực nhà nước, quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước và ở
địa phương.
Ngoài ra nhân dân còn trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước bằng nhiều cách
khác nhau như: nhân dân trực tiếp tham gia vào công việc quản lý nhà nước; tham
gia thảo luận Hiến pháp và luật; trực tiếp bầu ra các đại biểu Quốc hội và Hội đồng
nhân dân, giám sát hoạt động của các đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, bãi
nhiệm các đại biểu này khi họ không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân;
bỏ phiếu trưng cầu ý dân về những vấn đề quan trọng thuộc nhiệm vụ quyền hạn
của nhà nước.
4.2 Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và
xã hội.
Điều 4 Hiến pháp 1992 (sửa đổi) khẳng định: Đảng cộng sản Việt Nam là lực
lượng lãnh đạo đối với Nhà nước. Nội dung nguyên tắc thể hiện ở việc Đảng định
hướng sự phát triển về tổ chức bộ máy nhà nước, giới thiệu, bồi dưỡng cán bộ ưu tú
để nhân dân lựa chọn bầu hoặc để các cơ quan nhà nước đề bạt bổ nhiệm giữ các vị
trí quan trọng trong bộ máy nhà nước; Đảng vạch ra phương hướng xây dựng Nhà
nước, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước; Đảng lãnh đạo Nhà nước
thông qua các đảng viên, các tổ chức Đảng trong các cơ quan nhà nước, thông qua
công tác tuyên truyền, vận động quần chúng trong bộ máy nhà nước.
Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng mọi tổ chức của Đảng phải hoạt động trong khuôn
khổ Hiến pháp và pháp luật. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là một tất yếu
khách quan, là sự bảo đảm cho nhà nước ta thực sự là Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
4.3 Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc hoạt động chủ yếu của
HTCT, trong đó có Đảng và Nhà nước.
Điều 6 Hiến pháp 1992 (sửa đổi) quy định "Quốc hội với Hội đồng nhân dân
và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập
trung dân chủ". Bản chất của nguyên tắc này thể hiện sự thống nhất biện chứng
giữa chế độ tập trung lợi ích của Nhà nước, sự trực thuộc, phục tùng của các cơ
Tổ chức và hoạt động của Nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam, lấy Chủ nghĩa Mác - Lê Nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng cho mọi hoạt động của Nhà nước nhằm đạt mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh,
xã hội dân chủ, công bằng và văn minh
1.2Tính nhân dân của Nhà nước
Tính nhân dân của Nhà nước được thể hiện:
-Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân là chủ thể tối cao
của quyền lực Nhà nước.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân đã tiến hành đấu tranh cách mạng và tự
mình lập nên Nhà nước, tự mình định đoạt quyền lực Nhà nước.
Nhân dân với tư cách là chủ thể tối cao của quyền lực Nhà nước, thực hiện
quyền lực Nhà nước với nhiều hình thức khác nhau. Hình thức cơ bản nhất là nhân
dân thông qua bầu cử lập ra các cơ quan đại diện quyền lực của mình là Quốc hội
và Hội đồng nhân dân các cấp.
- Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức và hoạt động
trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân.
Pháp luật quy định mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân: quyền của công
dân là trách nhiệm của Nhà nước, nghĩa vụ của công dân là quyền của Nhà nước.
- Tính chất dân chủ rộng rãi của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam.
Môn Kiến thức chung (Hệ thống chính trị và tổ chức bộ máy)
6
Dân chủ vừa là nhu cầu vừa là đòi hỏi mang tính nguyên tắc của Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Phát huy dân chủ, đảm bảo quyền làm chủ
của nhân dân là mục tiêu cơ bản bao trùm trong hoạt động của Nhà nước
Để có nền dân chủ thật sự không hình thức, trong tổ chức, hoạt động và xây
dựng Nhà nước phải thể hiện dân chủ hóa, phải cụ thể hóa tư tưởng dân chủ thành
dân, vì dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ
trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Phát huy quyền làm chủ của dân, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về dân. Nhà
nước phục vụ nhân dân, gắn bó với nhân dân, tôn trọng, lắng nghe và chịu sự giám
Môn Kiến thức chung (Hệ thống chính trị và tổ chức bộ máy)
7
sát của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động
xâm phạm lợi ích của tổ quốc và nhân dân.
Phải xây dựng trên cơ sở nắm vững những nguyên tắc cơ bản của Chủ nghĩa
Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh xây dựng đất nước và các văn
kiện của Đảng; phải giữ vững bản chất giai cấp, bản chất dân chủ của Nhà nước
XHCN.
