ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---o0o---
BÙI THỊ THU HIỀN
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH
VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG HỆ THỐNG
CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---o0o---
BÙI THỊ THU HIỀN
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH
VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG HỆ THỐNG
CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: CNDVBC&CNDVLS
Mã số: 62.22.80.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Nguyễn Thế Nghĩa
2. TS. Hà Thiên Sơn
1.1.1. Bối cảnh quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với việc hình thành tư
tưởng chính trị Hồ Chí Minh ........................................................................ 14
1.1.2. Tình hình kinh tế, chính trị - xã hội, Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX với việc hình thành tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh ..................... 18
1.1.3. Các phong trào yêu nước, chống thực dân Pháp xâm lược ........................ 23
1.2. TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH
................................................................................................................................. 29
1.2.1. Tư tưởng chính trị và giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam .............. 29
1.2.2. Tư tưởng chính trị và tinh hoa văn hóa Đông – Tây .................................. 37
1.2.3. Tư tưởng chính trị Mác – Lênin .................................................................. 46
1.2.4. Phương pháp tư duy của Hồ Chí Minh ....................................................... 52
1.3. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ
MINH ............................................................................................................. 56
1.3.1. Giai đoạn Hồ Chí Minh tìm tòi, lựa chọn, thể nghiệm con đường hoạt động
chính trị (1911-1920) ................................................................................... 58
1.3.2. Giai đoạn Hồ Chí Minh xúc tiến chuẩn bị các tiền đề để thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam (1920-1930) ................................................................. 62
1.3.3. Giai đoạn Hồ Chí Minh tiếp tục chuẩn bị các tiền đề, thiết lập các tổ chức
chính trị để giải phóng dân tộc (1930-1945) ............................................... 65
1.3.4. Giai đoạn Hồ Chí Minh củng cố, hoàn thiện bộ máy Đảng, Nhà nước và tập
hợp, đoàn kết các tổ chức chính trị - xã hội trong Mặt trận Tổ quốc (1945-
1969) ........................................................................................................... 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .................................................................................... 71
Chương 2: NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH
TRỊ HỒ CHÍ MINH .................................................................................................. 74
2.1. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH . 75
2.1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thể chế chính trị và quyền lực chính trị ......... 75
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ................................................................................... 214
KẾT LUẬN CHUNG ........................................................................................ 216
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 220
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hồ Chí Minh (1890-1969) là lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, là
nhà tư tưởng, nhà văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam, người đã đưa Việt Nam
bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tư
tưởng Hồ Chí Minh nói chung, trong đó có tư tưởng chính trị của Người, là
kim chỉ nam hướng dẫn cách mạng Việt Nam thành công vang dội. Đặc biệt,
dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, hệ thống chính trị dân chủ ở Việt Nam
được hình thành, phát triển và từng bước được hoàn thiện cùng với tiến trình
phát triển của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta từ đầu thế kỷ XX đến nay. Đó là một hệ thống chính trị kiểu
mới, mang bản chất giai cấp công nhân và đại biểu cho lợi ích của toàn dân
tộc. Trong hệ thống đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là hạt nhân và giữ vai trò
lãnh đạo; “Nhà nước ta là cột trụ của hệ thống chính trị, là công cụ thực hiện
quyền lực của nhân dân” [37, tr. 44], là người tổ chức, quản lý, điều hành xã
hội, thực hiện rộng rãi quyền làm chủ của nhân dân. “Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc tập hợp,
vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; đại diện cho quyền và lợi
ích hợp pháp của nhân dân; đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà
nước, các chương trình kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh vào cuộc
sống, góp phần xây dựng sự đồng thuận trong xã hội” [43, tr.124]. Sự vững
mạnh (hay suy yếu) của hệ thống chính trị có vai trò quyết định đến thắng lợi
(hay thất bại) của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
trên một số nội dung chưa rõ, chậm đổi mới. Xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý đất nước.
Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu đề ra; thủ tục hành chính còn gây phiền
hà cho tổ chức và nhân dân. Chủ trương, quan điểm của Đảng về đại đoàn kết
toàn dân tộc, về quyền và lợi ích của các giai cấp, tầng lớp nhân dân chưa
được thể chế hóa đầy đủ thành pháp luật; hoặc đã thể chế hóa nhưng chưa
được thực hiện nghiêm túc. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
chính trị - xã hội còn mang tính hành chính, chưa sâu sát các tầng lớp nhân
dân và cơ sở. Đặc biệt là những khuyết tật trong đạo đức công mà sinh thời
Hồ Chí Minh đã phê phán như căn bệnh chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, tham ô,
lãng phí… đang làm tổn hại đến mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân
dân, làm xói mòn lòng tin của nhân dân, làm phương hại lớn đến nền dân chủ
3
nhân dân. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “Tình trạng suy thoái
về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ,
đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ
nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức
tạp…” [44, tr.173]. Trong tình hình ấy, việc nghiên cứu, làm rõ nội dung và
đặc điểm của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, từ đó vận dụng đề xuất các giải
pháp góp phần phát triển, hoàn thiện hệ thống chính trị của đất nước và làm
cho nó vận hành đồng bộ, nhịp nhàng và có hiệu quả là hết sức cần thiết và
cấp bách, nhất là trong bối cảnh Đảng và nhân dân ta đang đẩy mạnh việc xây
dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị và coi đó là một nội dung trọng tâm của
quá trình đổi mới đất nước.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Tư tưởng chính trị
Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay”
làm đề tài luận án tiến sĩ.
chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống và tinh hoa văn hóa thế giới...
Hướng nghiên cứu thứ hai là các công trình nghiên cứu trên nhiều góc
độ khác nhau về tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh. Các công trình này đã khai
thác từng mặt, từng nội dung tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, đồng thời nêu
lên những giá trị và bài học lịch sử đối với dân tộc ta trong cuộc đấu tranh
giành độc lập dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và phát
triển đất nước hiện nay. Tiêu biểu là các công trình: “Hồ Chí Minh với sự
nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (Vũ Đình Hòe - Bùi
Đình Phong (Đồng chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010); “Tư
tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam” (Phạm
Hồng Chương, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003); “Tư tưởng Hồ Chí
Minh về xây dựng Đảng” (Nguyễn Quốc Bảo, Nxb. Lao động, 1999); “Tư
tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới, sự hình thành và phát triển”
(Hoàng Văn Hảo, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995); “Đại cương lịch sử
các tư tưởng và học thuyết chính trị trên thế giới” (Nguyễn Thế Nghĩa, Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999); “Phương pháp nhân nghĩa Hồ Chí Minh”
(Vũ Đình Hòe, Nxb. Trẻ, TP.HCM, 2006); “55 xây dựng nhà nước của dân,
do dân, vì dân” (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001); “Hiến pháp năm
1946 và sự kế thừa phát triển trong các Hiến pháp Việt Nam” (Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1998); “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” (Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh - Kỷ yếu Hội thảo khoa
học quốc tế kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Chính
5
trị quốc gia, Hà Nội, 2010); “Xây dựng Đảng và rèn luyện đảng viên theo tư
tưởng Hồ Chí Minh” (Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000); “Di chúc của
chủ tịch Hồ Chí Minh” (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012); “Nguyên tắc
thống nhất giữa dân tộc, giai cấp và nhân loại trong tư tưởng Hồ Chí Minh”
Hồ Chí Minh và của Đảng ta về Đảng và xây dựng Đảng theo học thuyết Mác
- Lênin. Đồng thời, công trình nêu bật được nội dung cơ bản trong tư tưởng
Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng cũng như việc Đảng ta xây dựng theo tư
tưởng của Người với các nội dung: Đảng ra đời là kết quả của sự kết hợp giữa
chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của
nhân dân ta; Đảng ta đã nắm vững và không ngừng nâng cao bản chất cách
mạng và khoa học của một Đảng Mác - Lênin; Đảng ta luôn xác định và
không ngừng nâng cao tính chất giai cấp công nhân của Đảng; Đảng ta đã nêu
lên 5 phương châm xây dựng Đảng và xác định cơ chế “Đảng lãnh đạo, nhà
nước quản lý, nhân dân làm chủ”…
Công trình “Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới, sự hình
thành và phát triển” (Hoàng Văn Hảo, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1995), tác giả đã khẳng định: một trong những sự nghiệp vĩ đại của Hồ Chí
Minh là sáng lập ra nhà nước kiểu mới đầu tiên ở Đông Nam Á - Nhà nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời ngày 2/9/1945. Trong suốt giai đoạn lịch
sử từ khi thành lập cho đến khi Hồ Chủ tịch qua đời, Người đã để tâm sức chỉ
đạo xây dựng hai bản Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm
1946 và 1959; tổ chức xây dựng bộ máy nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng
tiên phong của giai cấp công nhân. Có thể nói, cùng với việc xây dựng bộ
