ĐỀ TÀI: Tìm hiểu về sự hình thành và phát triển của các Ngân hàng Thương mại ở
Việt Nam
I.
Khái quát sự ra đời của NHTM ở VN
Trước 1990, hệ thống ngân hàng Việt Nam là hệ thống một cấp, không có sự tách biệt
giữa chức năng quản lý và chức năng kinh doanh. Ngân hàng nhà nước (NHNN) vừa
đóng vai trò Ngân hàng Trung ương (NHTW) vừa là Ngân hàng thương mại (NHTM).
Đến năm 1990, do nhu cầu cải tổ hệ thống chuyển đổi từ cơ chế quản lý kinh doanh xã
hội chủ nghĩa sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước trong chủ trương phát
triển nền kinh tế đa thành phần. Do vậy, lịch sử ra đời cũng như phát triển của ngân hàng
thương mại ở Việt Nam có mối liên hệ mật thiết với sự ra đời của Ngân hàng nhà nước
Việt Nam. Có thể nói, lịch sử hình thành ngân hàng ở Việt Nam đã bắt đầu từ rất sớm, và
có thể tóm tắt theo các giai đoạn dưới đây:
1. Giai đoạn 1945-1951
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, tình hình tài chính - tiền tệ của chính quyền cách
mạng gặp vô vàn khó khăn: Kho bạc chỉ còn hơn 1,25 triệu đồng Đông Dương, trong đó
một nửa là tiền rách; Ngân hàng Đông Dương vẫn nằm trong tay tư bản thực dân và luôn
tìm cách phá hoại ta về tài chính, tiền tệ; các nguồn thu ngân sách quá ít ỏi so với nhu cầu
chi tiêu của chính quyền… Trước tình hình đó, Chính phủ đã kêu gọi nhân dân quyên
góp tài chính dưới các hình thức như “Quỹ độc lập”, “Tuần lễ vàng”, đồng thời gấp rút
chuẩn bị phát hành tiền.
Để phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế kháng chiến, Chính phủ cho thành lập 3 khu
vực tiền tệ và cho phép phát hành các đồng tiền khu vực. Nhiều biện pháp đã được áp
dụng để tạo nguồn thu cho ngân sách, như: phát hành Công phiếu kháng chiến, Công trái
quốc gia… Ngày 3/2/1947, Nha tín dụng sản xuất, tổ chức tín dụng đầu tiên ở nước ta
được thành lập với nhiệm vụ giúp vốn cho nhân dân phát triển sản xuất, hạn chế cho vay
nặng lãi ở nông thôn, làm hậu thuẫn cho chính sách giảm tức và hướng dẫn nhân dân đi
vào con đường làm ăn tập thể.
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, nước ta bước sang một thời kỳ mới: thời kỳ hoà
bình, độc lập, thống nhất, cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đảng và Nhà nước đã đề
ra nhiều chủ trương, chính sách để khôi phục và phát triển kinh tế-xã hội sau chiến tranh.
Ngành Ngân hàng đã khẩn trương tiếp quản và cải tạo hệ thống ngân hàng của chế độ cũ
ở miền Nam, xây dựng hệ thống ngân hàng mới của chính quyền cách mạng, thực hiện
thống nhất tiền tệ trong cả nước; ban hành và thực hiện nhiều biện pháp về tiền tệ, tín
dụng, quản lý ngoại hối, thanh toán để góp phần ổn định tình hình kinh tế và lưu thông
tiền tệ, đáp ứng nhu cầu vốn và tiền mặt cho sản xuất, quốc phòng, an ninh và đời sống
kinh tế - xã hội; mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế cho
công cuộc tái thiết đất nước.
Tuy đạt được một số kết quả tích cực trong khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội,
song do hậu quả của chiến tranh kéo dài, cộng với việc duy trì quá lâu cơ chế kế hoạch
hóa tập trung đã khiến kinh tế nước ta rơi vào tình trạng suy thoái nặng nề, bội chi ngân
sách ở mức cao trong nhiều năm, lạm phát có lúc ở mức 3 con số, hoạt động sản xuất, lưu
thông phân phối và đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn.
