MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Trong xu thế phát triển kinh tế xã hội, với vận tốc đô thị hóa ngày càng tăng và sự
phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch… kéo theo mức sống của
người dân ngày càng cao đã làm nảy sinh nhiều vấn đề mới, nan giải trong công tác bảo vệ
môi trường và sức khỏe cộng đồng dân cư. Lượng chất thải phát sinh từ những hoạt động
sinh hoạt của người dân ngày một nhiều hơn, đa dạng hơn về thành phần và mức độ nguy
hại về tính chất.
Một trong những phương pháp xử lý chất thải rắn được coi là kinh tế nhất cả về đầu
tư cũng như chi phí vận hành là xử lý chất thải rắn theo phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh.
Đây là phương pháp xử lý chất thải rắn phổ biển nhất ở các quốc gia đang phát triển và
thậm chí đối với nhiều quốc gia phát triển. Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay nhiều bãi chôn
lấp vẫn chưa được thiết kế và xây dựng theo đúng yêu cầu của một bãi chôn lấp hợp vệ
sinh. Các bãi này đều không kiểm soát được khí độc, mùi hôi và nước rỉ rác là nguồn lây
1
nhiễm tiềm tàng cho môi trường đất, nước và không khí, do vậy chưa được coi là bãi chôn
lấp hợp vệ sinh.
Với nhiệm vụ môn học đề ra, đồ án này sẽ giới thiệu về bãi chôn lấp rác thải sinh
hoạt hợp vệ sinh cho một đô thị 750 nghìn dân.
CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT VÀ CÁC KỸ
THUẬT XỬ LÝ
I.1. Đặc trưng chất thải rắn sinh hoạt ở đô thị
I.1.1. Định nghĩa
Theo điều 3, chương I của Luật BVMT 2014, thuật ngữ chất thải được định nghĩa
như sau: “Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc
tổng lượng CTR sinh hoạt phát sinh từ tất cả các đô thị tương ứng khoảng 8.000 tấn/ngày
(2,29 triệu tấn/năm) (Biểu đồ 1.1). Tuy nhiên, chỉ số phát sinh CTR sinh hoạt tính bình
quân trên đầu người lớn nhất xảy ra ở các đô thị phát triển du lịch như các thành phố: Hạ
Long, Hội An, Đà Lạt, Ninh Bình,... Các đô thị có chỉ số phát sinh CTR sinh hoạt tính bình
quân đầu người thấp nhất là ở Tp. Đồng Hới (Quảng Bình), Thị xã Gia Nghĩa, Thị xã Kom
Tum, Thị xã Cao Bằng (Bảng 1.2).
Bảng 1.1. Lượng CTR sinh hoạt phát sinh ở các đô thị Việt Nam năm 2007 [1]
3
Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt tại các đô thị Việt Nam năm 2007 [1]
Nguồn: Dự án “Xây dựng mô hình và triển khai thí điểm việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt
cho các khu đô thị mới”. Cục BVMT, 2008.
Bảng 1.2: Chỉ số phát sinh CTR sinh hoạt bình quân đầu người của các đô thị năm
2009 [1]
4
I.1.4. Thành phần chất thải rắn sinh hoạt ở đô thị
Thành phần CTR sinh hoạt phụ thuộc vào mức sống ở một số đô thị. Mức sống, thu
nhập khác nhau giữa các đô thị đóng vai trò quyết định trong thành phần CTR sinh hoạt
(Bảng 1.3).
Bảng 1.3: Thành phần CTR sinh hoạt tại đầu vào của các bãi chôn lấp của một số địa
phương Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, TP. HCM (1) và Bác Ninh (2) năm 20092010 [1]
5
rộng rãi vì nhiều lý do như chưa đủ nguồn lực tài chính để mua sắm trang thiết bị, đầu tư
cơ sở hạ tầng cũng như nguồn nhân lực thực hiện, đặc biệt là thói quen của người dân.
I.1.6.2. Hình thức thu gom
Công tác thu gom thông thường sử dụng 2 hình thức
-
Thu gom sơ cấp: người dân tự thu gom vào các thùng rác đẩy tay cỡ nhỏ
Thu gom thứ cấp: rác các hộ gia đình được công nhân thu gom vào các xe đẩy sau đó
chuyển đến các xe ép rác chuyên dụng và chuyển đến các khu xử lý hoặc tại các chợ/ khu
dân cư có đặt con-tainer chứa rác, công ty môi trường đô thị có xe chuyên dụng chở
container đến khu xử lý
I.1.6.3. Tỷ lệ thu gom
Tỷ lệ thu gom trung bình ở các đô thị từ 72% năm 2004 tăng lên khoảng 80-82%
năm 2008 và đạt 83-85% cho năm 2010. Mặc dù tỷ lệ thu gom có tăng nhưng vẫn còn
7
khoảng 15-17% CTR đô thị bị thải ra môi trường vứt vào bãi đất, hố đất, ao hồ, hoặc đốt lộ
thiên gây ô nhiễm môi trường.