- Hai là: Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp
và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các
quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Trong Cương lĩnh của Đảng được thông qua tại Đại hội lần thứ VII(1991) đã
khẳng định: “Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó”. Đến Đại hội XI(2011) Đảng ta
vẫn khẳng định quan điểm trên nhưng có bổ sung phát triển phải kiểm soát quyền
lực khi các cơ quan nhà nước được giao quyền “Quyền lực Nhà nước là thống
nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước
trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.
Như vậy, quyền lực của Nhà nước ta là thống nhất thuộc về nhân dân, các cơ
quan trong bộ máy nhà nước thực hiện chức năng, sử dụng quyền lực Nhà nước
trao có thể được xem như là một sự phân công lao động hợp lý, có sự ràng buộc,
hợp tác và giám sát lẫn nhau, bảo đảm mỗi tổ chức làm đúng chức năng, đúng pháp
luật, không được lạm quyền và tất cả đều nằm trong quyền lực thống nhất không có
Đảng lãnh đạo Nhà nước đủ sức thực hiện đường lối của Đảng. Sự lãnh đạo
của Đảng không phải là bao biện làm thay, không dựa vào uy quyền, mệnh lệnh mà
là trí tuệ, năng lực lãnh đạo của Đảng, ở khả năng vạch ra đường lối đúng đắn và
khả năng giáo dục, thuyết phục toàn xã hội chấp nhận, ở vai trò tiên phong gương
mẫu của đảng viên và tổ chức Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền.
- Sáu là: Xây dựng Nhà nước có bộ máy gọn nhẹ, có đủ năng lực quản lỷ,
có đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có đức, có tài.
Báo cáo chính trị Đại hội XI của Đảng chỉ rõ khuyết điểm: Tổ chức bộ máy ở
nhiều cơ quan còn chưa hợp lý, biên chế cán bộ, công chức tăng thêm; chức năng,
nhiệm vụ của một số cơ quan chưa đủ rõ, còn chồng chéo. Đồng thời đặt ra yêu
cầu: Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước để thể hiện đúng vị
trí, chức năng, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả.
Nhà nước có đội ngũ cán bộ , công chức trong sạch, có đức, có tài, có bản lĩnh
chính trị, hết lòng phục vụ nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên Chủ nghĩa xã hội được bổ sung và phát triển tại Đại hội XI( năm
2011) đặt ra là: Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo
đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục
vụ nhân dân. Quy định rõ và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu.
Tóm lại: Ở nước ta, muốn tăng cường sức mạnh của nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân chúng ta phải quán triệt sâu sắc quan điểm
mà Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội( bổ
sung và phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội XI của Đảng : “ Nhà
nước ta là Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là
liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự
phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong
việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.( Văn kiện Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà nội, năm
2011,tr 85)
Nhiệm kỳ của Quốc hội mỗi khóa là 5 năm. Quốc hội bầu Chủ tịch Quốc hội
và các Phó chủ tịch Quốc hội. Tổ chức của Quốc hội gồm có UBTV Quốc hội, Hội
đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu
Quốc hội.(QH khóa XIII bầu 500 ĐB hiện nay còn 499ĐB)
- UBTVQH là cơ quan thường trực của Quốc hội.
UBTV Quốc hội gồm có Chủ tịch, các Phó chủ tịch và các Ủy viên do Chủ
tịch Quốc hội làm chủ tịch, các Phó chủ tịch Quốc hội làm các Phó chủ tịch. UBTV
Quốc hội làm việc theo chế độ tập thể.
- Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội là những cơ quan của Quốc
hội, làm việc theo chế độ tập thể.
* Hội đồng dân tộc gồm có Chủ tịch, các Phó chủ tịch và các ủy viên.
* Ủy ban của Quốc hội gồm có Chủ nhiệm, các Phó chủ nhiệm và các ủy
viên.
Quốc hội khóa XIII thành lập các Ủy ban của Quốc hội sau đây:
+ Ủy ban Pháp luật
+ Ủy ban Tư pháp
+ Ủy ban Kinh tế
Môn Kiến thức chung (Hệ thống chính trị và tổ chức bộ máy)
10
+ Ủy ban tài chính, ngân sách
+ Ủy ban Quốc phòng và an ninh.
+ Ủy ban văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng.
+ Ủy ban về các vấn đề xã hội.
+ Ủy ban Khoa học, Công nghệ và môi trường.
+ Ủy ban đối ngoại.
- Đoàn đại biểu Quốc hội là các đại biểu Quốc hội được bầu trong một tỉnh
hoặc thành phố trực thuộc Trung ương lập thành đoàn đại biểu Quốc hội.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.