II.
Quá trình phát triển của các NHTM
1. Thời kỳ trước 2007
Giai đoạn 1954 - 1964
Hòa bình lập lại, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam tiến hành thu hồi tiền địch ở vùng
mới giải phóng, thiết lập thị trường tiền tệ thống nhất trên Miền Bắc. Mạng lưới ngân
hàng được mở rộng tới các huyện, quận, thị xã; đội ngũ cán bộ được tăng cường, nâng
cao trình độ. Ngày 26/10/1961, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được đổi tên thành Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam.
Hoạt động tín dụng được đẩy mạnh để đáp ứng yêu cầu khôi phục kinh tế, phục vụ
Là giai đoạn khôi phục kinh tế sau chiến tranh giải phóng và thống nhất nước
nhà. Nhiệm vụ cụ thể của ngành Ngân hàng là tiến hành thiết lập hệ thống Ngân hàng
thống nhất trong cả nước và thanh lý hệ thống Ngân hàng của chế độ cũ ở miền Nam.
Theo đó, Ngân hàng Quốc gia của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã được quốc hữu
hóa và sáp nhập vào hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cùng thực hiện nhiệm vụ
thống nhất tiền tệ trong cả nước, phát hành các loại tiền mới của nước Cộng hòa Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam, thu hồi các loại tiền cũ ở cả hai miền Nam- Bắc vào năm 1978.
Trong giai đoạn này, hệ thống Ngân hàng Nhà nước về cơ bản vẫn hoạt động như là một
công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị
trường.
Thực hiện chủ trương cải tiến và mở rộng tín dụng ngân hàng theo Quyết định
32/CP ngày 11/2/1977 của Hội đồng Chính phủ, Tổng giám đốc NHNN đã ban hành Thể
lệ cho vay vốn lưu động và quy định về cho vay đầu tư xây dựng cơ bản đối với các xí
nghiệp quốc doanh.
Hoạt động tín dụng bước vào thời kỳ cải tiến mạnh mẽ và mở rộng các loại cho
vay, trước hết là đối với khu vực kinh tế quốc doanh. Hệ thống thanh toán thống nhất
trong cả nước được thiết lập; tình trạng công nợ dây dưa giữa các doanh nghiệp, tổ chức,
đơn vị được giải quyết đáng kể. Quan hệ tín dụng và thanh toán quốc tế với các nước
XHCN được tăng cường.
Tháng 5/1977, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tham gia Ngân hàng Đầu tư quốc
tế (MIB), Ngân hàng hợp tác kinh tế quốc tế (MBES).
Để thống nhất tiền tệ trên cả nước, ngày 1/4/1978, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số
08/NQ-TW về việc phát hành tiền ngân hàng mới, thu hồi tiền cũ ở cả hai miền. Ngày
2/5/1978, Ngân hàng Nhà nước bắt đầu phát hành tiền mới, thu hồi tiền cũ trên cả nước.
Tuy đạt được một số kết quả tích cực trong khôi phục và phát triển kinh tế - xã
hội, song do hậu quả của chiến tranh kéo dài, cộng với việc duy trì quá lâu cơ chế kế
hoạch hóa tập trung đã khiến kinh tế nước ta rơi vào tình trạng suy thoái nặng nề, bội chi
ngân sách ở mức cao trong nhiều năm, lạm phát có lúc ở mức 3 con số, hoạt động sản
khai mạnh mẽ, nền kinh tế chuyển dần từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị
trường định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước và từng bước hội nhập kinh tế
quốc tế.
Hệ thống Ngân hàng cũng từng bước đổi mới và phát triển, hoàn thiện về mô hình
tổ chức, thể chế pháp lý, công nghệ và dịch vụ ngân hàng. Mô hình ngân hàng một cấp
chuyển thành mô hình ngân hàng hai cấp, tách bạch dần chức năng quản lý nhà nước của
Ngân hàng Nhà nước với chức năng kinh doanh tiền tệ tín dụng của các TCTD.