Bảng 1.4: Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt của một số đô thị năm 2009 [1]
I.1.7. Ảnh hưởng của chất thải rắn tới môi trường và sức khỏe cộng đồng
+
Ảnh hưởng tới môi trường:
Là nơi dễ phát sinh các ổ dịch bệnh do CTR bị phân hủy thiếu kiểm soát.
8
thường và bùn nhão. Điều cần lưu ý là đới với các ô dùng để chôn lấp ướt và kết
hợp, bắt buộc không cho phép nước rác thấm đến nước ngầm trong bất cứ trường
hợp nào.
- Bãi chôn lấp nổi: là bãi chôn lấp xây nổi trên mặt đất ở những nơi có địa
hình bằng phẳng hoặc không dốc lắm, chất thải được chất thành đống cao đến 15m.
Trong trường hợp này xung quanh bãi phải có các đê và đê phải không thấm để
ngăn chặn quan hệ nước thải với nước mặt xung quanh.
- Bãi chôn lấp chìm: là loại bãi chìm dưới mặt đất hoặc tận dụng điều kiện địa
hình tại các khu vực có ao hồ tự nhiên, các mỏ khai thác, các hào rãnh hay thung
lũng có sẵn. Trên cơ sở đó kết cấu các lớp lót đáy bãi và thành bãi có khẳ năng
chống thấm. Rác thải sẽ được chôn lấp theo phương thức lấp đầy.
- Bãi chôn lấp kết hợp chìm nổi: là loại bãi xây dựng nửa chìm nửa nổi, chất
thải không chỉ được chôn lấp đầy hố mà sau đó tiếp tục được chất đống lên trên.
Bãi chôn lấp dạng này tiết kiệm nhiều diện tích và có nhiều ưu điểm.
Nguyên tắc vận hành
- Toàn bộ rác chôn lấp được đổ thành từng lớp riêng rẽ. Độ dày của mỗi lớp
không quá 60 cm
- Khi các lớp rác đã dầm nén xong và gò rác đạt được độ cao thích hợp thì
phủ một lớp đất hoặc vật liệu tương tự khác dày khoảng 10-15 cm.
9
Rác cần được phủ đất sau 24 tiếng vận hành, không được để quá thời gian
quy định
- Tiến hành những biện pháp phòng ngừa để đảm bảo sâu bọ không thể sống
trong bãi được.
- Cần đào tạo và có được đầy đủ số lượng công nhân.
Phương pháp vận hành bãi chôn lấp
Thực tế việc đổ rác, đầm nén và phủ bãi có thể được tiến hành theo một vài
cách. Sự quyết định áp dụng phương pháp vận hành bãi phụ thuộc vào phương
bị lọc túi. Khói lò sau khi đã được lọc sẽ được quạt hút ra ngoài qua ống khói. Tro và xỉ
được thải qua ghi lò.
-
-
I.2.3. Phương pháp vi sinh
Mục đích chung của quá trình sản xuất phân vi sinh:
Chuyển đổi các chất hữu cơ dễ phân pủy bằng sinh học thành các chất ổn định sinh học và
làm giảm thể tích ban đầu của chất thải.
Tiêu diệt các tác nhân bệnh, các trứng côn trùng, các sinh vật không mong muốn và các hạt
cỏ dại.
Duy trì hàm lượng chất dinh dưỡng tối đa N, P, K.
Sản xuất ra các sản phẩm sử dụng giúp cho cây trồng trưởng thành và đất thêm màu mỡ.
Mô tả quá trình:
Quá trình chế biến phân vi sinh luôn xuất hiện trong thiên nhiên.
