bộ đề thi thử THPT quốc gia môn văn 2016 có hướng dẫn chi tiết - Pdf 34

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA MÔN VĂN NĂM 2016 - ĐỀ SỐ 4
Phần I. Đọc - hiểu (3.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4
Con đê dài hun hút như cuộc đời. Ngày về thăm ngoại, trời chợt nắng, chợt râm. Mẹ bảo:
- Nhà ngoại ở cuối con đê.

Trên đê chỉ có mẹ, có con. Lúc nắng mẹ kéo tay con:
-

Đi nhanh lên kẻo nắng vỡ đầu ra.

Con cố. Lúc râm con đi chậm, mẹ mắng:
-

Đang lúc mát trời, nhanh lên kẻo nắng bây giờ!

Con ngỡ ngàng: Sao nắng, sao râm đều phải vội?
Trời vẫn nắng vẫn râm...
Mộ mẹ cỏ xanh, con mới hiểu: Đời, lúc nào cũng phải nhanh lên
(Theo vinhvien.edu.vn)
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của văn bản trên?
Câu 2.
“ Trên đê chỉ có mẹ, có con. Lúc nắng mẹ kéo tay co - Đi nhanh lên

kẻo nắng vỡ đầu ra. ”
Xác định biện pháp tu từ và hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng biện pháp đó?

Câu 3. Nêu nội dung chính của văn bản trên?
Câu 4. Viết một đoạn văn ngắn (3 - 5 câu) về bài học mà anh/chị rút ra từ văn bản trên?
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ câu 5 đến câu 7
Cuối năm nay, Cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ chính thức được thành lập, theo đó các quốc


Nội dung

Điểm

Đọc - hiểu văn bản:

3,0

Phương thức biểu đạt chính của văn bản: phương thức biểu cảm/ biểu

0,25

cảm.

2

Xác định biện pháp tu từ: biện pháp nói quá/cường điệu/thậm xưng.

0,5

Hiệu quả nghệ thuật: nắng vỡ đầu ra làm tăng sức gợi hình, gây ấn tượng
về cái nắng gay gắt.

3

Nội dung chính của văn bản: Những khó khăn, thử thách khắc nghiệt

0,25


7

- Cơ hội đối với lực lượng lao động Việt Nam: Có cơ hội tự do lao động

0,5

ở nhiều nước trong khu vực.
- Thách thức đối với lực lượng lao động Việt Nam: Trong quá trình hội
nhập, đòi hỏi cần phải có trình độ chuyên môn và khả năng ngoại ngữ đáp
ứng yêu cầu công việc.

II

Làm văn

7,0

1/II

“Người tinh thần mạnh dù đau khổ vẫn không hề phàn nàn, còn kẻ

3,0

tinh thần yếu thì phàn nàn dù không hề đau khổ”
Yêu cầu chung:
Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận xã hội
để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có
cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi
chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
Yêu cầu cụ thể:


[Lấy dẫn chứng cụ thể để chứng minh]
3.

Bình luận, mở rộng
-

Khẳng định ý chí, nghị lực và khát vọng phấn đấu có ý nghĩa vô cùng

quan trọng đối với cuộc sống của mỗi con người.

-

Rút ra bài học cho bản thân: Cần rèn luyện cho bản thân “tinh thần

mạnh” để vượt qua những khó khăn, gặt gái được thành công trong cuộc
sống.

0,5


Trong đời sống cá nhân, độc lập - tự do có ý nghĩa hết sức lớn lao khi ta
thực sự sống là chính mình.

3.