Hệ thống các TCTD có bước phát triển mạnh cả về quy mô và mạng lưới, loại
hình sở hữu, công nghệ, dịch vụ, ngày càng đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển
kinh tế xã hội, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Sau một thời gian tiến hành làm thử việc chuyển hoạt động ngân hàng sang kinh
doanh XHCN, ngày 26/3/1988 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 53/HĐBT với
định hướng cơ bản là “chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh”. Tổ
chức, bộ máy của Ngân hàng Nhà nước được kiện toàn, sắp xếp lại để thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng, đồng thời làm chức năng ngân hàng của các
ngân hàng; các ngân hàng chuyên doanh thực hiện nhiệm vụ kinh doanh tín dụng và dịch
vụ ngân hàng.
Theo đó, bốn ngân hàng chuyên doanh được thành lập trên cơ sở chuyển và tách ra
từ Ngân hàng Nhà nước, gồm: Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển
nông nghiệp, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam.
Tháng 5/1990, Hội đồng Nhà nước thông qua 2 Pháp lệnh Ngân hàng. Hệ thống
ngân hàng bắt đầu quá trình chuyển đổi mạnh mẽ, căn bản và toàn diện phù hợp với chủ
trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của Đảng, Nhà nước.
Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện chính sách lãi suất dương, kết hợp sử dụng các
công cụ gián tiếp với công cụ kiểm soát trực tiếp trong điều hành chính sách tiền tệ; hình
thành các thị trường tiền tệ; bước đầu hiện đại hóa công nghệ và tăng cường đào tạo
nguồn nhân lực cho việc vận hành hệ thống ngân hàng mới. Vốn tín dụng được mở rộng
đại được nâng cao
- Thể chế kinh tế thị trường đã được xác lập và ngày càng hoàn thiện
•
Các yếu tố tác động trực tiếp:
Gia nhập WTO đã làm cho áp lực cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng gia tăng, và đây
cũng là động lực buộc các ngân hàng trong nước có sự chuyển mình mạnh mẽ,
- Quy mô tổng tài sản và năng lực hoạt động của hệ thống ngân hàng trên cả nước nói
chung và các ngân hàng trên địa bàn TP.HCM nói riêng liên tục tăng trưởng và phát triển
- Việc đầu tư và ứng dụng công nghệ tin học ngân hàng ngày càng được đẩy mạnh và
phát triển,
- Chất lượng nguồn nhân lực, trình độ quản trị ngân hàng, tính chuyên nghiệp trong
hoạt động quản lý, kinh doanh từng bước được nâng cao.
Các tác động tiêu cực
- Cạnh tranh trong ngành ngân hàng trở nên gay gắt và quyết liệt hơn, trong đó cạnh
tranh trong hoạt động tín dụng vẫn là cạnh tranh cơ bản, làm phát sinh những hệ lụy
gây bất ổn định trên thị trường tiền tệ
- Rủi ro hệ thống gia tăng và tần suất xuất hiện nhiều hơn,
- Thị trường vốn của Việt Nam chưa phát triển, gánh nặng cung ứng vốn cho nền
kinh tế vẫn đặt lên vai hệ thống ngân hàng, trong khi các chính sách vĩ mô của Việt Nam
lại chịu tác động từ việc hội nhập kinh tế quốc tế
- Cơ cấu nguồn vốn chưa hợp lý, mặc dù tổng huy động vốn của toàn ngành tăng,
song nguồn vốn trung và dài hạn vẫn hạn chế, trên 90% tỷ trọng vốn của ngân hàng hiện
nay là nguồn vốn ngắn hạn, gây khó khăn cho các ngân hàng thương mại trong việc quản
trị nguồn vốn, khó đảm bảo cân đối kỳ hạn
- Các ngân hàng thương mại VN đầu tư quá nhiều vào doanh nghiệp nhà nước, trong