Phương pháp đơn giản nhất là ủ thành luống dưới độ sâu từ 2 đến 3 ft cùng với
phân súc vật, đất, cỏ,... Trong suốt quá trình ủ chỉ đảo 2 lần. Thời gian cho mỗi mẻ có thể
kéo dài từ 6 tháng hoặc lâu hơn. Thông thường, thời gian ủ phân vi sinh theo công nghệ
hiện đại kéo dài khoảng 4 đến 5 tuần. Thời gian đảo trộn 2 lần trong 1 tuần. Trong thời
gian này, thành phần dễ phân hủy sinh học sẽ được phân hủy bởi nhiều loại vi sinh vật
khác nhau.
I.3. Các ưu, nhược điểm của phương pháp chôn lấp rác hợp vệ sinh
Phương pháp chôn lấp rác hợp vệ sinh có ưu điểm:
Chi phí đầu tư thấp so với các phương pháp xử lý chất thải rắn
Sau một thời gian 5-10 năm lúc đất được lấp đầy có thể xây dựng các công trình trên đó.
Nhược điểm của phương pháp là:
Đòi hỏi diện tích đất nhiều hơn so với các phương pháp khác
Có thể gây ô nhiễm nước ngầm
-
Rác thải chợ, đường phố
-
Giấy, bìa, cành cây nhỏ và lá cây
-
Tro, củi gỗ mục, vải, đồ da (trừ phế thải da có chứa crom)
-
Rác thải từ văn phòng, khách sạn, nhà hang ăn uống
-
Phế thải sản xuất không nằm trong danh mục rác thải nguy hại từ các ngành
công nghiệp (chế biện lương thực, thực phẩm, thực sản, rượu bia giải khát, giấy,
giày, da…)
-
Bùn sệt thu được từ các trạm xử lý nước (đô thị và công nghiệp) có cặn khô
lớn hơn 20%.
-
Phế thải nhựa tổng hợp
12
II.1.3.2. Các công trình chủ yếu
Các công việc thiết kế cơ bản của một bãi chôn lấp chất thải rắn của bất kỳ một đô
thị nào cũng phải bao gồm :
-
Dọn mặt bằng
-
Định hướng nước chảy
-
Lót đáy (lớp chống thấm)
-
Đường ra vào
-
Rào chắn, biển hiệu
-
Hình thành đê, kè
hẹp để có thể đổ rác được đầy mương vào cuối ngày
13
Nếu các mương được đào thành các hang vuông góc với hướng gió thì sẽ làm giảm
lượng rác thải bay bừa bãi bởi gió. Đất đào có thể sử dụng làm bờ thềm tạm thời trên mặt
mương để định hướng dòng nước chảy bề mặt. Đất có sét không thấm nước và mạch nước
ngầm thấm là thích hợp đối với phương pháp mương rãnh. Độ sâu của mương tùy thuộc
vào các điều kiện địa chất của đất và mạch nước ngầm. Thông thường độ sâu của mương
khoảng 4-5m.
Quá trình vận hành của phương pháp mương rãnh đắt hơn nhiều so với phương
pháp bề mặt do chi phí do việc đào mương và sử dụng thiết bị chuyên dung. Một chi phí
khác nữa là việc vận chuyển đất thừa được đào lên (cứ 1000m 2 đất được đào thì phải
chuyên chở đi 800m3 đất thừa).
II.1.4.3. Phương pháp hồ chứa (lợi dụng hiện tượng sụt lún)
Đây là phương pháp sử dụng những hố nhân tạo hoặc tự nhiên cho hoạt động chôn
lấp rác (Ví dụ: hố đã khai thác đất, khai thác mỏ…). Phương pháp hồ chứa thường sử dụng
bề mặt đất tự nhiên.
Việc đổ rác bắt đầu từ độ cao của hố và kết thúc ở đầu thấp để tránh ứ đọng nước
và tạo một đập tự nhiên cho đống rác tỳ vào để bắt đầu đầm nén. Hố đổ rác thường thấp
hơn so với địa hình xung quanh nên gặp rất nhiều khó khăn cho việc kiểm soát nước bề
mặt. Các hố khai thác thường thiếu vật liệu phủ nên sự có sẵn vật liệu phủ là mối quan tâm
chính khi chọn bãi chôn lấp phế thải theo phương pháp này.
II.2. Các yếu tố cần xem xét khi lựa chọn bãi chôn lấp
II.2.1. Quy mô bãi
Quy mô bãi chôn lấp chất thải phụ thuộc vào quy mô của đô thị như dân số, lượng
rác thải phát sinh, đặc điểm rác thải… Có thể căn cứ vào đặc điểm đô thị Việt Nam có tính
đến khả năng phát triển đô thị để phân loại quy mô bãi và có thể tham khảo theo bảng 2.1.