máy nhà nước, việc ban hành hệ thống pháp luật Việt Nam để quản lý mọi
mặt hoạt động của Nhà nước và xã hội đều thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ
Chí Minh về nhà nước kiểu mới…
Tác giả Nguyễn Thế Nghĩa chủ biên công trình: “Đại cương lịch sử
các tư tưởng và học thuyết chính trị trên thế giới” (Nxb. Khoa học xã hội, Hà
Nội, 1999). Công trình đã đề cập đến các nội dung trong tư tưởng chính trị Hồ
Chí Minh, bao gồm: Hồ Chí Minh đã kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước Việt
Nam với chủ nghĩa quốc tế vô sản; kết hợp giữa đấu tranh giải phóng dân tộc
với giải phóng giai cấp, giải phóng con người; Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc
lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; Hồ Chí Minh với việc xây dựng
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008); “Vận dụng và phát triển sáng tạo tư
tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới” (Bùi Đình Phong, Nxb. Lao
động, Hà Nội, 2007); “Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí
Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (Mạch Quang Thắng, Nxb. Lao động,
Hà Nội, 2010); “Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng
Đảng trong thời kỳ đổi mới” (Bùi Đình Phong - Phạm Ngọc Anh (Đồng chủ
8
biên), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006); “Phát huy các nguồn lực của
dân, làm lợi cho dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh” (Phạm Ngọc Anh, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012). “Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh và
công cuộc đổi mới đất nước” (Nguyễn Thế Nghĩa - Nguyễn Thanh Bình
(Đồng chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000); “Tư tưởng Hồ Chí
Minh mãi mãi soi đường chúng ta đi” (Ngô Văn Thạo (Chủ biên), Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004); “Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với việc
giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay” (Hoàng Trang - Phạm Ngọc
Anh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008); “Giải phóng dân tộc và đổi mới
dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh” (Bùi Đình Phong, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2004); “Hồ Chí Minh - Nhà dự báo thiên tài” (Trần Dương,
Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2008); và những công trình khác.
Khi bàn về sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công cuộc đổi mới,
vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Phạm Văn Đồng có
công trình “Hồ Chí Minh - một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự
nghiệp” (Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1990), Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Chủ
nghĩa xã hội theo đặc điểm Việt Nam là sự kết thúc thắng lợi hành trình lịch
sử của dân tộc mà Hồ Chí Minh đã vạch ra từ đầu thế kỷ, là sự thực hiện trọn
vẹn Di chúc của Người, là đỉnh cao của sự nghiệp ba giải phóng của Việt
Nam, từ đó chân trời càng mở rộng cho đà tiến cao xa hơn nữa, trên con
thác, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai
đoạn mới.
Tác giả Mạch Quang Thắng có công trình “Vận dụng và phát triển
sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (Nxb. Lao
động, Hà Nội, 2010). Trong công trình này, tác giả khái quát một cách có hệ
thống những nội dung cơ bản, giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí
Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; tập trung làm rõ quan niệm của Người
về tính tất yếu khách quan, bản chất, đặc trưng, mục tiêu, động lực phát triển
của chủ nghĩa xã hội; quan niệm về những đặc điểm, phương thức quá độ lên
chủ nghĩa xã hội; nội dung, bước đi, biện pháp và các điều kiện bảo đảm
thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; từ đó khẳng định những sáng tạo
của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, công trình làm rõ quá trình
Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về
chủ nghĩa xã hội vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả
đưa ra những cơ sở lý luận – thực tiễn và kiến nghị vận dụng sáng tạo và phát
triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội vào điều kiện hiện nay, nhất
10
là đóng góp luận cứ cho việc tổng kết, bổ sung phát triển Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991).
Tác giả Bùi Đình Phong - Phạm Ngọc Anh đồng chủ biên công trình:
“Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong thời
kỳ đổi mới” (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006). Công trình đã khẳng
định, từ khi Đảng ta ra đời, tư tưởng Hồ Chí Minh đã tỏa sáng, soi đường cho
cách mạng Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, từ chính trị, quân sự, kinh tế đến
văn hóa, ngoại giao, v.v… Nhờ vậy, Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam
vượt qua bao khó khăn thử thách, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi
này đến thắng lợi khác. Trong những năm đổi mới, Đảng ta không những đã
nhiên, các tác giả chưa đi sâu phân tích và khái quát hóa những bài học có giá
trị đối với sự nghiệp phát triển, hoàn thiện hệ thống chính trị, trong đó có việc
xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; chưa làm rõ cơ chế
“Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - nhân dân làm chủ” trong bối cảnh đổi
mới và hội nhập quốc tế.