tổng tài sản trên 100 nghìn tỷ VND. Tổng vốn điều lệ của các NHTMCP ở Việt Nam đạt
trên 160 nghìn tỷ VND tại thời điểm 30/12/2012, lớn gấp đôi so với con số 75 nghìn tỷ
VND ở khu vực NHTMNN. Số lượng các NHTMCP áp đảo số lượng NHTMNN nhưng
tính riêng vốn điều lệ của từng NHTMCP lại thấp hơn rất nhiều so với vốn điều lệ của
một NHTMNN. Cụ thể, một nửa số NHTMCP có số vốn điều lệ dưới 4.000 tỷ VND và
chỉ có bốn NHTMCP bao gồm NHTMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (EIB), NHTMCP
Sài Gòn Thương Tín (STB), NHTMCP Sài Gòn (SCB) và NHTMCP Quân đội (MBB) có
số vốn điều lệ trên 10.000 tỷ VND. Ngân hàng nhỏ nhất ở khu vực NHTMNN trừ MHB
có số vốn điều lệ trên 23.000 tỷ VND trong khi EIB, NHTMCP lớn nhất, chỉ có 12.355 tỷ
đồng vốn điều lệ. Sáu trong 34 NHTMCP là công ty đại chúng bao gồm EIB, STB, MBB,
NTMCP Á Châu (ACB), NHTMCP Sài Gòn (SHB) và NHTMCP Nam Việt (NVB).
NHTMCP là nhóm ngân hàng có nhiều thương vụ mua bán sáp nhập (M&A) diễn ra nhất
trong toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam. Trong khoảng thời gian trước năm 2005, phần
lớn các thương vụ M&A diễn ra giữa các ngân hàng trong nước với nhau. Khi đó, rất
nhiều ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn đã được mua lại và sáp nhập. NHTMCP
Phương Nam đã mua lại các ngân hàng: NHTMCP Nông thôn Đồng Tháp, Ngân hàng
Châu Phú, Ngân hàng Đại Nam và Ngân hàng Cái Sắn. STB mua Ngân hàng Nông thôn
Thanh Thắng, và NHTMCP Phương Tây mua Ngân hàng Nông thôn Tây Đô. Từ sau năm
2005, các hoạt động M&A ở khu vực NHTMCP đã thay đổi nhờ sự tham gia của các nhà
đầu tư trong nước và đặc biệt là các đối tác nước ngoài đầu tư vốn vào ngân hàng và trở
thành nhà đầu tư chiến lược. Sự tham gia của các đối tác nước ngoài ở các NHTMCP đã
thực sự trở thành xu hướng ngày càng gia tăng ở ngành ngân hàng Việt Nam. Việc tham
gia vào các NHTMCP sẽ giúp các nhà đầu tư nước ngoài tiết kiệm thời gian và chi phí
khi lần đầu bước chân vào một thị trường mới và đổi lại, các NHTMCP sẽ nhận được
không chỉ vốn mà còn có sự hỗ trợ chuyên môn và kỹ thuật tốt hơn từ những nhà đầu tư
chiến lược này.
•
Ngân hàng nước ngoài
(CAGR) ở mức 10,21%, thấp nhất trong nhóm. Ở nhóm NHTMCP, chỉ có ACB tăng
trưởng thấp hơn 20% một năm, các ngân hàng còn lại đều tăng trưởng nhanh với tỷ lệ
CAGR hơn 40%. Các ngân hàng có con số ấn tượng nhất là SHB và VPB với tỷ lệ
CAGR lần lượt là 69% và 53%. Tuy nhiên khi nhìn vào tỷ lệ CAGR từ năm 2011 đến
Quý 3/2013, con số này đã giảm mạnh xuống chỉ còn 4,6% trên toàn hệ thống, cụ thể là
10,8%, -1% và 7,6% lần lượt ở các nhóm NHTMNN, NHTMCP, NH nước ngoài. Nhóm
NHTMNN tuy tăng trưởng chậm hơn so với những năm trước đó nhưng vẫn thành công
khi tiếp tục tăng trưởng trong một năm đầy khó khăn như năm 2012. Trong khi đó, tài
sản của một vài NHTMCP đã bốc hơi như ACB, EIB và MSB, cụ thể hơn ACB đã bị
giảm đi một phần ba giá trị tài sản. Tỷ lệ tăng trưởng cao nhưng thiếu bền vững của một
vài NHTMCP là một biểu hiện của mức độ rủi ro cao hơn ở nhóm ngân hàng này. Mặc
dù đã tăng trưởng vượt bậc, so với các ngân hàng trong khu vực, các ngân hàng Việt Nam
vẫn còn rất khiêm tốn về quy mô tài sản.