Môn Kiến thức chung (Hệ thống chính trị và tổ chức bộ máy)
11
b. Về cơ cấu tổ chức của Chính phủ
- Về tổ chức:
Chính phủ gồm có Thủ tướng do Quốc hội bầu, là đại biểu Quốc hội; các Phó
thủ tướng và các thành viên là Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ do Quốc
hội phê chuẩn theo đề nghị của Thủ tướng. Nhiệm kỳ của Chính phủ theo nhiệm kỳ
của Quốc hội.
Chính phủ làm việc kết hợp chế độ trách nhiệm tập thể Chính phủ và trách
nhiệm cá nhân của Thủ tướng.
- Về cơ cấu của Chính phủ gồm có:
+ Các Bộ,
+ Cơ quan ngang bộ,
+ Cơ quan thuộc Chính phủ. Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ
không phải là thành viên của Chính phủ.
Bộ, cơ quan ngang bộ, là cơ quan hành chính quản lý theo ngành hay lĩnh vực
có thẩm quyền chuyên môn, làm việc theo chế độ thủ trưởng.
Chính phủ nhiệm kỳ 2011 – 2016 có:
+18 Bộ
+ 04 cơ quan ngang bộ
+ 08 cơ quan thuộc Chính phủ
3.4. Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân
a. Tòa án nhân dân
Tòa án nhân dân các cấp là những cơ quan thực hiện chức năng xét xử của
Nhà nước ta. Ở nước ta hiện nay theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi) quy định hệ thống
các cơ quan xét xử gồm có: Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa
Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được thành lập ở cả 3 cấp tỉnh, huyện,
xã và các đơn vị tương đương.
a. Hội đồng nhân dân (HĐND)
- Vị trí pháp lý của HĐND
HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí,
nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu
trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên.
HĐND quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm
năng của địa phương; xây dựng và phát riển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố
quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước.
HĐND thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực HĐND,
UBND, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực
hiện các nghị quyết của HĐND, giám sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan
nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân
ở địa phương.
HĐND chịu sự giám sát và hướng dẫn hoạt động của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội, chịu sự hướng dẫn và kiểm tra của Chính phủ trong việc thực hiện các
văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội.
HĐND được ra nghị quyết để thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình.
- Tổ chức của HĐND
Nhiệm kỳ của HĐND, của Thường trực HĐND, các ban của HĐND và đại
biểu HĐND các cấp là 5 năm.
HĐND các cấp có Thường trực HĐND.
HĐND cấp tỉnh, cấp huyện có các Ban của HĐND.
+ Thường trực HĐND do HĐND cùng cấp bầu ra. Thường trực HĐND cấp
tỉnh, cấp huyện gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên thường trực. Thường trực
HĐND cấp xã có Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND.
13
bảo sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ Trung
ương đến cơ sở.
UBND cấp dưới chịu sự chỉ đạo của UBND cấp trên. UBND cấp tỉnh chịu sự
chỉ đạo của Chính phủ.
UBND được ra quyết định và chỉ thị để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
mình.
- Tổ chức của UBND
UBND có: Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên ủy ban.
Chủ tịch UBND do HĐND cùng cấp bầu trong số các đại biểu HĐND.
Trường hợp khuyết chủ tịch UBND trong nhiệm kỳ thì Chủ tịch HĐND cùng cấp
giới thiệu người ứng cử Chủ tịch UBND để HĐND bầu; người được bầu không
nhất thiết là đại biểu HĐND.
Môn Kiến thức chung (Hệ thống chính trị và tổ chức bộ máy)
14
Các Phó chủ tịch và Ủy viên UBND không nhất thiết là đại biểu HĐND do
HĐND bầu.
Số lượng thành viên UBND các cấp hiện nay pháp luật quy định:
+ Cấp tỉnh có từ 9 – 11 Ủy viên(có 3 – 4 Phó chủ tịch)
+ Cấp huyện có từ 7 – 9 Ủy viên(có 2 – 3 Phó chủ tịch)
+ Cấp xã có từ 3 – 5 Ủy viên(có 1 – 2 Phó chủ tịch)
Kết quả bầu cử UBND phải được Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp phê
chuẩn; kết quả bầu UBND tỉnh phải được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn.
Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp có quyền điều động, cách chức Chủ tịch,
các Phó Chủ tịch UBND cấp dưới.
UBND chịu trách nhiệm báo cáo trước HĐND cùng cấp và UBND cấp trên
trực tiếp. UBND tỉnh báo cáo trước HĐND tỉnh và Chính phủ.
UBND hoạt động kết hợp trách nhiệm tập thể UBND với trách nhiệm của Chủ