Đánh giá:
-

“Tuyên ngôn độc lập ” có thể coi là áng văn chính luận mẫu mực của

Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.
Và chúng tôi, một thứ quả trên đời
Bảy mươi tuổi mẹ mong ngày được hái
Tôi hoảng sợ, ngày bàn tay mẹ mỏi
Mình vẫn còn một thứ quả non xanh.
( Mẹ và Quả - Nguyễn Khoa Điềm).
Câu 1(0.5 điểm) : Bài thơ trên chủ yếu sử dụng phương thức biểu đạt nào?
Câu 2(0.5 điểm) : Nêu nội dung chính của bài thơ?
Câu 3(1.0 điểm) : Xác định biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong hai câu thơ
sau và nêu tác dụng nghệ thuật của biện pháp tu từ đó:
“Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
Còn những bí và bầu thì lớn xuống ”


Câu 4(1.0 điểm): Viết khoảng 5 đến 7 dòng bộc lộ cảm xúc của em khi đọc hai câu
thơ cuối bài?
Phần II: Làm văn (7,0 điểm)
Câu 1 (3,0 điểm):
Em sẽ chọn nghề gì trong tương lai? Trình bày quan điểm của em về việc lựa
chọn nghề nghiệp cho bản thân?
Câu 2 (4,0 điểm):
Cảm nhận về vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên và con người qua đoạn
thơ sau:
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

non xanh” , bằng nghệ thuật nói giảm nói tránh „mỏi” và biện pháp ẩn dụ “
quả non xanh”, tác giả thể hiện nỗi niềm lo lắng đến hốt hoảng khi nghĩ đến
một ngày mẹ tuổi đã già mà mình vẫn chưa đủ khôn lớn, trưởng thành, vẫn là
“ một thứ quả non xanh”, chưa thể thành “trái chín” mẹ mong.
Qua lời tâm sự của tác giả khi nghĩ về mẹ, tự trong lòng mỗi chúng ta
dấy lên lòng kính yêu vô hạn đối với cha mẹ và mỗi người đều tự nhủ phải
sống sao cho xứng đáng với công lao sinh thành, dưỡng dục của mẹ cha.
Làm văn
Câu 1: Em sẽ chọn nghề gì trong tương lai? Trình bày quan điểm của em

Điểm


0,5
0.5

0.5

0.5

0.5

0.5



về việc lựa chọn nghề nghiệp cho bản thân?
Yêu cầu nêu được những ý cơ bản sau:
a.Mở bài: Dẫn dắt, đưa ra vấn đề cần nghị luận:
- Với HS lớp 12 - những HS cuối cấp, chúng ta sắp phải đưa ra một quyết

dẫn chứng)
+ Phải phù hợp với năng lực và niềm say mê, sở thích của bản thân
+ Có đủ các điều kiện để có thể theo học nghề mà mình chọn: (Chiều cao,
sức khỏe, tài chính, lý lịch ….)
+ Không nên chạy theo những công việc thời thượng bởi nhu cầu xã hội biến
đổi không ngừng, không chọn nghề theo sở thích của người khác.
+ Khi đã chọn được nghề thì phải có ý thức trau dồi nghề nghiệp của mình
–> Giỏi nghề sẽ không bao giờ lo thất nghiệp mà ngược lại sẽ có cuộc sống
sung túc, ổn định “ nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”.
- Em sẽ chọn nghề gì? Lý do vì sao lại chọn nghề đó? (HS tự do trình bày tuy
nhiên phải mang ý nghĩa tích cực, phù hợp với đạo đức và sự tiến bộ của xã
hội)
* Bài học nhận thức và hành động:
- Mỗi người cần nhận thức được khả năng thật sự của bản thân để lựa chọn
0.5
nghề nghiệp cho phù hợp.
- Khi lựa chọn nghề nghiệp chúng ta cần có sự kết hợp hài hoà giữa năng lực
và sở thích. Trong đó năng lực đóng vai trò quyết định.
0.25
c. KL: Khái quát lại vấn đề …

Câu 2: Cảm nhận về vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên và con người qua
đoạn thơ sau:
Gợi ý trả lời:
1/ Yêu cầu về kỹ năng:
Học sinh biết cách làm bài văn nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích
thơ.
Kết cấu chặt chẽ, bố cục rõ ràng, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính



=> Vẻ đẹp đặc trưng của mùa xuân VB.
+ Hè về: Một tiếng ve kêu khiến không gian xao động, cảnh vật như
chuyển động. Tiếng ve như hiệu lệnh khiến rừng Phách đột ngột “đổ” vàng.
Sự chuyển mùa được biểu hiện qua sự chuyển màu trên thảo mộc cỏ cây. Sắc
“vàng” - đặc trưng của mùa hè VB -> Cảm nhận độc đáo.
+ Mùa thu: Nói tới mùa thu không thể thiếu trăng thu. Tác giả cảm nhận
ánh trăng tràn trên những cánh rừng, rọi qua vòm lá đem đến vẻ đẹp của sự
thanh bình … Trăng + tiếng hát -> lãng mạn
- Vẻ đẹp của con người: Bức tứ bình về vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn con
1.0
người
+ Đó là những con người khỏe khoắn, tự tin, làm chủ thiên nhiên, núi rừng.
+ Con người khéo léo cần mẫn trong công việc.
+ Con người chịu thương, chịu khó, nhưng cũng rất duyên dáng dịu dàng
+ Con người ân tình và rất mực thủy chung.


=> Nỗi nhớ đằm sâu nhất, gốc rễ của mọi nỗi nhớ là vẻ đẹp con người VB.
NGHỆ THUẬT: - Bút pháp tả cảnh (giàu chất hội họa, sự phối hợp hài hòa
từ đường nét, màu sắc, ánh sáng…) tả người độc đáo tài hoa (con người hiện
lên với vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn). Không sử dụng bút pháp ước lệ, tác giả
sử dụng bút pháp tả thực đem đến một cảm nhận thực, cảm xúc thực cho
người đọc. Sự đan xen giữa cảnh và người khiến bức tranh sinh động, ấm áp,
hài hòa.
- Âm hưởng chung của đoạn thơ là nỗi nhớ nhung tha thiết: Điệp từ “nhớ”
- Nhịp thơ lục bát nhịp nhàng, uyển chuyển, êm đềm như khúc hát dân ca.
Đoạn thơ giàu tính tạo hình, giàu âm hưởng, cấu trúc hài hòa, cân đối, đậm
chất trữ tình => Góp phần thể hiện tấm lòng, tình cảm gắn bó, mến yêu của
người cán bộ kháng chiến đối với thiên nhiên và con người Việt Bắc.
c/ KL: Đánh giá khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật đoạn thơ và tài năng

(Tiếng Việt, Lưu Quang Vũ - Thơ tình, NXB Văn học 2002)
1. Các phương thức biểu đạt của đoạn thơ trên là gì ?
2. Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ:
Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa
Óng tre ngà và mềm mại như tơ.
3. Nêu ngắn gọn nội dung của đoạn thơ.
4. Viết một đoạn văn (5 đến 7 dòng) bày tỏ suy nghĩ của anh (chị) sau khi đọc câu
thơ: Tiếng Việt ơi tiếng Việt ân tình.
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 5 đến 8:
(1) Có thể sẽ có nhiều, rất nhiều người không tin. Làm sao để tin được bởi vì
chữ “nghề” được hiểu là công việc để kiếm sống, tức là có thu nhập để chăm lo
cho cuộc sống bản thân, gia đình. Nên nói làm từ thiện là “đi cho” chứ ai lại “cá
kiếm” bao giờ.
1


(2) Chuyện tưởng nghe chừng vô lý, là khó xảy ra, nhưng nó lại là sự thật,
thậm chí xuất hiện nhan nhản cứ như “nấm mọc sau mưa” trên… mạng xã hội
Facebook. Mạng thì tưởng là ảo, nhưng chuyện là thật và tiền là thật của trò kiếm
sống bằng nghề “làm từ thiện” online.
… (3) Ăn chặn tiền từ thiện của các nhà hảo tâm dành cho những số phận, những
mảnh đời kém may mắn là một trong những điều độc ác. Thế nên ai đang nghĩ,
đang suy tính hay đang lọc lừa bằng cách “lấy từ thiện làm nghề mưu sinh”, ắt
hẳn chưa bao giờ có được một giấc ngủ trọn vẹn. Họ mới chính là những người
đáng thương hơn cả những người có số phận không may, kém may mắn, phải
không các bạn?
(Theo Blog - Dantri.com.vn, 18/12/2015)
5. Văn bản trên thuộc kiểu phong cách ngôn ngữ nào?
6. Chỉ ra giọng điệu và thái độ của tác giả trong đoạn (1).
7. Thao tác lập luận trong đoạn (3) là gì?