Tăng trưởng vốn
Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã trải qua ba lần thay đổi quy định về vốn điều lệ qua
việc ban hành Quyết định 67/QĐ-NH5 (ban hành ngày 27/03/1996), Nghị định
82/1998/NĐ-CP (ban hành ngày 03/10/1998), và Nghị định 141/2006/NĐ-CP (ban hành
ngày 22/11/2006). Cụ thể, bắt đầu từ năm 1996, quy định về mức vốn điều lệ tối thiểu để
thành lập một NHTMCP khá thấp và nó thay đổi phụ thuộc tùy thuộc vào nhiều yếu tố
như ngân hàng được thành lập ở khu vực thành thị hay nông thôn, mở thêm hay không
mở thêm chi nhánh. Ví dụ, Ba tỷ VND là số vốn tối thiểu để mở một ngân hàng mà
không mở thêm chi nhánh ở khu vực nông thôn, trong khi để mở một ngân hàng ở Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh cần ít nhất số vốn lần lượt 100 tỷ VND và 150 tỷ VND.
Do những yêu cầu về vốn thấp, khả năng sinh lời tương đối tốt và tính ổn định của ngành
ngân hàng thời bấy giờ, đã có một làn sóng mạnh mẽ thành lập các NHTMCP cỡ nhỏ.
Tuy nhiên, không phải tất cả các ngân hàng nhỏ này đều hoạt động hiệu quả như mong
đợi. Đối với một vài ngân hàng, sự thiếu kiểm soát và kinh nghiệm, hoạt động cho vay
rất nhiều so với trung vị, điều này cho thấy hệ thống ngân hàng đang phân phối lệch về
phía các ngân hàng nhỏ. Khi chúng tôi so sánh quy mô của các ngân hàng đã niêm yết
(màu xanh đậm), CTG, ngân hàng lớn nhất, thậm chí cũng không thể so sánh được với
các ngân hàng trong khu vực.
Tăng trưởng huy động và tín dụng
Khu vực ngân hàng Việt Nam đã thể hiện sự tăng trưởng ấn tượng cả về huy động lẫn tín
dụng từ năm 2000. Trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2012, tỷ lệ CAGR(tốc độ tăng
trưởng hàng năm kép) là 28,87% đối với huy động và 28,28% đối với tín dụng. Tốc độ
tăng trưởng nhanh nhất diễn ra vào giai đoạn từ năm 2002 đến 2007, khi tỷ lệ CAGR đạt
37,5% đối với huy động và 35,8% đối với tín dụng. Sự tăng trưởng này đạt đỉnh vào năm
2007 ở mức 51,49% đối với huy động và 53,89% với tín dụng. Tăng trưởng của mức
cung tiền M2 đạt tỷ lệ CAGR ở mức 27,69% từ năm 2000 tới năm 2012.