Như vậy, việc nghiên cứu Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh và Xây dựng
hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên
cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng chưa có công trình mang tính hệ
thống và chuyên sâu, tập trung nghiên cứu làm rõ Tư tưởng chính trị Hồ Chí
Minh với sự nghiệp xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay. Tuy
nhiên, những công trình tiêu biểu kể trên là những tài liệu quý báu để tác giả
tiếp thu, kế thừa trong luận án này.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận án
Mục đích:
Mục đích của luận án là trên cơ sở làm rõ nội dung và đặc điểm cơ bản
của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, đề xuất và luận chứng các giải pháp góp
phần xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ:
Để thực hiện mục đích trên, luận án phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
Một là, phân tích và khái quát những điều kiện và tiền đề hình thành tư
tưởng chính trị Hồ Chí Minh.
Hai là, phân tích những nội dung và đặc điểm cơ bản của tư tưởng
chính trị Hồ Chí Minh.
Ba là, đề xuất các giải pháp nhằm vận dụng tư tưởng chính trị Hồ Chí
Minh vào sự nghiệp xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay.
12
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
13
triển tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh gắn liền với các sự kiện lịch sử xuyên
suốt quá trình hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh.
- Luận án phân tích và trình bày một cách có hệ thống tư tưởng chính
trị Hồ Chí Minh. Trong đó làm nổi bật những nội dung cơ bản và đặc điểm
đặc sắc có ý nghĩa thời đại trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh.
- Trên cơ sở đó, luận án luận chứng những giải pháp vận dụng sáng tạo
tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh vào quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ
thống chính trị Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của luận án đã làm rõ những nội dung cơ bản của
tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh trên các mặt: tư tưởng về thể chế chính trị và
quyền lực chính trị; tư tưởng về hệ thống chính trị; tư tưởng về mục tiêu
chính trị và đường lối chính trị của cách mạng Việt Nam.
Ý nghĩa thực tiễn
Những nội dung cơ bản của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh là những
bài học bổ ích góp phần vào sự nghiệp xây dựng hệ thống chính trị ở Việt
Nam hiện nay. Kết quả nghiên cứu của luận án còn có thể sử dụng làm tài liệu
tham khảo cho công tác giảng dạy và nghiên cứu về Lịch sử tư tưởng, về tư
tưởng Hồ Chí Minh và xây dựng Đảng.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án
được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết, 24 tiểu tiết.
14
toàn bộ tình hình thế giới: “Sáu nước (Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,
Mỹ, Hà Lan) với tổng số dân là 320 triệu người, với diện tích 11 triệu km2
15
đang bóc lột hàng trăm dân tộc với một dân số 560 triệu người, với diện tích
35 triệu km2. Toàn bộ lãnh thổ của các thuộc địa rộng gấp 5 lần lãnh thổ của
chính quốc, còn dân số của các nước chính quốc bằng 3/5 số dân các nước
thuộc địa” [107, tr.277]. Nhân dân các nước thuộc địa bị tước hết mọi giá trị
văn hóa tinh thần, quyền lợi kinh tế và địa vị xã hội. Đối với bọn đế quốc thực
dân, “tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng
một xu” [167, tr.30].
Không chỉ đàn áp, bóc lột nhân dân ở các nước thuộc địa, bộ máy cai
trị của chủ nghĩa đế quốc và tay sai còn không từ bất cứ bất cứ thủ đoạn nào
để vơ vét của cải, công sức của nhân dân chính quốc. Bởi vậy, qua nhiều năm
bôn ba ở nước ngoài, Hồ Chí Minh đã nhận rõ tính chất tiêu cực của chế độ
chính trị tư sản, đó là “con đỉa hai vòi”, một vòi hút máu nhân dân thuộc địa,
một vòi hút máu nhân dân chính quốc. Người đã đi đến kết luận: chủ nghĩa tư
sản, đế quốc ở đâu cũng tàn bạo, bất công; người lao động ở đâu cũng bị đọa
đày, đau khổ, “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người:
giống người bóc lột và giống người bị bóc lột” [107, tr. 266]. Tuy nhiên,
chính sự áp bức của chủ nghĩa đế quốc đã khoét sâu những mâu thuẫn của
thời đại, thức tỉnh tinh thần đấu tranh của những con người cùng khổ trên toàn
thế giới. Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc đã gắn phong trào giải
phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phong trào công nhân lại với nhau
ngày một chặt chẽ. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc sang thế kỷ XX không
còn là hành động riêng rẽ của nước này chống lại sự xâm lược và thống trị
của nước khác như trước kia, mà đã trở thành cuộc đấu tranh chung của các
dân tộc thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân gắn liền với
Họ đã tìm thấy ở cuộc cách mạng Nga một tấm gương đấu tranh, một con
đường giải phóng thật sự cho dân tộc. Vì vậy, dưới ảnh hưởng to lớn của Cách
mạng tháng Mười và tấm gương đầy sức cổ vũ của nước Nga Xôviết, một làn
sóng đấu tranh đã dấy lên sôi nổi ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Phong
trào giải phóng dân tộc đã bước sang một thời kỳ phát triển mới với khí thế
đấu tranh mạnh mẽ hơn và ý thức giác ngộ sâu sắc hơn. Nét nổi bật trong
phong trào giải phóng của các dân tộc là vai trò của giai cấp công nhân ngày
càng tăng lên, trở thành một lực lượng chính trị quan trọng và đông đảo quần
chúng nhân dân, trước hết là công nhân và nông dân, ngày càng hướng về
nước Nga Xôviết, nhanh chóng tiếp thu những tư tưởng cách mạng của chủ
nghĩa Mác - Lênin. Hệ tư tưởng mới này đã tác động mạnh mẽ, làm thay đổi
tư duy của nhiều dân tộc, nhiều nhà tư tưởng, trong đó có nhà tư tưởng vĩ đại
17
của cách mạng Việt Nam - Hồ Chí Minh, tạo nên sự biến chuyển sâu sắc
trong tư duy chính trị của Người. Người nhận thức sâu sắc: “Giống như mặt
trời chói lọi, Cách mạng tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh
hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài
người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”
[118, tr. 300]. Từ đó, Hồ Chí Minh đã quyết định đi theo con đường cách
mạng tháng Mười Nga, con đường cách mạng vô sản để giải phóng dân tộc và
đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Sự thành công của Cách mạng tháng Mười Nga dẫn đến sự ra đời chế
độ xã hội chủ nghĩa, một chế độ xã hội mới, không còn nạn người bóc lột
người, xóa bỏ áp bức bất công, con người được tự do bình đẳng… đã trở thành
bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời hoạt động chính trị của Hồ Chí Minh.
Như vậy, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, hoàn cảnh lịch sử thế giới có
rất nhiều yếu tố tác động mạnh mẽ đến việc hình thành tư tưởng chính trị Hồ
lần thứ nhất và sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), chúng tiến
hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Đông Dương với số vốn
đầu tư trên quy mô lớn, tốc độ nhanh.
Về kinh tế, bên cạnh việc duy trì kinh tế nông nghiệp, thực dân Pháp
đẩy mạnh chính sách khai thác thuộc địa: Hình thành các đồn điền trồng lúa,
cao su... Khai thác vơ vét tài nguyên thiên nhiên (than đá, quặng, sắt, chì, cao
su…), nông sản (lúa gạo, hạt tiêu…), thủy hải sản… Nhưng thực dân Pháp
không du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức tư bản chủ nghĩa vào nước
ta, mà vẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến. Chúng kết hợp hai phương thức
bóc lột tư bản và phong kiến để thu lợi nhuận siêu ngạch dưới các hình thức
tô thuế nặng nề: “Chính sách thực dân ăn cướp, chẳng những đã tước đoạt
mất ruộng đất, của cải, đã xóa bỏ hết mọi quyền lợi, mọi quyền tự do - kể cả
quyền tự do thân thể của người dân bản xứ mà còn bắt họ phải nộp thuế về
những mảnh đất cằn cỗi còn lại trong tay họ, nộp thuế về nghề nghiệp sinh
sống của họ, nộp cả thuế không khí mà họ thở nữa” [107, tr. 408]. Chính vì
vậy, nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng
nề vào kinh tế Pháp.
Về chính trị, chúng đặt ách cai trị thực dân, thi hành chính sách chuyên
chế với bộ máy đàn áp nặng nề. Mọi quyền hành của đất nước đều thâu tóm
19
trong tay các viên quan cai trị người Pháp, từ toàn quyền Đông Dương, thống
đốc Nam Kỳ, khâm sứ Trung Kỳ, thống sứ Bắc Kỳ, công sứ các tỉnh, đến các
bộ máy quân đội, cảnh sát, toà án, nhà tù...; biến vua quan Nam triều thành bù
nhìn, tay sai. Chúng bóp nghẹt tự do, dân chủ, thẳng tay đàn áp, khủng bố,
dìm các cuộc đấu tranh của dân ta trong biển máu. Chúng tiếp tục thi hành
chính sách “chia để trị” rất thâm độc, chia nước ta làm ba kỳ, mỗi kỳ đặt một
chế độ cai trị riêng và nhập ba kỳ đó với Lào và Campuchia để lập ra liên