trong việc vận dụng đáp án và thang điểm; khuyến khích những bài viết có tư duy
khoa học, lập luận sắc sảo, có khả năng cảm thụ văn học và tính sáng tạo cao.
- Sau khi chấm xong, điểm toàn bài làm tròn đến 0,25 điểm.
II. ĐÁP ÁN
PHẦN

CÂU

NỘI DUNG

ĐIỂM
ĐỌC HIỂU

1

Những phương thức biểu đạt của đoạn thơ: Biểu cảm, tự sự, miêu tả

0,25

- Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ: So sánh

0,25

- Nêu tác dụng: Biện pháp so sánh được sử dụng khiến hai câu thơ trở
2

nên mềm mại, cuốn hút. So sánh tiếng Việt với đất cày, lụa, tre ngà,

0,25



0,25

6

- Giọng điệu: Mỉa mai, châm biếm .

0,25

- Thái độ: Bất bình, khinh miệt,…

0,25

7

Thao tác lập luận trong đoạn (3) : Bình luận

0,25

8

+ Ăn chặn tiền từ thiện của các nhà hảo tâm dành cho những số phận,

0,25

những mảnh đời kém may mắn: Chủ ngữ
+ là một trong những điều độc ác: Vị ngữ
- Thuộc kiểu câu đơn

0,25

4


- Gập máy tính lại, tắt điện thoại đi. Hãy giao tiếp nhiều hơn với xã
II

hội và tận hưởng cuộc sống thực tại là một thông điệp giàu ý nghĩa,
giúp con người thoát ra khỏi cuộc sống ảo và sống với cuộc đời thực.
* Phân tích thực trạng, nguyên nhân, tác động của hiện tượng
- Con người trong thời đại ngày nay đang sống trong một thế giới số,

0,5

nơi mọi hoạt động từ những sinh hoạt thường ngày đến những sự kiện
đặc biệt, từ công việc đến vui chơi giải trí, chúng ta đều tự gắn chặt
với thế giới số. Mạng xã hội đã trở thành một phần của đời sống hiện
đại, nhất là giới trẻ.
- Vì sao con người đắm chìm trong thế giới ảo? Vì cuộc sống ảo luôn

0,25

chứa đựng nhiều điều bất ngờ, thú vị nên con người dễ bị cuốn hút về
phía ấy...
- Đắm chìm trong thế giới ảo để lại hậu quả rất nghiêm trọng với cuộc

0,25

sống thực của con người: Họ không quan tâm tới thế giới thực tại
quanh mình. Cuộc sống của họ diễn ra trên Facebook, Twitter,
Youtube… họ tự cô lập mình với thế giới thực, nhiều hậu quả đau

0,25

d. Sáng tạo
Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn
đề nghị luận.

0,25

e. Chính tả, dùng từ, đặt câu
Đảm bảo đúng nguyên tắc về chính tả, dùng từ, đặt câu.
Dùng hiểu biết về tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông của
2

Hoàng Phủ Ngọc Tường để làm sáng tỏ ý kiến:

4.0

Sông Hương mang vẻ đẹp đầy nữ tính và rất mực đa tình.
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận

0,25

Có đủ mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề. Thân bài
triển khai được vấn đề. Kết bài kết luận được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận

0,25

Vẻ đẹp đầy nữ tính và rất mực đa tình của sông Hương.
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt


dạ, tâm hồn tự do và trong sáng. Khi là người mẹ phù sa của một
vùng văn hoá xứ sở với một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ.
+ Khi là một người con gái đẹp ngủ mơ màng. Khi là người tài nữ

0,25

đánh đàn lúc đêm khuya. Khi được ví như là Kiều, rất Kiều. Khi là
người con gái Huế với sắc màu áo cưới vẫn mặc sau tiết sương giáng.
=> Dù ở bất kỳ trạng thái tồn tại nào, sông Hương trong cảm nhận
của Hoàng Phủ Ngọc Tường vẫn đầy nữ tính, xinh đẹp, hiền hòa, dịu
dàng, kín đáo nhưng không kém phần mãnh liệt...
- Rất mực đa tình :
7