Bảng 2.1: Phân loại quy mô bãi chôn lấp chất thải rắn đô thị [2]
(năm)
1
Loại nhỏ
5-10
20.000
5
< 10
2
Loại vừa
100-350
65.000
10-30
10-30
3
Loại lớn
thải. Điều này tùy thuộc vào bãi đất, điều kiện kinh tế, địa hình, xe cộ thu gom rác thải.
Đường xá đi đến nơi thu gom rác thải phải đủ tốt và đủ chịu tải cho nhiều xe tải hạng nặng
đi lại trong cả năm. Tác động của việc mở rộng giao thông cũng cần được xem xét.
Bảng 2.2: Khoảng cách thích hợp khi lựa chọn bãi chôn lấp [3]
Các công trình
1
Đô thị
Sân bay, các khu
công nghiệp, hải
cảnh
Cụm dân cư ở
đồng bằng và
trung du
Đặc điểm và quy
mô công trình
2
Các thành phố, thị
xã, thị trấn, thị tứ…
Từ quy mô nhỏ đến
lớn
Khoảng cách tối thiểu từ vành đai công trình tới các bãi
chon lấp (m)
Bãi chôn lấp vừa
Bãi chôn lấp rất
Bãi chôn lấp lớn
Cụm dân cư ở
miền núi
Công trình khai
thác nước ngầm
Các hướng khác
Theo khe núi (có
dòng chảy xuống)
Không cùng khe núi
Công suất 5000
Không quy định
Không quy định
Không quy định
Không được đặt vị trí bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh ở những nơi có tiềm năng ngước
-
ngầm lớn.
Bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh phải có một vùng đệm rộng ít nhất 50m cách biệt với
-
bên ngoài. Bao bọc bên ngoài vùng đệm hàng rào bãi.
bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh phải hòa nhập với cảnh quan môi trường tổng thể trong
vòng bán kính 1.000m.
II.2.3. Địa chất công trình và thủy văn
Địa chất tốt nhất là có lớp đã nền chắc và đồng nhất, nên tránh vùng đá vôi và tránh
các vết nứt kiến tạo, vùng đất dễ bị rạn nứt. Nếu lớp đã nền có nhiều vết nứt và vỡ tổ ong
thì điều cực kỳ quan trọng là đảm bảo lớp phủ bề mặt phải dày và thẩm thấu chậm. Việc
lựa chọn vật liệu phủ bề mặt phù hợp là rất cần thiết trong suốt thời gian hoạt động của bãi
thải. Đất cần phải mịn để làm chậm quá trình rò rỉ. Hàm lượng sét trong đất càng cao càng
tốt để tạo ra khả năng hấp thụ cao và thẩm thấu chậm. Hỗn hợp giữa đất sét bùn và cát là lý
tưởng nhất. Không nên sử dụng cát sỏi và đất hữu cơ. Dòng chảy nước mặt cần tập trung
tại một nơi. Cần kiểm soát sự chuyển dịch của mạch nước ngầm và biết chắc chắn tất cả
các giếng sử dụng làm nước uống khu vực.
Khi xem xét cần sử dụng bản đồ địa chất, thủy văn, địa hình đồng thời tham khảo ý
kiến của cơ quan địa phương đang hoạt động trong lĩnh vực này.
II.2.4. Những khía cạnh môi trường
Quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ tại bãi chôn lấp có thể gây ra một số nguy
hại cho môi trường. Các nguy hại này bao gồm:
16
CHƯƠNG III:
TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ BÃI CHÔN LẤP
III.1. Tính toán lượng rác thải và quy mô bãi chôn lấp
III.1.1. Dự đoán tốc độ tăng dân số
Dựa vào tốc độ tăng dân số bình quân của Thành phố Đà Nẵng, đánh giá mức độ
tăng dân số của khu vực này. Dự báo tốc độ tăng dân số tự nhiên khoảng 2,96%/ năm
[4] và dân số thành thị trung bình năm 2009 của Đà Nẵng là 777 nghìn người [4], phù
hợp với quy mô dân số theo đề tài đồ án được giao
Dân số được dự báo theo công thức sau:
Nn = Nn-1+Nn-1*K
Trong đó:
Nn: dân số dự báo ở năm cần tính
Nn-1: số dân năm trước đó
K: tỷ lệ tăng dân số bình quân
III.1..2. Dự báo khối lượng chất thải rắn sinh hoạt bình quân đầu người
18
Trong tương lai, việc dự báo lượng rác bình quân của một người thải ra trong
ngày sẽ dựa vào thu nhập bình quân trên đầu người của thành phố Đà Nẵng. Với xu
hướng phát triển như vậy, tương lai lượng rác thải phát sinh của thành phố Đà Nẵng sẽ
giống với thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, thành phố Hồ Chí Minh được chọn để so sánh
và tính toán dự báo lượng rác bình quân của một người thải ra trong ngày của thành
phố Đà Nẵng cho tương lai.