Sự tăng trưởng tín dụng quá mức thường được coi là dấu hiệu của những vấn đề trong
tương lai của khu vực tài chính và không nhất thiết là một điều hay. Theo một nghiên cứu
của Schularick & Taylor (2009), sự bùng nổ tín dụng là một dự báo rõ ràng cho khủng
hoảng tài chính. Trong một khoảng thời gian kéo dài, tốc độ tăng trưởng tín dụng ở Việt
Nam gấp bốn lần tốc độ tăng trưởng GDP. Nói một cách khác, tín dụng đã tăng trưởng
quá nóng. Tốc độ tăng trưởng trong ba năm gần đây đã giảm đáng kể. Thị trường đã
chứng kiến tốc độ tăng trưởng huy động và tín dụng thấp nhất kể từ thập niên 90’. Tăng
trưởng tín dụng năm 2012 chỉ đạt 9,14%. Trong ba quý đầu năm 2013, tăng trưởng tín
dụng chỉ đạt 6,87%, thấp hơn nhiêu chỉ tiêu 12% của NHNN đặt ra, và chậm hơn nhiều
so với sự tăng trưởng huy động. Lần đầu tiên từ năm 2000, tỷ lệ tín dụng/ huy động của
toàn hệ thống ngân hàng rơi xuống thấp hơn một (đạt 0,94 vào Quý 3/2013).
Sở hữu chéo và những hệ lụy
theo đó vốn điều lệ thựcgóp của các ngân hàng phải đạt 1.000 tỷ đồng vào năm 2008 và
3.000 tỷ đồng vào năm 2010. Thôngqua sở hữu chéo, cổ đông của ngân hàng A có thể
vay tiền ngân hàng B thông qua một công ty đầutư tài chính của mình để góp vốn vào
ngân hàng A và ngược lại hoặc là ngân hàng A đầu tư vào ngânhàng B, ngân hàng B đầu
tư vào ngân hàng C và ngân hàng C lại quay lại đầu tư vào ngân hàng A.Chính điều này
đã tạo ra luồng vốn tưởng là góp thật vào hệ thống nhưng thực chất lại là vốn vay
lẫnnhau giữa các ngân hàng. Trong 4 năm qua, hàng loạt các NHTMCP đã nâng vốn điều
lệ lên 3.000 tỷđồng. Nhưng trên thực tế, quy mô của dòng vốn mới thực sự được bổ sung
vào hệ thống ngân hàng vẫn chưa được làm rõ. Với quy mô vốn điều lệ tăng, các ngân
hàng được phép huy động thêm tiền gửitrong dân cư và hàng nghìn tỷ đồng vốn huy động
mới này lại có thể được dùng để tài trợ cho nhữngdự án sân sau của chính các cổ đông
lớn của ngân hàng. Ngoài ra, sở hữu chéo làm sai lệch việc đánhgiá rủi ro của hệ thống
ngân hàng vì rất nhiều chỉ số dựa trên số vốn tự có như hệ số an toàn (CAR),hay tỷ lệ vốn
tự có/tổng tài sản, trong khi đó vốn tự có của các ngân hàng không thực chất là có quymô
như vậy mà bao gồm cả nguồn vốn ảo do sở hữu chéo. Trong những năm gần đây, tăng
trưởng tíndụng của các ngân hàng liên tục nóng khiến hệ số đòn bẩy tài chính tăng lên và
hệ số an toàn vốnCAR giảm, đồng thời tấm đệm để phòng ngừa rủi ro là vốn tự có lại
mỏng và bị gây nhiễu bởisở hữu chéo, tất cả những điều đó càng làm trầm trọng hơn
những khó khăn của hệ thống.Các chỉ số không chính xác lại dẫn đến sai lệch cả về quản
trị ngân hàng cũng như việc giámsát đối với hệ thống tài chính. Điều này là đặc biệt nguy
hiểm vì những rủi ro trong lĩnh vựcngân hàng tài chính khi bùng phát thì có sức lan tỏa
rất rộng và hậu quả nghiêm trọng chotoàn bộ nền kinh tế.