0,25


ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA MÔN VĂN NĂM 2016 – ĐỀ SỐ 5
Phần 1. Đọc hiểu (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau đây và thực hiện các yêu cầu:
“Bạn có thể không thông minh bẩm sinh nhưng bạn luôn chuyên cần và vượt qua bản
thân từng ngày một. Bạn có thể không hát hay nhưng bạn là người không bao giờ trễ hẹn.
Bạn không là người giỏi thể thao nhưng bạn có nụ cười ấm áp. Bạn không có gương mặt
xinh đẹp nhưng bạn rất giỏi thắt cà vạt cho ba và nấu ăn rất ngon. Chắc chắn, mỗi một
người trong chúng ta đều được sinh ra với những giá trị có sẵn. Và chính bạn, hơn ai hết,
trước ai hết, phải biết mình, phải nhận ra những giá trị đó.”
(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn...- Phạm Lữ Ân)
Câu 1. Gọi tên phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. (0,5 điểm)
Câu 2. Xác định câu văn nêu khái quát chủ đề của đoạn. (0,5 điểm)

rằng: Đó là một người phụ nữ liều lĩnh, thiếu lòng tự trọng. Ý kiến khác thì khẳng định:
Đó là một người phụ nữ tự trọng, có ý thức về phẩm giá của mình.
Từ cảm nhận của mình về hình tượng nhân vật người vợ nhặt, anh/chị hãy bình
luận các ý kiến trên.

ĐÁP ÁN ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA MÔN VĂN NĂM 2016 – ĐỀ SỐ 5
Câu

Ý

Nội dung

Điểm

Đọc các văn bản và trả lời câu hỏi:

I
1.

Phương thức nghị luận.

2.

Câu "Chắc chắn, mỗi một người trong chúng ta đều được sinh ra với 0,5

0,5

những giá trị có sẵn". Có thể dẫn thêm câu: Và chính bạn, hơn ai hết,
trước ai hết, phải biết mình, phải nhận ra những giá trị đó.
3.


0,25

và cô đơn;...
II
1.

Phải biết nói lời xin lỗi?

3,0

Giải thích ý kiến:

0,5

- Cách hiểu về lời xin lỗi: lời xin lỗi là lời xin được nhận lỗi về phần
mình khi cảm thấy mình có lỗi và cũng là lời xin được bỏ qua lỗi lầm
đó.
- Khi nhận ra mình có lỗi, cần phải biết nói lời xin lỗi đối với người
mình đã phạm lỗi.
2.

Bàn luận:

2,0

- Thí sinh có thể đề cập đến các khía cạnh liên quan đến việc xin lỗi.
Chẳng hạn như:
+ Biết nói lời xin lỗi là biết tự trọng, biết phục thiện và biết tôn trọng
người khác.

của Kim Lân: Đó là một người phụ nữ liều lĩnh, thiếu lòng tự
trọng hay Đó là một người phụ nữ tự trọng, có ý thức về phẩm giá
của mình?
1.

Vài nét về tác giả, tác phẩm:

0,5

- Kim Lân là một cây bút có sở trường truyện ngắn, có nhiều trang
viết cảm động về đề tài nông thôn và người nông dân. Văn phong của
ông giản dị mà thấm thía.
- Tiền thân của truyện ngắn Vợ nhặt là tiểu thuyết Xóm ngụ cư, viết
sau khi Cách mạng tháng Tám thành công nhưng còn dang dở, sau đó
bị lạc mất bản thở. Sau hòa bình lập lại 1954, Kim Lân dựa một phần
cốt truyện cũ để viết truyện "Vợ nhặt".
2.