Thu nhập bình quân hàng tháng của lao động khu vực Đà Nẵng năm 2010 là
2315,6 nghìn đồng tương đương với thu nhập bình quân hàng tháng của lao động khu
vực Hồ Chí Minh năm 2007 là 2415,2 nghìn đồng. Với sự so sánh trên, phương pháp tính
toán lượng rác bình quân của một người thải ra trong ngày trong tương lai của thành
phố Đà Nẵng như sau:
Tổng lượng rác 20 năm sẽ bằng tổng lượng rác qua các năm (2016-2035)
19
Bảng 3.1: Số dân và khối lượng rác qua các năm
Năm
Số dân (nghìn
người)
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
2016
2017
2018
2019
2020
2021
2022
2023
2024
2025
2026
2027
2028
0,99
1,03
1,07
1,11
1,15
1,19
1,23
1,27
1,31
1,35
1,39
1,43
1,47
1,51
1,55
1,59
20
Lượng rác phát
thải
(tấn/người/nă
m)
302,95
317,55
332,15
346,75
361,35
375,95
390,55
405,15
628171,1
664856,3
703162,8
743154,6
784897,9
2029
2030
2031
2032
2033
2034
2035
1392,489
1433,706
1476,144
1519,838
1564,825
1611,144
1658,834
1,63
1,67
1,71
1,75
1,79
1,83
1,87
Diện tích phần chôn lấp rác thải chiếm khoảng 75% tổng diện tích cần thiết, 25%
diện tích là dành cho hệ thống nhà phụ trợ, khu xử lý nước thải, đường bao, diện tích cây
xanh…. Như vậy, tổng diện tích bãi chôn lấp cần thiết là khoảng 86 ha.
III.1.4. Tính toán diện tích các ô chôn lấp
Theo TCXDVN 261:2001 bãi chôn lấp dự kiến của thành phố Đà Nẵng thuộc loại
rất lớn. Diện tích ô chôn lấp > 25.000 m 2. Kích thước các ô chôn lấp nên thiết kế sao cho
mỗi ô vận hành không quá 3 năm phải đóng cửa và chuyển sang ô chôn lấp mới. [6]
Bãi chôn lấp hoạt động trong 4 giai đoạn:
-
Giai đoạn 2016-2020: Lượng rác thải cần chôn lấp là 2.200.227 (tấn). Diện
tích cần chôn lấp cho giai đoạn 1 là 9,9 ha. Chia làm 3 ô chôn lấp, mỗi ô có diện
tích 3,3 ha.
-
Giai đoạn 2021-2025: Lượng rác thải cần chôn lấp là 2.972.732 (tấn). Diện
tích cần chôn lấp cho giai đoạn 2 là 13,4 ha. Chia làm 3 ô chôn lấp, mỗi ô có diện
tích 4,5 ha.
-
Giai đoạn 2026-2030: Lượng rác thải cần chôn lấp là 3.933.592 (tấn). Diện
tích cần chôn lấp cho giai đoạn 3 là 17,7 ha. Chia làm 4 ô chôn lấp, mỗi ô có diện
tích 4,5 ha.
21
-
ga có hai thành phần chủ yếu là CH 4 và CO2 trong đó CH4 có khoảng từ 50-60% và chiếm
CO2 khoảng 40-50%.