Thứ hai, sở hữu chéo có thể làm gia tăng việc cho vay thiếu kiểm soát. Đối vớicác doanh
nghiệp (hay ngân hàng) là cổ đông lớn của ngân hàng, sở hữu chéo cho phép mộtdoanh
nghiệp (hay ngân hàng) có tỷ lệ cổ phần lớn trong các NHTM có thể gây áp lực (mộtcách
hợp pháp như qua bỏ phiếu trong hội đồng quản trị với vị thế cổ đông chiến lược) để
ngânhàng này cấp vốn đầu tư vào những dự án không đủ tiêu chuẩn của doanh nghiệp
hay ngânhàng của mình. Hay nói các khác, khi một TCTD lớn chiếm cổ phần chi phối
ngân hàng khácvà biến ngân hàng này thành “sân sau” của mình, họ có thể buộc ngân
hàng bị chi phối cấptín dụng cho những dự án rủi ro hoặc cho doanh nghiệp có quan hệ
định các ngân hàng thương mại căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán
các khoản vay vào các nhóm thích hợp. Như vậy nợ xấu theo pháp luật Việt Nam xác
định theo 2 phương pháp: (i) phương pháp định lượng dựa vào tính chất quá hạn của
khoản nợ và (ii) phương pháp định tính căn cứ theo khả năng trả nợ đáng lo ngại.
Xét về bản chất, nợ xấu ngân hàng là do khách hàng vay vốn sử dụng vốn vay không hiệu
quả, nó thường phát sinh sau một chu kỳ vay vốn, thậm chí sau một thời gian dài. Do đó
nợ xấu là vấn đề tồn tại từ lâu trong hoạt động của các TCTD. Tuy nhiên, trong thời gian
gần đây nợ xấu của hệ thống các TCTD đang có chiều hướng gia tăng nhanh. Trong giai
đoạn 2008-2011, tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng bình quân 26,56% nhưng tốc độ tăng
trưởng nợ xấu bình quân 51%. Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng từ năm 2011 chậm lại
đáng kể, đặc biệt là 5 tháng đầu năm 2012 dư nợ tín dụng không tăng nhưng nợ xấu tăng
tới 45,5% do tình hình kinh doanh và tài chính của các doanh nghiệp suy giảm mạnh. Và
theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, tính đến tháng 9 năm 2012 tỷ lệ ngành ngân hàng
là 4,9 %. Tuy nhiên, theo báo cáo của Ủy ban Kinh tế về đánh giá tình hình kinh tế xã hội
2012 – 2013 ra ngày 19/10/2012, tỷ lệ nợ xấu theo cơ quan thanh tra của NHNN đưa ra
tại cuối quý 2 năm 2012 là 8,82%, cao hơn con số 8,6% vào cuối quý 1 năm 2012 và cao
hơn nhiều con số báo cáo từ các TCTD (4,49%) tại cùng thời điểm. Trong khi đó, nợ xấu
của nhiều ngân hàng vẫn tiếp tục tăng lên trong quý 3
-
Bảng 1. Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành (Nguồn: SBV.VCBS Tổng hợp)
III.
Xu hướng phát triển của NHTM trong thời kỳ hội nhập
Hoạt động của các NHTM VN sẽ tiếp tục chịu ảnh hưởng không chỉ của nền kinh tế
•
Khả năng thanh toán, vốn và thanh khoản
•
Chủ sở hữu mạnh.
Điều đó có nghĩa là, để nâng cao năng lực cạnh tranh, việc tăng vốn là rất cần
nhưng chưa đủ mà cần phải tạo năng lực và động lực để cạnh tranh.
o Thứ hai , về chất lượng dịch vụ ngân hàng : Các dịch vụ mà các NH VN đang
cung cấp hiện nay, dù đã được đa dạng hoá nhưng vẫn đơn điệu, chủ yếu vẫn là
các sản phẩm truyền thống. Các dịch vụ NH hiện đại chưa phát triển hoặc phát
triển nhưng đồng bộ. Rất nhiều dịch vụ phát triển chưa xứng với tiềm năng, đặc
biệt là các dịch vụ bán lẻ, dịch vụ dành cho khách hàng thượng lưu, dịch vụ quản
lý tài sản, tư vấn và hỗ trợ tài chính, trung gian tiền tệ, trao đổi công cụ tài chính,
cung cấp thông tin tài chính và dịch vụ chuyển đổi. Hoạt động NH đầu tư và kênh
phân phối điện tử đã tăng trưởng nhanh chóng nhưng tính tiện tích và hiệu quả
kinh tế chưa cao. Các hoạt động tiền tệ, lãi suất, công cụ tỷ giá, công cụ phát sinh
ngoại hối, đầu tư vẫn trong giai đoạn đầu.