Giải thích các ý kiến:

0,5

- Ý kiến thứ nhất: cho rằng nhân vật người vợ nhặt là một người phụ
nữ liều lĩnh, thiếu lòng tự trọng. Ý kiến trên có lẽ đã căn cứ vào một
thực tế của truyện là người phụ nữ trong truyện đã theo không nhân
vật Tràng chỉ sau hai lần gặp, nghe ba câu nói đùa, ăn bốn bát bánh
đúc ...
- Ý kiến thứ hai: khẳng định nhân vật người vợ nhặt là một người phụ
nữ tự trọng, có ý thức về phẩm giá. Có lẽ người bảo vệ ý kiến này đã
nghiêng về góc độ nhìn nhân vật như là một nạn nhân của nạn đói,

người dân ngụ cư thị ngượng nghịu, thiếu tự tin: “chân nọ bước díu
cả vào chân kia… cái nón rách tàng che nửa khuôn mặt”. - Về đến nhà chồng, nhìn thấy“ngôi nhà vắng teo đứng rúm ró trên
mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại”, thị “nén một tiếng thở
dài”. Trong tiếng thở dài đó vừa có sự lo lắng cho tương lai ngày
mai, vừa có cả những lo toan và trách nhiệm của thị về gia cảnh nhà
chồng. Đó phải chăng là thị đã ý thức được trách của mình đối với
việc cùng chồng chung tay gây dựng gia đình?
- Vào trong nhà, thị e thẹn, dè dặt “ngồi mớm” vào mép
giường (“Ngồi mớm” – thế ngồi bấp bênh, không ổn định nhưng
cũng rất ý tứ). Thị ý tứ, cung kính, lễ phép chào bà cụ Tứ (chào đến
hai lần). Đây là hình ảnh đẹp của người con dâu rất mực thước trong
quan hệ với mẹ chồng.
* Trong bi thảm, nhân vật người vợ nhặt vẫn âm thầm nuôi dưỡng 0,5
niềm khát khao cuộc sống gia đình, niềm mong mỏi chính đáng về
cuộc sống ngày mai.
- Thị dậy rất sớm cùng mẹ chồng dọn dẹp, thu vén nhà cửa.
- Trong bữa cơm đầu tiên tại gia đình chồng, dù bữa ăn chỉ có “niêu
cháo lõng bõng, mỗi người được lưng hai bát đã hết nhẵn”, lại phải
ăn cháo cám nhưng thị vẫn vui vẻ, bằng lòng.
- Thị đã đem sinh khí, thông tin mới mẻ về thời cuộc cho mẹ con


Tràng qua câu chuyện về những người đi phá kho thóc của Nhật.
4.

Bình luận về các ý kiến:
- Cả hai ý kiến đều có cơ sở dù cách đánh giá về nhân vật có sự trái
ngược nhau. Ý kiến thứ nhất thiên về hiện tượng, về biểu hiện của
nhân vật. Ý kiến thứ hai vẫn có cơ sở từ biểu hiện và hành động nhân
vật nhưng đã có sự lưu ý về bản chất nhân vật.

đều an toàn và chàng trai vẫn ngủ ngon lành.
Giờ thì người chủ đã hiểu lời của chàng trai trước kia: “Tôi vẫn ngủ được khi trời
giông bão”.
Bởi trước giờ anh luôn thực hiện công việc của mình một cách [.....................] nên
anh chẳng cần phải lo lắng gì mà vẫn có thể tránh được những biến cố khi cơn bão ập tới.
(Trích Hạt giống tâm hồn – NXB Tổng hợp TPHCM)
Câu 1. Điền 1 trong các từ sau vào chỗ trống [.....] sao cho phù hợp : có mục tiêu/ có mục
đích/ có kế hoạch. (0,25 điểm)
Câu 2: Xác định phong cách ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn trích trên. (0,25 điểm)
Câu 3. Câu trả lời của chàng trai “Tôi vẫn ngủ được khi trời giông bão” có hàm ý gì?
(0.25 điểm)
Câu 4. Nêu chủ đề chính của câu chuyện.(Trả lời trong khoảng 5-7 dòng) (0,5 điểm)
Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:
Đây bát ngát Trường Sơn nằm ở giữa
Hai chị em Lào - Việt hai bên

1



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status