Khí metan có thể trở thành mối nguy hiểm gây cháy, nổ, ô nhiễm môi trường ở bãi
chôn lấp và các khu vực xung quanh. Vì vậy việc kiểm tra khí bằng phương pháp thoát tán
hoặc thu hồi và chuyển thành nguồn năng lượng là một phần quan trọng trong thiết kế và
vận hành bãi chôn lấp phế thải hợp vệ sinh vì vậy các bãi chôn lấp rác thải hợp vệ sinh nhất
thiết phải có một hệ thống thu gom và xử lý tất cả các khí sinh học sinh ra từ bãi đảm bảo
yêu cầu giới hạn cho phép sao cho: Nồng độ của khí metan sinh ra không được vượt quá
25% giới hạn thấp về cháy nổ - LEL - “Lower Explosive Level”, có nghĩa là nồng độ
metan sinh ra không được vượt quá 1,25% theo thể tích ở những nơi sau:
-
Ở bên trong nhà, hoặc các công trình thuộc phạm vi bãi chôn lấp
-
Trong không khí xung quanh thuộc phạm vi bãi chôn lấp
Thuật ngữ “ giới hạn thấp về cháy nổ” được hiểu là ở nồng độ thấp, tính theo thể
tích, một chất khí trong hỗn hợp khí ở nhiệt độ 25ºC và ở áp suất 101,325 kPa sẽ gây ra
cháy trong không khí.
22
Ngoài ra, trong thành phần của khí còn chứa một số khí khác nữa như hydrocacbon
(CH2), toluene (C6H5CH3), Benzen (C6H6) trong điều kiện bãi chôn lấp hoạt động ổn định
sau thời gian hoạt động từ 1-2 năm.
Tốc độ sản sinh khí ở bãi chôn lấp phụ thuộc vào một số yếu tố sau:
-
tạo khí metan trong phế thải.
-
Nếu có hiện tượng thiếu hụt dinh dưỡng có thể bù đắp bằng cách phun lên
phế thải bùn đặc biệt vét từ cống ngầm.
-
Đảm bảo lớp bùn đất phủ phải dày và lèn, nén chặt chống thẩm thấu khí qua
tầng đất phủ.
Thể tích và thành phần khí bãi rác tạo ra thay đổi theo thời gian và tùy thuộc và
thành phần rác. Chất thải thực phẩm, lá cây, cỏ, các loại giấy phân hủy sinh học nhanh, còn
chất dẻo, cao su, da, gỗ phân hủy chậm.
III.2.2. Xác định lượng khí hình thành
Lượng khí bãi rác hình thành ở bất kỳ bãi chôn lấp nào phụ thuộc vào thành phần
và đặc tính của loại chất thải đem chôn lấp, vào điều kiện khí hậu và nhiệt độ của khu vực
bãi…
Lượng khí rác sinh ra thay đổi theo thời gian được xác định theo mô hình tam giác
và được áp dụng để tính cho các ô chôn lấp của bãi rác.
23
Khối lượng khí rác sinh ra bằng tổng lượng khí phát sinh từ quá trình phân hủy
nhanh và lượng khí phát sinh từ quá trình phân hủy chậm.
Khối lượng khí rác được tính bằng diện tích tam giác mà đáy của tam giác là thời
gian để phân hủy hết chất hữu cơ, đường cao của tam giác là tốc độ sinh khí cực đại.
Lượng rác thải đem chôn lấp ở bãi rác sinh hoạt là 14.229.464 tấn. Ta xác định
Cao Su
Da
Tổng
2,79
11,36
1,55
0,1
0,13
15,93
Độ ẩm trung Khối lượng ướt
bình %
(tấn)
Phần phân hủy nhanh
70
9.742.914
6
721.433,8
10.464.347,8
Phần phân hủy chậm
20
397.002,046
0,2
1.616.467,1
10
220.556,7
2
14.229,5
10
60
55
60
78
H
6,4
6
6
6,4
6,6
8
10
% trọng lượng theo trạng thái khô
O
N
S
37,6
2,6
0,4
44
0,3
0,2
42,7
0,2
0,1
40
2,2
0,2
Gỗ
Nhựa
Vải
Cao su
Da
Tổng
C
H
1.402.979,
6
23.735,2
1.426.714,
8
15.721.8
967.940,5
109.175,6
9.989,084
10.877
1.255.195
O
N
Phần phân hủy nhanh
1.099.000,
187.063,9
40.688,9
13.047,8
186.832,6
317,6
3.226,47
297,75
66,59
3.908,42
4.764,025
51.623,49
4.863,275
1.664,847
1.394,847
64.310
Bảng 3.5: Thành phần số mol của các nguyên tố
Thành phần
Khối lượng nguyên tử
C
12,01
Phần PHN
Phần PHC
118.793,9
34
31
H
40
40
O
16
15
N
1
1
Ta có, công thức hóa học tổng quát với phần chất hữu cơ phân hủy sinh học nhanh
là: C34H40O16N, và công thức tổng quát với phần chất hữu cơ phân hủy sinh học chậm là
C31H40O15N.
III.2.2.1. Xác định lượng khí hình thành từ PHN và PHC
25