Dịch vụ NH được cải tiến mạnh mẽ nhữn hạn chế, phát triển dịch vụ ngân hàng
về số lượng, chất lượng và khả năng tiếp cận.
o Thứ ba, về năng lực quản trị và công nghệ : Đến nay công tác quản trị rủi ro đối
với mỗi NH tuy đã được chú trọng, nhưng chưa thực sự trở thành công cụ hữu
hiệu phục vụ quản trị điều hành. Tình trạng vay mượn với lãi suất lên xuống thất
thường trên thị trường tiền tệ liên NH trong thời gian qua suy cho cùng đều bắt
Thứ ba, ngân hàng phải đảm bảo độ an toàn tài chính. Độ an toàn tài chính của
một ngân hàng thương mại thể hiện rõ nhất qua hai hệ số: tỷ lệ nợ xấu và tỷ trọng
vốn tự có trên tổng tài sản có điều chỉnh rủi ro. Tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống
ngân hàng thương mại Việt Nam đã giảm rõ rệt trong những năm qua. Theo tiêu
chuẩn mới của quyết định 4932 , tỷ lệ nợ xấu giữa năm 2005 do các ngân hàng
thương mại tự xác định là trên 5%, do Ngân hàng Nhà nước phúc tra thì trên mức
7%; đến cuối năm 2005 giảm xuống chỉ còn 3,2%. Kết quả đó là do các tổ chức
tín dụng đã sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý. Tuy nhiên, tỷ trọng vốn tự có trên
tổng tài sản có điều chỉnh rủi ro của toàn hệ thống chưa đạt được 8% (tỷ lệ an
toàn vốn tối thiểu). Thực tế cho thấy, chính các ngân hàng thương mại cổ phần lại
đạt được yêu cầu an toàn vốn tối thiểu 8% trong giai đoạn 2007 - 2008 theo hiệp
ước Basel Việt Nam đã ký kết với IMF, trong khi 5 ngân hàng thương mại nhà
nước lại cần rất nhiều nỗ lực mới đạt được tỷ lệ này. Sau khi các ngân hàng
thương mại nhà nước được NHNN VN cấp bổ sung 12.000 tỷ đồng vốn điều lệ,
các ngân hàng này mới đạt được yêu cầu an toàn vốn 4,5%. Các ngân hàng của
Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản và Châu Âu đều đã đạt tỷ lệ từ 10 đến 14%.
Thứ tư, các ngân hàng phải có uy tín cao và nắm giữ thị phần lớn trên thị trường.
Tuy hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hiện đang giữ vai trò chủ đạo
trong việc cung ứng dịch vụ ngân hàng so với các định chế tài chính khác trên thị
trường dịch vụ ngân hàng, nhưng thị phần huy động vốn và cho vay đang có xu
hướng giảm. Hơn nữa, trong một cuộc khảo sát gần đây do Chương trình Phát
triển Liên hợp quốc UNDP phối hợp với Bộ Kế hoạch và đầu tư cho thấy uy tín
của các ngân hàng thương mại Việt Nam đang có nguy cơ giảm sút nghiêm trọng
khi có đến 42% doanh nghiệp, 50% dân chúng được hỏi đều cho rằng họ sẽ lựa
chọn vay ở các ngân hàng nước ngoài và 50% doanh nghiệp, 62% dân chúng sẽ
lựa chọn ngân hàng nước ngoài để gửi tiền khi chúng ta hội nhập đầy đủ với thị
trường tài chính trong khu vực và thế giới.